Thưởng trà - nét ẩm thực độc đáo của văn hoá Việt - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ 3 lý do sau mà chúng tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu:
1.1 Thưởng trà - nét ẩm thực độc đáo của văn hoá Việt
Trà là quốc thủy của người Việt, là tinh chất của nền văn minh lúa
nước, trà đi vào tâm hồn Việt một cách tự nhiên, tĩnh lặng. Văn hóa trà Việt
không chỉ thể hiện là một thứ thức uống phổ biến trong đời sống sinh hoạt của
con người mà còn trở thành một thứ quan trọng và thiêng liêng trong phong
tục tập quán, là thú vui thanh cao, niềm tự hào của người Việt.
Người Việt Nam đã có thói quen dùng trà tự bao đời nay, không một
gia đình nào dù ở nông thôn hay thành thị, dù giàu có hay bần hàn mà lại
không có trong nhà một bộ ấm chén pha trà. Một thói quen không biết có từ
bao giờ và đã tạo thành một nếp sống văn hóa của gia đình người Việt, mỗi
khi nhà có khách đến chơi bao giờ việc đầu tiên cũng là pha một ấm trà mới,
mời khách rồi sau đó vừa uống trà vừa bàn chuyện. Trà đã là một thứ thức
uống quen thuộc, góp phần tạo nên điểm nhấn “vị ẩm” trong nghệ thuật ẩm
thực của người Việt, một thứ nghệ thuật chất chứa tính triết lý và nhân sinh
sâu sắc.
1.2 Thưởng trà – tinh hoa ẩm thực đất Hà thành
Hà Nội là mảnh đất ngàn năm văn hiến, là nơi tụ hội của nhân tài cả
nước, là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của toàn dân tộc. Văn hóa
thưởng trà của người Hà Nội là hội tụ đỉnh cao của nền văn hóa trà Việt. Đặt
trong nhịp sống hiện đại ngày hôm nay, văn hóa thưởng trà của người Hà Nội
đã có những thay đổi, chuyển biến. Bên cạnh việc lưu giữ được những nét văn
hóa của cha ông thì cũng đã có sự du nhập của phong cách thưởng trà mới.
Điều này đã khiến cho bức tranh văn hóa thưởng trà của người Hà Nội thêm
sinh động.
1
1.3 Thưởng trà - những giá trị văn hoá truyền thống của Hà Nội cần được
bảo tồn
Có thể nói, trong thời gian gần đây sự xuất hiện ngày càng đậm đặc các

thế giới có rất nhiều những chuyên luận viết và ngợi ca về trà.
Từ những công trình đã nghiên cứu, chúng tôi xin có cái nhìn tổng
quan mang tính khái lược nhóm thành những vấn đề nghiên cứu theo các
hướng sau:
Đề cập đến nền văn hóa trà Trung Hoa. Trước hết, là cuốn “Trà kinh”
của Lục Vũ, đây là cuốn chuyên khảo đầu tiên về trà trên thế giới. Đây được
coi là cuốn bách khoa thư về trà lâu đời nhất đời Nhà Đường và có ảnh hưởng
sâu rộng nhất đến các đời sau này. Một số tác giả như Vũ Thế Ngọc với cuốn
“Trà Kinh – nghệ thuật thưởng trà trong lịch sử và văn hóa phương Đông”.
Đây là một cuốn sách cũng có thể coi là vô cùng giá trị. Ông đã có một cách
nhìn hết sức tinh tế, trên cơ sở kế thừa những kiến thức trong cuốn “Trà
Kinh” của Lục Vũ, Vũ Thế Ngọc đã phát triển nghiên cứu về lịch sử cây chè,
nghệ thuật thưởng trà và văn hóa phương Đông. Trong đó có một chương bàn
về “Trà Việt” tương đối hay. Nói chung, đó là sự tổng hợp những kiến thức về
văn hóa trà phương Đông có giá trị to lớn đối với những người có mong muốn
tìm hiểu về văn hóa trà. Ngoài ra còn công trình “Trà văn hóa đặc sắc Trung
Hoa” của Đông A Sáng, đây cũng là kết quả kế thừa từ “Trà Kinh” của Lục
Vũ. Cuốn sách ca ngợi nền văn hóa trà Trung Hoa, từ việc nói về lịch sử cây
chè, mạn đàm về danh trà, trà cụ, nước, trà và những vai trò của trà trong cuộc
sống người Trung Hoa.
Đề cập đến nghệ thuật trà đạo Nhật Bản. Đầu tiên là cuốn Trà Thư của
Kakuro Okakura viết bằng tiếng Anh và xuất bản lần đầu năm 1906 tại Mỹ,
3
cuốn sách đã được dịch ra rất nhiều các thứ tiếng khác nhau trên thế giới.
Cuốn sách là niềm tự hào của người Nhật về nghệ thuật Trà Đạo. Trong đó là
việc giới thiệu hết sức tỉ mỉ bằng một văn phong vô cùng thu hút từ cách nhìn
tổng quan về Trà Đạo đến cách thực hành, nghệ thuật thưởng ngoạn, nói về
chất đạo và thiền trong trà, các môn phái trà và trà sư,… Tác giả Nguyễn Bá
Hoàn với hai công trình “Trà Đạo” và “Trà luận – Tinh hoa văn hóa phương
Đông”, cả hai công trình này đều là sự ngưỡng mộ và kính trọng của tác giả

đặt địa điểm nghiên cứu sâu là Lư Trà quán. Để từ đó thấy được thực trạng
phát triển của trà Hà Nội hiện nay và đề ra những giải pháp cho quá trình phát
triển trà Hà Nội.
Tuy nhiên, những tác phẩm và các công trình nghiên cứu trên phần thì
thiên về nghiên cứu các nền văn hóa trà lớn trên thế giới như Nhật Bản, Trung
Hoa. Còn những chuyên khảo về Trà Việt vẫn đang là một câu bỏ ngỏ. Một số
báo cáo nghiên cứu về văn hóa trà Hà Nội thì chưa thật sự nghiên cứu thành
một hệ thống rõ ràng, hoặc có nghiên cứu thì chỉ mới trên phương diện cảm
tính, chưa có những số liệu cụ thể để minh chứng cho tình hình phát triển văn
hóa thưởng trà của người Hà Nội. Tính đến thời điểm hiện nay, chưa có một
tác giả nào nghiên cứu vấn đề về văn hóa thưởng trà của người Hà Nội theo
một quá trình xuyên suốt từ xưa đến nay, để thấy được hệ giá trị đặc sắc của
nó. Vì vậy mà quá trình tìm hiểu về văn hóa thưởng trà của người Hà Nội cần
được nghiên cứu thành một hệ thống kiến thức để thấy được quá trình phát
triển, bước chuyển mình của văn hóa thưởng trà của người Hà Nội từ xưa đến
nay, đồng thời rút ra được những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần đặc sắc
nhất còn được bảo lưu, và phát triển thêm mới trong xã hội hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã nêu rõ, đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là
văn hóa thưởng trà của người Hà Nội.
5
4. Phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi xin giới hạn phạm vi nghiên cứu của
mình là tìm hiểu về văn hóa thưởng trà của người Hà Nội theo một quá trình
lịch sử từ xưa đến nay, thông qua việc khảo sát trên địa bàn Hà Nội (tính trên
địa bàn Hà Nội đến trước tháng 8 năm 2008).
Trong quá trình khảo sát để thực hiện đề tài, chúng tôi đã tiến hành tìm
hiểu ở hầu khắp các quán trà với những phong cách khác nhau trên địa bàn Hà
Nội và lấy trọng tâm là Hiên Trà Trường Xuân (13 Ngô Tất Tố).
5. Nhiệm vụ nghiên cứu

bằng ngôn từ toàn bộ quá trình chuẩn bị nguyên liệu, cách thức pha chế cũng
như cách thức thưởng thức các thức trà. Từ đó thấy được phong cách độc đáo,
tinh tế, phong nhã và hết sức lịch lãm của người Hà Thành.
Phương pháp điền dã
Đây là phương pháp được tác giả thực hiện một cách triệt để nhất. Vì
để có được những kết quả cụ thể, có những cách nhìn khách quan về tình hình
thưởng trà ở Hà Nội hiện nay.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực địa tại phần lớn các quán trà nổi
tiếng tại Hà Thành với nhiều phong cách khác nhau. Từ đó, đi đến quyết định
lựa chọn Hiên Trà Trường Xuân làm địa điểm nghiên cứu chuyên sâu.
7. Đóng góp của khóa luận
Đề tài được thực hiện sẽ có những đóng góp sau:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu
về văn hoá thưởng trà Hà Nội trong cái nhìn lịch đại theo mạch vận động của
thời gian từ truyền thống đến hiện nay.
Khẳng định nét tinh hoa đã tạo thành giá trị văn hoá ẩm thực đặc sắc
trong văn hoá thưởng trà của người Hà Nội.
7
Chỉ ra những nét văn hoá mới đang được hình thành, từ đó cho thấy
bức tranh văn hoá thưởng trà của người Hà Nội đang được tô thêm màu sắc
mới.
Góp phần khẳng định chất thanh lịch của người Tràng An thông qua
văn hoá thưởng trà xưa và nay.
8. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội
dung của khóa luận bao gồm ba chương.
Chương 1: Văn hóa thưởng trà của người Hà Nội xưa.
Chương 2: Văn hóa thưởng trà của người Hà Nội nay.
Chương 3: Những giá trị đặc sắc trong văn hóa thưởng trà của người
Hà Nội.

đây là địa điểm giao thương và buôn bán những sản vật quý của từng địa
phương, là nơi hội tụ những mặt hàng có giá trị và tinh tế nhất. Và trà cũng là
một trong những sản phẩm được người Hà Nội xưa vô cùng ưa chuộng, nâng
niu.
Theo sử sách ghi lại, hình thức uống trà được khởi nguồn từ các chùa
chiền. Như vậy cũng đồng nghĩa với việc thưởng trà gắn liền với đạo Phật của
người Việt, và hình thức thưởng trà này được gọi là Thiền Trà. Các nhà sư
thường thưởng trà vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn để giữ lòng thanh
tịnh. Hình thức thưởng trà này đã được nâng lên thành nghi lễ Thiền Trà.
Hình thức Thiền Trà ngày nay cũng đã phai nhạt đi rất nhiều, tuy nhiên tại
miền nam hình thức thiền trà tại các chùa còn tồn tại nhiều hơn so với các
chùa ở miền Bắc. Tại Hà Nội tới thời điểm hiện tại chỉ có chùa Vân Trì (Phú
Diễn – Từ Liêm) là tiến hành nghi lễ Thiền Trà định kỳ, ngoài ra chùa Đình
Quán (Phú Diễn – Từ Liêm) cũng có tổ chức nghi lễ này trong những dịp
quan trọng nhưng không đều đặn. Từ chùa chiền, hình thức thưởng trà nhanh
chóng được ưa chuộng trong chốn cung đình. Chỉ có những người thuộc tầng
lớp vua quan, quý tộc quyền quý mới thưởng thức trà với những hình thức hết
sức cầu kì, còn người dân bình thường chỉ uống chè tươi.
Trong suốt thời kỳ phong kiến, thưởng trà là cái thú chỉ có vua, quan lại
hoặc những gia đình quý tộc mới có. Và cách thức thưởng thức của họ vô
cùng cầu kỳ, tinh tế. Vào thế kỷ XVIII, trà đã trở thành một thức quý giá và
được trân trọng “Các nhà quý tộc, các bậc công hầu, các con em nhà quý thích
đều đua chuộng xa xỉ, có khi mua một bộ ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng
bạc. Thường có nhiều người đến chơi các hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác
tiền hết quan ấy chục khác để mua lấy chè ngon. Lúc ngồi rỗi, pha chè uống
với nhau, lại đánh cược xem chè đầu xuân năm nay sớm hay muộn, giá chè
năm nay cao hay hạ. Kẻ thì ưa thanh hương, người thì ưa hậu vị, kén hiệu trỏ
tên, mua cho được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt
10
tiền sẵn mua cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho được kiểu ấm

tiền nhân sành trà để lại cho hậu thế. Nhưng nước, trà, ấm và cách thức pha
chế như thế nào để đạt được một ấm trà ngon, thỏa nguyện những người
thưởng trà thì đó lại là một nghệ thuật. Những gia đình nho sỹ Hà thành xưa
luôn giữ cho mình một thói quen thưởng trà hết sức phong lưu, lịch lãm và
trân trọng chén trà.
Nước
Xét về mức độ quan trọng quyết định đến chất lượng của ấm trà ngon
hay không ngon thì yếu tố “nước” được đặt lên hàng đầu trong danh mục
nước, trà, pha chế và bộ ấm pha trà. Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, tất cả
những người sành trà trên bốn bể đều khẳng định “nước” là vấn đề căn bản
thứ nhất. Các cụ ta vẫn gọi nước là “trà hữu”, là bạn thiết của trà là vì lẽ đó.
Lục Vũ người được xưng tụng là “Trà Thánh” của nền văn hóa trà Trung Hoa
đã khẳng định một câu nói đã trở thành “khuôn vàng thước ngọc” cho trà nhân
cả ngàn năm nay: “Nước suối núi hạng nhất, nhì đến nước sông, ba đến nước
giếng” (Sơn thủy thượng, giang thủy trung, tỉnh thủy hạ). Tuy nhiên nước
suối không phải bạ đâu lấy đó. Nước từ trên cao đổ xuống cũng không được,
nước suối ở những khúc chảy lờ đờ qua đất cát cũng không được. Nước suối
tốt nhất phải lấy ở khúc suối chảy trên sỏi, chảy vào hồ đá. Nước sông, đây
phải là sông ngày xưa chưa bị nhiễm độc như bây giờ. Đương nhiên cũng
phải lấy ở thượng nguồn, lấy giữa dòng sông, nơi sông không chảy siết như
sắp đến đập đến thác, nơi sông phải xa nơi người ở .v.v…Về nước giếng, thì
những giếng thượng hạng thường là giếng của chùa, chùa ở trên núi hoặc ít
nhất cũng là ở xa nơi đô hội phồn tạp…
Còn người Hà Nội xưa, do địa thế không gần nguồn suối mà lại thuộc
hạ lưu sông nên thường pha trà bằng nước mưa và nước giếng khơi. Khi mưa
được khoảng 10 phút (khi đã hết bụi bẩn trong không gian) người ta mang
12
bàn ra giữa sân gạch, lấy chậu sành to để lên trên bàn (hay trên nóc nhà ngói)
hứng nước mưa, cất đi để dành. Nước ở giếng khơi thì phải chọn những giếng
đào xuống phía dưới có đá ong, giếng được đào ở những nơi xa khu dân cư,

chén trà cùng với một nghệ thuật thưởng trà tinh tế đến từng chi tiết.
Ca dao Hà Nội xưa từng ca ngợi cách thưởng trà mạn qua câu ca dao:
“Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà mạn hảo, xem nôm Thúy Kiều”
Nhưng xưa ở Hà Thành có ba nhà buôn trà lớn: Chính Thái, Sinh Thái,
Ninh Thái (nhưng lâu đời nhất là hiệu Chính Thái), nên người ta đã sửa câu ca
dao thành:
“Làm trai biết đánh tổ tôm
Uống trà Chính Thái, xem nôm Thúy Kiều”
Nghệ nhân Viên Trân cho biết: cây chè, văn hóa uống trà xuất phát từ
nền văn minh lúa nước phương Nam sau đó mới du nhập vào nền văn minh
du mục của các bộ tộc bờ Bắc sông Dương Tử, trung tâm của nền văn minh
Hoa Hạ, để rồi lan khắp năm châu bốn biển như ngày nay.
Người sành trà Hà Nội xưa thường chỉ ưa chuộng loại trà mộc, tức là
loại trà không tẩm ướp bất kì thứ hương hoa nào. Trong bài “Kệ uống trà” của
Cao Bá Quát: “Chọn bạn chọn bề ngoài/ không thấy điều hẳn hoi/Uống chè có
ướp hương/Biến mất hương chè rồi”. Cao Chu Thần làm bài kệ này chủ
trương uống trà chỉ thuần túy với mùi trà, không chấp nhận các loại trà ướp
hương hoa. Đây cũng là chủ trương của phần lớn các vị trà nhân.
Muốn có chén trà ngon, nhiều người đã lên tận những vùng trồng chè
nổi tiếng như Suối Giàng, Thái Nguyên, Phú Thọ chọn những loại chè ngon
nhất để tự tay sao chế bằng những phương pháp hết sức công phu. Trà móc
14
câu là loại trà chỉ được hái đọt non nhất nên sau khi sao quăn lại giống hình
móc câu. Song, người sành trà lại bảo phải gọi là “trà mốc cau” mới đúng vì
trà tròn cánh, trôi tay, có mốc trắng như mốc cây cau. Còn trà sao suốt là
phương pháp sao trà bằng nhiệt, tách nhiệt bằng tay với ngọn lửa liên tục đều
đặn trên chảo gang. Theo các nghệ nhân sao chế trà: trà ngon cũng như bạn
hiền, chỉ có thể may mắn gặp chứ không thể cầu mà có được. Bởi các yếu tố
như thời khí nặng nhẹ, mưa nắng mạnh yếu, độ ẩm, bàn tay người chăm sóc,

trước còn có loại than đặc biệt: trái ổi xanh phơi khô dùng để đun. Người
Quảng Đông lại thích dùng quả ô-liu để làm chất đốt khi pha trà. Người Hàn
Quốc lại sử dụng nguyên liệu đun nước là củi.
Trong truyện “Chén trà sương”, Nguyễn Tuân còn thi vị hóa việc đun
nước pha trà, cho từng hòn than ngọn lửa một hình ảnh rất nghệ thuật:
“Những hòn than tàu cháy đều, màu đỏ ửng, có những tia lửa xanh lè vờn
quanh. Không khí mỗi lúc giao động càng nâng cao thêm những lưỡi ngọn lửa
xanh nhấp nhô. Hòn lửa rất ngon lành, trở nên một khối đỏ tươi và trong suốt
như thỏi vàng thổi chảy”.
Như vậy, riêng cung đoạn chuẩn bị nguyên liệu cho việc pha trà trong
một buổi thưởng trà của các cụ sành trà Tràng An đã lắm công phu, hiểu biết
và nhiều tâm huyết.
1.1.2 Chuẩn bị trà cụ
Trong nghệ thuật thưởng trà của người Hà Nội xưa, trà cụ là thứ vô
cùng quý giá và được sử dụng phù hợp trong những tâm thế cũng như bối
cảnh thưởng trà riêng. Những trà cụ quan trọng không thể thiếu hoặc thay thế
bằng những thứ đồ khác đó là ấm đun nước bằng đồng, hỏa lò, ấm pha trà,
chén thưởng trà…
16
Ấm pha trà
Sự ảnh hưởng không thể phủ nhận được đó là sự xuất hiện và tôn sùng
của dân ta với các loại ấm pha trà của Trung Quốc. Hẳn không người sành trà
nào trên đất Hà Nội xưa là không biết đến câu “Thứ nhất Thế Đức gan gà/Thứ
nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Đây là ba chủng loại của ấm Nghi Hưng,
thích hợp dùng cho những loại trà mộc. Ấm Thế Đức hiện nay vẫn chưa rõ
chủ nhân của tên này, chỉ biết ấm đất đó màu gan gà (tức màu nâu pha vàng)
dưới đáy có ghi chữ Thế Đức. Còn ấm Lưu Bội cũng là ấm Nghi Hưng do
Thiệu Cảnh Nam, hiệu Lưu Bội (1821 - 1850), đời Đạo Quang nhà Thanh
sáng tạo và truyền cho lò của mình. Mạng Thần (1589 - 1684) cũng là tên của
một nghệ nhân sáng tạo ra loại ấm này (tên đầy đủ là Huệ Mạnh Thần, hiệu

ít thoát hơi nước, có như vậy trà mới ấm lâu và ít bay thoát hương vị.
Như vậy, người Hà Nội xưa kia đã rất cầu kỳ, bỏ nhiều công sức cho
việc lựa chọn chiếc ấm pha trà, để thỏa mãn một thú chơi hết sức tinh tế và
nghệ thuật của mình.
Chén thưởng trà
Bên cạnh tầm quan trọng của chiếc ấm pha trà thì những chiếc chén
cũng là những thứ không thể thiếu trong số trà cụ. Người sành trà Hà thành
xưa thường có đầy đủ bộ chén với chén tống (Hình 4), chén quân (Hình 5) và
loại chén phân theo mùa.
Chén trà có hai loại: chén tống (đọc chệch âm từ chữ tướng) và chén
quân. Chén tống dùng chuyên trà từ ấm ra, rồi rót vào chén quân để thưởng
thức. Theo Vương Hồng Sển thì miền Bắc dùng một chén tống và bốn chén
quân, miền Trung trở vào Nam dùng một chén tống và ba chén quân.
18
Bộ chén trà lại chia làm bốn loại để dành dùng cho từng mùa: xuân ẩm,
hạ ẩm, thu ẩm và đông ẩm. Hình dạng bốn bộ chén này cỡ vừa (không lớn
không nhỏ, không dày không mỏng) vào mùa xuân thu gọi là kiểu Xuân ẩm
và Thu ẩm; nhưng kiểu Hạ ẩm (Hình 7) dùng cho mùa hè thì chén nhỏ thành
mỏng, thấp và miệng rộng giúp nước nhanh nguội, kiểu Đông ẩm (Hình 6) thì
chén trà dày hơn và lòng chén sâu giữ cho chén trà lâu nguội. Khác với ấm
pha trà, chén pha trà phải luôn được rửa sạch bóng, không bao giờ được để
vương một ngấn nước đậm màu.
Cũng như vậy, người Hàn Quốc sử dụng trà cụ theo mùa. Trà cụ mùa
hè là những bát kiểu “katade” có miệng rộng để nước trà nóng nhanh nguội.
Mùa thu và mùa đông kiểu bát “irabo” giữ được nhiệt cho nước trà vì phải
uống nóng. Chất liệu của các trà cụ chủ yếu là gốm sứ và kim loại.
Khác với Nhật Bản trong bộ trà cụ của người Hà Nội sử dụng chén
thưởng trà theo mùa và theo số lượng người chứ không dùng bát uống trà.
Điều đó cho thấy sự thích ứng cũng như nét tinh tế, chu đáo của con người Hà
Nội.

đất Hà thành xưa thường chọn cho mình một không gian thưởng trà thật hợp
lý. Có khi cả gia đình ngồi thưởng trà quanh bàn trà đặt trong phòng khách
của gia đình. Nhưng khi có những người bạn đồng niên hay hội bạn trà thì họ
có thể ngồi thưởng trà tại một bàn trà đặt tại góc vườn có những chậu cảnh và
những lồng chim cảnh…
Không gian thưởng trà cũng là thứ không liên quan trực tiếp tới trà
nhưng lại là yếu tố tác động mạnh vào tâm lý của người thưởng trà. Để có
một buổi thưởng trà cùng mọi người có thể bình thơ, hay đàm đạo chuyện đời
chủ nhà đã phải chuẩn bị thật chu đáo không gian thưởng trà. Không thể đặt
bàn trà ở một nơi ồn ào tiếng người buôn kẻ bán, cũng không thể đặt ở một
20
nơi khí hậu ẩm mốc, đồ đạc lộn xộn. Trà không thích hợp với nơi ồn ào náo
nhiệt như tiệc rượu cũng không phải là nơi xô bồ như cà phê. Thưởng trà cần
một không gian tĩnh lặng, có vẻ đẹp của thiên nhiên, có sự hòa bình dung dị
của con người, sự hài hòa của đất trời.
Trên bàn trà xưa các cụ thường chuẩn bị một chậu cúc vạn thọ hoặc
chậu thủy tiên để mọi người vừa thưởng trà vừa ngắm hoa. Ngoài ra, một số
gia đình thượng lưu còn có những phòng trà (trà thất), trong phòng trà đó sẽ
có những bức thư pháp treo trên tường tạo nên một phòng trà vừa ấm cúng,
yên tĩnh, không khí trong lành vừa gần gũi mà cũng hết sức thanh cao, sang
trọng.
Nếu so sánh với cách sắp xếp bài trí trà thất của người Nhật thì thấy
người Việt mình thật giản dị, không coi trọng quá mức hình thức như người
Nhật. “Ở phòng trà, ta thấy hiển hiện khắp nơi mối e ngại về sự trùng lặp. Các
đồ vật mang ra trang trí đều được lựa chọn cách sao để không có màu sắc hay
mô típ nào lặp lại cái nào. Nếu trong phòng đã bày một cái lọ cắm hoa tươi thì
nhất thiết bức tranh treo tường không thể là tranh vẽ hoa lá. Nếu bạn sử dụng
chiếc ấm đun nước hình tròn thì cái vò đựng nước nên có dáng vuông. Khi bạn
đặt một cái lọ hay một cái lư trầm vào gian Tokonama, hãy chú ý chớ có để
thật đúng trung tâm, và cũng làm sao không phân chia không gian thành hai

sâu sắc về từng loại trà.
1.2.1 Trà, nước, trà cụ
Với người Hà Nội, uống trà là một thú chơi thanh đạm. Pha cho mình
cũng là pha mời khách, người ta phải để vào đó nhiều công phu. Những công
phu đó dần trở thành lễ nghi. Từ việc chọn trà, chọn nước đều được chuẩn bị
một cách kỹ lưỡng. Đối với từng loại trà sẽ có một nhiệt độ sôi khác nhau sao
cho phù hợp. Ví như trà Ô long cần nước trên 90ºC, trà xanh cần nước ở mức
90ºC, trà xanh loại thượng hảo hạng cần để nước sôi nguội bớt xuống còn
22
khoảng 85ºC. Trà mộc thì nước sủi tăm là được (khoảng 80ºC), nước pha trà
hương chỉ cần sôi lăn tăn, các loại trà dược liệu cũng chỉ cần nước gần sôi…
Không nên dùng nước sôi sùng sục để chế vào trà vì có thể làm “cháy” trà,
khiến trà trở nên chát.
Trong ấm trà ngon người ta thấy phảng phất một mùi thơ và một vị triết
lý. Các chân trà nhân ngày xưa rất chú ý đến nghệ thuật thưởng trà với nhiều
loại trà cụ (dụng cụ pha trà) để làm sao cho người uống cũng có thể cảm nhận
và thể nghiệm giống như các thiền sư.
1.2.2 Pha trà
Trà muốn ngon phải đúng lửa, đúng nước… Cũng như muốn thành
quân tử phải có thầy và bạn tốt. Những thao tác phải thuần thục và tuân thủ
một quy trình nhất định.
Dùng thìa gỗ múc trà cho vào ấm đất nung nhỏ, xưa kia các cụ Nho gia
gọi động tác này một cách hết sức văn chương là “Ngọc diệp hồi cung” (lá
ngọc bay về cung).
Để có được ấm trà ngon thì ấm pha trà và chén thưởng trà phải được
làm nóng lên bằng nước sôi. Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre
khô hoặc gỗ thơm. Khi châm nước lần một gọi là “cao sơn trường thủy” (núi
cao sông dài) rồi chắt ra ngay. Đây là thao tác tráng trà nhằm loại hết bụi bẩn
và cho trà khô kịp thấm không nổi lềnh bềnh. Lần thứ hai đổ nước vào ấm gọi
là “hạ sơn nhập thủy” (xuống núi tắm sông) nên đổ nước cao, tràn miệng ấm

là nghệ thuật rót trà.
1.3. Bắt đầu thưởng thức
Thưởng trà có nghĩa là thưởng thức trà, và nó là một nghệ thuật.
Thưởng trà trong lúc tâm hồn nhàn nhã, thanh tịnh là tốt nhất. Cũng có thể nói
uống trà là lối tập cho tâm hồn mình thanh tịnh. Thưởng trà phải ở một nơi
thanh tĩnh, thoáng đãng và gần thiên nhiên.
24
Ngày xưa, các nhà sư thưởng trà trong trà thất, họ thanh tịnh nhãn căn,
lắng nghe tiếng nước sôi trong ấm đồng, họ thanh tịnh nhĩ căn…Các nhà sư
thường uống trà tụng kinh thay cơm sáng hay những lúc chiều tà, đó là những
thời khắc đời sống trần tục đang bủa vây tứ phía, trà giúp tỉnh mộng trần, giúp
rửa lòng tục, xua đi nỗi cô đơn. Còn tầng lớp quan lại, nho học thì vào đêm
trăng thanh vắng, các cụ ung dung pha trà, thưởng hoa quý, ngắm trăng. Vào
buổi sáng mồng một đầu năm mới, các con cháu trong gia đình giành những
giây phút đầu tiên cho các cụ tĩnh tâm ngắm hoa, thưởng trà, sau đó đại gia
đình mới quây quần quanh bàn trà chúc thọ các cụ.
Các hình thức thưởng trà theo số lượng người là cách thưởng trà độc
đáo và tinh tế. Nó phù hợp với trạng thái tâm lý, cảm xúc của đối tượng
thưởng trà.
1.3.1. Thưởng trà độc ẩm
Thưởng trà độc ẩm là một người ngồi thưởng trà với chiếc ấm pha trà
độc ẩm nhỏ xíu xinh xắn với gam màu trầm gợi về nỗi ưu tư, một niềm riêng
của người thưởng thức. Nhiều khi độc ẩm chính là một cách để cho người ta
gỡ bỏ được những khó khăn trong tâm thức để đạt đến sự thanh thản, nhẹ
nhõm.
Những Nho sỹ Hà Thành xưa phần nhiều thích độc ẩm vì đấy là nguồn
cảm hứng để họ có thể sáng tác nên những tác phẩm nghệ thuật, hay đơn giản
chỉ là một thói quen. Thông thường trong bộ đồ trà của mình, người sành trà
luôn có đầy đủ bộ ấm từ ấm độc ẩm đến ẩm đối ẩm và quần ẩm. Vào buổi
sáng sớm các cụ cũng thích ngồi thưởng trà độc ẩm, tự tay quạt than đun nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status