1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Đến với văn học Mỹ La tinh, điều khiến người đọc chúng ta không khỏi ngạc
nhiên đó chính là một nền văn học phong phú với nhiều thể loại và gắn liền với mỗi
một thể loại là một tên tuổi lớn, những con người đầy tài năng, góp phần không nhỏ
cho nền văn học chung của nhân loại.
Từ khi ra đời đến nay, văn học Mỹ La Tinh cũng như nhiều nền văn học của
các nước trên thế giới cũng đã trải qua những thăng trầm, biến cố và rồi chính
những trở ngại đó đã trở thành một tiền đề để tạo dựng nên một nền văn học có giá
trị và tầm ảnh hưởng lớn như ngày hôm nay.
Gabriel Garcia Márquez là một trong những nhà văn lớn của văn học Mỹ
Latinh hiện đại và sáng tác của ông tiêu biểu cho tiểu thuyết hiện thực huyền ảo
châu Mỹ Latinh từ sau đại chiến thế giới II. Trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của
mình nhà văn đều xoay quanh trục chủ đề chính: Cái cô đơn, cái cô đơn được hiểu
là mặt trái của tình đoàn kết, lòng yêu thương giữa con người với con người. Đó là
tình trạng, lạc hậu, cổ hủ, trì trệ đến mục ruỗng của xã hội. Ở tác phẩm của Gabriel
Garcia Márquez còn có một tầng nghĩ ẩn sâu mà mới đọc qua một lần không thể
thấy được, đó là tiếng gọi đoàn kết yêu thương giữa con người, đó là đòi hỏi một
loại người mới đối lập với loại người mới chưa thành người. Với chủ đề này nhà
văn đã miêu tả sự sụp đổ không thể tránh khỏi của hình thái kinh tế xã hội mới. Nói
cách khác nhà văn đã thể hiện mặc cảm khải huyền trước thực tại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên con người xã hội của châu Mỹ Latinh một cách độc đáo. Một trong
những thành công giúp nhà văn thể hiện chủ đề này phải nói đến nghệ thuật kể
truyện đặc sắc, tinh tế của tác giả đã đưa đến cho ông những thành công rực rỡ, dù ở
thể loại nào đi chăng nữa truyện ngắn hay tiểu thuyết thì Gabriel Garcia Márquez
đều có cách kể rất độc đáo thu hút được người đọc. Chính sự hấp dẫn của các tiểu
thuyết của Mackex, tôi quyết định chọn đề tài “ văn hóa của Mỹ La Tinh qua tác
phẩm trăm năm cô đơn”. Qua việc nghiên cứu này tôi muốn tìm hiểu hơn về tác giả
2
và tác phẩm trăm năm cô đơn và giá trị văn hóa mà tác phẩm này để lại cho chúng
Khánh, Lê Sơn, Thi Nguyên, Đinh Công Bắc, Đinh Quang Trung … từ các bài viết
của các tác gia nước ngoài. Cuốn sách đã giới thiệu cho ta một cách rõ nét về tình
hình phát triển của nền văn học Mỹ Latinh, trong đó cũng giới thiệu một cách khái
quát về tác giả G. Marquez và tiểu thuyết Trăm năm cô đơn.
Đào Thị Thu Hằng trong bài viết Yếu tố huyền ảo trong tác phẩm Kawabata
và Marquez trong cuốn Văn học so sánh – nghiên cứu và triển vọng, Trần Đình Sử,
Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh (tuyển chọn), Nxb ĐHSP, 2005. Tác giả đã so sánh
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong sáng tác của hai nhà văn nói trên và qua đó đã
khám phá đặc sắc về không gian và thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn.
Tuy nhiên bài viết vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể về cuốn tiểu thuyết Trăm
năm cô đơn.
Đỗ Xuân Hà trong bài viết tiểu thuyết hiện thực huyền ảo: Trăm năm cô đơn
của Gabriel Garcia Marquez trong cuốn Văn học thế giới thế kỉ XX, Nxb
ĐHQGHN, 2006. Trong bài viết này, Đỗ Xuân Hà thông qua những nét tiêu biểu
nhất về con người cũng như những sáng tác của G.Marquez, nêu lên một số thành
tựu của G.Maquez trong Trăm năm cô đơn trên các mặt nội dung và nghệ thuật và
chỉ ra phương pháp sáng tác trong Trăm năm cô đơn là Chủ nghĩa huyền ảo kết hợp
với Chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo và các yếu tố hoang đường. Bên cạnh những cái có
thực trong đời sống xã hội của Mỹ Latin thời bấy giờ, tác giả cũng đã phân tích
những yếu tố kì ảo trong tác phẩm và chỉ ra những đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu
như: sự kết hợp nhiều loại thời gian trong quá trình kể chuyện của tác giả, nghệ
thuật cá tính hóa nhân vật làm cho người đọc không bị nhầm lẫn giữa các nhân vật
trùng tên nhau, thông qua đó ông chỉ những thành công của Maquez trong việc thể
hiện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Và phải kể đến cuốn chuyên luận về Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và
Gabrile Garcia Marquez của Lê Huy Bắc, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009. Tác giả
đã tóm lượt được nội dung của tiểu thuyết Trăm năm cô đơn một cách cụ thể và
4
khái quát nhất qua từng chương để người đọc có thể hình dung được, Ngoài ra còn
đi sâu vào nghiên cứu tác phẩm ở một số mặt nội dung cũng như nghệ thuật để cho
trong tác phẩm chúng tôi tiến hành đi sâu phân tích chúng để chứng minh, giải thích
cho những đề mục chính và nội dung của toàn bộ đề tài.
Ngoài ra để hoàn chỉnh bài viết của mình hơn chúng tôi còn vận dụng một
số phương pháp khác để bài viết của mình trọn vẹn và đầy đủ hơn.
6.Cấu trúc đề tài.
Ngoài phần mở đầu và phần kết bài thì bài tiểu luận của chúng tôi tập trung vào làm
nổi bật một số vấn đề của các chương chính sau:
Chương 1: Các vấn đề chung.
Chương 2: Gabriel Garciel Garcia Marquaez – cuộc đời và sự nghiệp sáng tác.
Chương 3: Trăn năm cô đơn và những nét văn hóa Mỹ la tinh.
6
Chương 1: Các vấn đề chung
1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn
hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía canh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư
tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v...
Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một
cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học
Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa
khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. Văn hóa được đề cập
đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học, nhân loại học (theo cách gọi
của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách gọi của châu Âu) dân gian học, địa văn
hóa học, văn hóa học, xã hội học,...và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa
về văn hóa cũng khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác
nhau đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng có nhiều. Một
trong những cách đó phân loại các định nghĩa về văn hóa thành những dạng chủ yếu
sau đây
Về mặt thuật ngữ khoa học: Văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus"
mà nghĩa gốc là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là "gieo trồng ruộng
suy cho cùng là các phản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội;
b. Văn hóa là sự kết hợp giữa lối ứng xử mà các thành tố của nó được các thành
viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kế thừa.
Các định nghĩa nguồn gốc: định nghĩa văn hóa từ góc độ nguồn gốc của nó, ví
dụ định nghĩa của Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889 - 1968), nhà xã hội học
người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa Xã hội học của Đại học Harvard: Với
nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi
hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và
tác động đến lối ứng xử của nhau.
8
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên
được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri
thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng,
ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá
trị, truyền thống và đức tin.
Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát
triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham
gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa
được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con
người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện
trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như
trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
1.2. Khái niệm tiểu thuyết
Theo Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Tiểu thuyết là: “Tác phẩm tự sự
cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời
gian. Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh
phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều
tính cách đa dạng”.
9
sách cho các bạn kí túc cùng nghe. Là người có khiếu hài đặc biệt, tuy chưa viết
được tác phẩm nào to tác nhưng tình yêu văn học, tranh biếm họa đã mang lại cho
ông biệt hiệu nhà văn. Có lẽ danh tiếng này đã góp phần định hướng cho văn nghiệp
đồ sộ sau này của ông. Như vậy, cuộc phưu lưu văn chương của Marquez bắt đầu
khá sớm, ông viết truyện ngắn và viết báo chí khi còn là sinh viên.
Năm 1946, chàng trai 18 tuổi, theo ước nguyện của bố mẹ đã vào nghành luật tại
Đại học Quốc gia Bogota. Trong thời gian này, Ông gặp và yêu Mercedes Barcha
Pardo khi cô 13 tuổi, ông tuyên bố cô là người thú vị nhất mà mình từng gặp và đã
cầu hôn cô một cách nồng nàn. Nhưng mãi đến mười bốn năm sau họ mới làm lễ
cưới. Năm 1959, khi cách mạng Cuba thành công – một sự kiện làm chấn động Mỹ
Latinh và toàn bộ Châu Âu đã tác động không nhỏ đến G.Marquez. Ông nhiệt liệt
chào mừng sự kiện đó và nhận làm phóng viên cho hãng thông tấn thường trú Cuba
và Mỹ. Từ năm 1961 đến 1967, ông sống ở Mêhicô và tiếp tục sáng tác. Năm 1967
tiểu thuyết Trăm năm cô đơn ra đời đã gây được tiếng vang lớn trong lòng độc giả
và được dư luận trong và ngoài nước đánh giá rất cao.
Năm 1969 Q.Marquaz nhận giải thưởng Rômugô Gazêrô của Vênêzuêla.
Năm 1971, trường Đại học Côlômbia (Mĩ) tặng ông bằng tiến sĩ danh dự văn học và
giải Nôxtat dành cho người nước ngoài.
Năm 1981, G.Marquez bị chính phủ Côlômbia trục xuất vì bị nghi là có liên
hệ với phong trào du kích ở miền núi nước này và phải sống lưu vong ở Mêhicô.
Cũng trong năm này ông được chính phủ Pháp tặng huân chương bắc đẩu bội tinh.
Năm 1982, ông nhận giải thưởng Nôbel về văn học, ghi nhận sự đóng góp của ông
không chỉ với văn học Mỹ Latinh mà còn với cả nền văn học nhân loại.
Năm 2002, mặc dù sức khỏe yếu, G.Marquez đã hoàn thành cuốn hồi ký đầu
tiên Vivir para contarla (Sống để kể lại) về 30 năm đầu của đời mình, trước khi tới
châu Âu lần thứ nhất. Tháng 10 năm 2004, G.Marquez xuất bản cuốn Memoria de
mis putas tristes (Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi).
2.2. G.Marquez – quá trình lao động miệt mài không mệt mỏi
11
Trong suốt 60 năm sáng tác và cống hiến chi niềm đam mê của mình,
kỹ thuật tự sự nhiều người kể chuyện trên cơ sở thời gian đa chiều, sử dụng phép
loại hình hóa nhân vật và nghệ thuật dân gian. Đó chính là những đặc trưng của chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo. G.Marquez đã khẳng định mình bằng việc cách tân trong
sáng tác viết tiểu thuyết và được độc giả hoan nghênh rất nhiều.
13
Chương 3: Trăn năm cô đơn và những nét văn hóa Mỹ la tinh.
3.1. Khái quát đặc điểm văn hóa Mỹ la tinh.
3.1.1.Nhìn lại chính mình
Người Châu Mỹ La tinh tôn sùng dĩ vãng một cách không ngưng nghỉ đến độ
họ có thể làm cho các chủ trương đổi mới gần như bất khả thi. Thay vì theo đuổi
một văn hóa cải thiện xã hội, họ luôn luôn cổ vũ một thứ văn hóa gìn giữ nguyên
trạng (the status quo). Một sự đổi mới liên tục và kiên trì — loại đổi mới phù hợp
với ổn định dân chủ — sẽ không làm thỏa mãn được con người ở đây; vùng này
chấp nhận những gì đã có sẵn, mặc dù thỉnh thoảng cũng mơ tưởng những cuộc
cách mạng sôi nổi, những cuộc cách mạng hứa hẹn mang lại cảnh dân giàu nước
mạnh chỉ sau một cuộc nổi dậy mà thôi.
Một thái độ hoài cổ như vậy có thể là dễ thông cảm hơn đối với Canada hay
Norway, những nước đã đạt được những trình độ phát triển con người đáng thèm
muốn. Nhưng Guatemala hay Nicaragua đã đạt được thành tích nào đáng trân quí
như thế trong dĩ vãng? Trong những trường hợp như thế này, chắc chắn khuynh
hướng bảo thủ không chỉ phát xuất từ một ý muốn duy trì nguyên trạng nhưng, thậm
chí đúng hơn, từ một ước muốn bảo vệ những đặc quyền cố hữu và từ một nỗi sợ
hãi mông lung về những điều chưa biết. Người dân Châu Mỹ La-tinh thậm chí còn
bám víu lấy cả sự đau thương, thà sống với một hiện tại chắc nịch hơn là theo đuổi
một tương lai bấp bênh. Điều này có phần chỉ là tự nhiên, hoàn toàn là bản tính con
người. Nhưng đối với chúng tôi, sự sợ hãi có thể làm tê liệt thần trí; nó tạo ra không
những bồn chồn lo lắng mà còn làm tê liệt.
Tồi tệ hơn nữa, các nhà lãnh đạo chính trị của vùng này ít khi có đủ kiên trì
hay khôn khéo để cẩn thận hướng dẫn người dân của mình đi qua những tiến trình
cải tổ. Trong một chế độ dân chủ, nhà lãnh đạo phải là giáo viên chủ nhiệm (the
hóa, nhiều đại học chỉ chuyên dạy các tác giả không còn ai muốn đọc và lặp lại các
học thuyết không còn ai muốn tin.
Muốn thực hiện công cuộc phát triển, tình trạng này phải thay đổi. Các nước
Châu Mỹ La-tinh phải bắt đầu tưởng thưởng những con người có óc cải tiến và sáng