Cây lúa với nền văn minh lúa nước của Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á - Pdf 20

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cây lúa với nền văn minh lúa nước của Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
MỤC LỤC
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần mở đầu
Trải qua nhiểu thế kỷ, Đông Nam Á đã phát triển một nền sản xuất nông
nghiệp độc đáo, lấy cây lúa làm cây trồng chính. Trên cơ sở ấy đã nảy sinh và
phát triển một nền “văn minh lúa nước” nông dân Đông Nam Á đã sáng tạo và
tích luỹ được nhiều kinh nghiệp trồng lúa phong phú thích hợp với mỗi quốc gia
trong vùng.
Ngày nay các nước Đông Nam Á lại có điều kiện trao đổi giao lưu kinh tế
chính trị văn hoá xã hội, là những thành viên của khối Hiệp hội các nước Đông
Nam Á (ASEAN). Biểu tượng của khối này cũng lấy hình bó lúa để thể hiện tính
chất kinh tế xã hội, văn hoá của vùng là những cư dân nông nghiệp trồng lúa.
Chính vì thế nghiên cứu cây lúa về nghề làm lúa qua cái nhìn văn hoá ở Đông
Nam Á là một đề tài hấp dẫn. Đặc biệt trong thời kỳ hiện nay, khi nền kinh tế
của vùng đang có bước phát triển mạnh mẽ, thì cây lúa vẫn là cây lương thực có
vai trò quan trọng nhất trong xã hội. Nó còn góp phần hình thành có một nền
văn hoá đã tồn tại từ rất lâu đời của vùng Đông Nam Á.
Với quy mô giới hạn trong một bài tiểu luận, người viết chỉ đi sâu làm rõ
sự tương đồng trong việc trồng lúa của cư dân Đông Nam Á. Từ đó mà hình
thành nên nền văn hoá chung trên cơ tầng nông nghiệp trồng lúa. Bên cạnh đó
cũng có những nét riêng, bản sắc và độc đáo trong văn hoá của mỗi quốc gia
trong vùng Đông Nam Á.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương 1. Điều kiện để hình thành nghề lúa ở Đông Nam Á
Đông Nam Á bao gồm tiểu lục địa: Miến Điện, Thái Lan, Bán đảo Đông
Dương, Philippin, Inđônêxia, Mailaixia, Singapo, Brunay là vùng có một nền
nông nghiệp cổ xưa trên trái đất. Những công trình khảo cổ học gần đây đã phát

ở Việt Nam, các dãy núi vòng cung vùng Đông Bắc đã để cho gió mùa Đông
Bắc tràn về dễ dàng nên mùa đông ở Việt Bắc và Đông Bắc đến sớm hơn và dài
hơn so với vùng Tây Bắc được dãy Hoang Liên Sơn làm cho khuất gió và nhiệt
độ mùa đông ở vùng núi thấp Tây Bắc chỉ xấp xỉ với nhiệt độ của đồng bằng
sông Hồng.
Gió mùa mùa đông hay gió mùa Đông Bắc thịnh hành nhất từ tháng 12
đến tháng 2 năm sau và gió mùa mùa hạ hay gió mùa Tây nam thịnh hành từ
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tháng 6 đến tháng 9. Những thời kỳ chuyển tiếp giữa hai mùa gió mùa từ tháng 3
đến tháng 5 và từ tháng 10 đến tháng 11 là những thời kỳ trung gian của mùa
xuân và mùa thu. Tuy nhiên, các thời kỳ chuyển tiếp này cũng dài ngắn khác
nhau tuỳ theo vị trí địa lý và địa hình của từng vùng. Ở Bắc Việt Nam, nhiều
năm gió mùa Đông Bắc bắt đầu tràn về ngày từ tháng 11 và đến cuối tháng 4
đầu tháng 5 vẫn còn có những đợt gió mùa Đông Bắc muộn. Ở Miến Điện, gió
mùa Đông Bắc với hướng Bắc và Đông Bắc, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 với
những ngày đẹp trời. Gió mùa mùa hạ với hướng Nam hay Đông Nam kéo dài
từ tháng 6 đến tháng 9; mùa này, trời nhiều mây và có nhiều mưa. Tháng 4,
tháng 5 là những tháng nóng với những trận mưa giông địa phương, tháng 10 là
tháng chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa.
Thái Lan có một mùa hè nóng và tương đối khô, nước này có lượng mưa
trung bình . Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 12 và gió mùa Tây
Nam từ tháng 5 đến tháng 9. Tháng 3 và tháng 4 có những nhiệt độ trung bình
cao nhất trong năm, nhiệt độ hàng ngày ít khi dưới 32độ C và nhiệt độ cao nhất
nhiều khi vượt 40 độ C.
Bán đảo Đông Dương có khí hậu nhiệt đới ở phía Nam và có một mùa
đông tương đối lạnh ở phía Bắc. Điều kiện địa hình, dãy núi Trường Sơn cũng
có ảnh hưởng nhiều đến tình hình khí hậu thời tiết của bán đảo này. Mùa mưa ở
đây thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 ở nhiều nơi, mùa khô từ tháng 12
đến tháng 3. Tuy nhiên miền Trung Bộ Việt Nam, các vùng duyên hải và sườn

nghiệp ở từng nơi.
1.2. Các vụ lúa ở Đông Nam Á.
Ở tất cả các vùng ở Đông Nam Á, với mùa mưa chủ yếu nằm trong thời
kỳ gió mùa Tây Nam (trừ một số ngoại lệ do điều kiện địa hình) vụ lúa mùa mưa
là vụ lúa quan trọng nhất, chiếm địa bàn rộng rãi nhất và được phân bổ từ trên
sườn núi cao xuống các vùng châu thổ của các dòng sông đến tận các đồng bằng
ven biển với các chế độ canh tác khác nhau từ gieo thẳng (chọc lỗ bỏ hạt) đến
cấy lúa một lần hay hai lần với những trình độ thâm canh khác nhau. Vụ lúa mùa
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
mưa là vụ lúa chính từ khi loài người bắt đầu thuần hoá cây lúa và biết trồng lúa,
và trong quá trình phát triển của xã hội và của sản xuất đã được phân hoá thành
những trà lúa (sơm, muộn) khác nhau, với những giống lúa khác nhau. Rồi với
những tiến bộ kỹ thuật nhất định, người ta đã làm thêm những vụ lúa nữa trong
mùa tương đối khô trên những diện tích có điều kiện và những cơ sở vật chất và
kỹ thuật cần thiết. Vụ lúa chiêm ở Bắc Việt Nam chẳng hạn, mới chỉ có từ hơn
hai nghìn năm nay trong khi lịch sử của vụ lúa mùa ở vùng này đã dài gấp hơn
hai lần hoặc hơn thế nữa. Ở một số vùng khác, người ta cũng đã lợi dụng của gió
mùa Đông Bắc đem lại để làm một vụ lúa thực chất không phải là vụ lúa mùa
khô (vùng bờ biển phía đông trung tâm Philippin, một số vùng ở Thái Lan) với
những giống lúa ngắn ngày, người ta cũng đã làm một vụ lúa từ giữa sang cuối
mùa khô và được thu hoạch vào đầu hay giữa mùa mưa. Mưa của mùa mưa sẽ
cung cấp nước chó lúa vào những thời kỳ phát triển chủ yếu của nó.
Ở các đồng bằng vùng Đông Nam Á, nói chung điều kiện nhiệt độ thích
hợp cho sự sinh trưởng và phát dục của cây lúa quanh năm, và ở đây người ta có
thể làm nhiều vụ một năm (ít nhất là hai vụ) nếu có đủ nước. Nước tưới là yếu tố
hạn chế chủ yếu đối với việc tăng thêm diện tích lúa có thể phát triển mạnh với
các hệ thống canh tác khác nhau tuỳ theo tình hình sử dụng nước. Nhưng ở các
vùng núi cao, thì nhiệt độ có thể trở thành một yếu tố hạn chế, ngay trong những
trường hợp có đủ nước tưới. Ở đây, thường người ta chỉ làm được một vụ lúa

nó. Ở Đông Nam Á cũng có tình hình tương tự như trên, nên địa bàn trồng lúa,
nhất là trong mùa mưa, khá rộng bao gồm cả các vùng đất cao được hình thành
tại chỗ và các châu thổ thấp của các dòng sông, cũng như tất cả những loại đất
bằng khác có thể giữ nước để cấy lúa hay có đủ độ ẩm cho lúa gieo thẳng sinh
trưởng được bình thường.
Địa bàn trồng lúa ở Đông Nam Á khá rộng và đã phản ánh những điều
kiện địa lý, địa hình, thổ nhưỡng và khí hậu rất khác nhau, làm nảy sinh và tồn
tại những tập quán sử dụng đất và trồng lúa khác nhau, từ thâm canh với trình độ
khá cao, đến quảng canh một cách thô sơ.
2.2. Các loại lúa chính
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2.1. Lúa cạn.
Diện tích của lúa trồng cạn không nhiều so
với tổng diện tích lúa chung. Đối với toàn thế
giới, lúa cạn chiếm khoảng 1/6 tổng diện tích
lúa. Còn đối với vùng Đông Nam Á mưa
nhiều, có mật độ dân số cao, có nhiều dân tộc ở
các vùng núi đã áp dụng kỹ thuật san sườn núi làm ruộng bậc thang để cấy lúa
nước, thì tỷ lệ diện tích lúa cạn có thấp hơn, nhưng vẫn có vị trí nhất định trong
sản xuất lương thực ở các vùng này. Lúa cạn được gieo trồng chủ yếu bởi những
người nông dân nghèo và ở những vùng thường nghèo nhất để tự cấp tự túc,
chiếm khoảng dưới 10% diện tích lúa chung của vùng Đông Nam Á và đã có
mặt ở hầu hết các nước.
Lúa cạn được trồng nhiều nhất ở Inđônêxia, Philippin. Ở mỗi nơi có
những khác nhau nhiều ít trong kỹ thuật và tập quán trồng trọt.
Ở Inđônêxia, có khoảng trên 1,5 triệu héc ta lúa cạn, phân bố ở Java,
Xumata, Klimanta, Xulavexi, Malucu, và ở các đảo khác. Lúa cạn thường được
gieo trong tháng 11 hay tháng 12m tuỳ theo mưa và nhiểu khi xen với ngô hay
sắn, trên các độ cao khác nhau từ ven biển đến độ cao trên 2000m.

2.2.2. Lúa nước.
Quan trọng hơn hết về diện tích, năng suất, sản lượng và mật độ dân số là
các vùng đồng bằng trồng lúa nước ở Đông Nam Á. Các dòng sông ở vùng này
đã và đang còn giữ vai trò chủ yếu trong việc hình thành nên những loại đất lúa
nước điển hình, vì đã mang một hàm lượng phù sa lớn, nhất là trong các mùa
mưa lũ. Chảy qua nhiều vùng núi tương đối trẻ ở phía Bắc, có những sườn dốc
dễ bị sói mòn với nhiều loại đá kết tầng, nhiều con sông lớn đã đưa về các châu
thổ những loại phù sa màu mỡ, ít gặp đối với những con sông khác trên thế giới.
Khó mà tìm được những trường hợp có thể so sánh được với những con sông
Irauadi ở Miến Điện, Menam ở Thái Lan, Cửu Long ở bán đảo Đông Dương,
hay sông Hồng ở Bắc Việt Nam. Sông Hồng đỏ rực phù sa màu mỡ trong mùa lũ
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đã chảy qua những loại đất đỏ của cao nguyên đá vôi Vân Nam, và cũng có khả
năng bồi đắp vào loại mạnh nhất.
Lúa nước được
gieo cấy chủ yếu trên các
loại đồng bằng châu thổ
của các dòng sông hay
trên những đồng bằng
ven biển. Các châu thổ
của các dòng sông do
phù sa sông bồi đắp ở
vùng hạ lưu của chúng và tuỳ thưo lưu lượng của từng con sông mà có diện tích
rộng hay hẹp. Những chuyển biến địa chất trong lịch sử làm nâng cao những
vùng ven biển và những đảo ở Đông Nam Á đã làm nổi lên những đồng bằng
phù sa biển, sau đó có thể được bồi đắp thêm nhiều, ít phù sa sông.
Ở Miến Điện, châu thổ sông Irauadi và châu thổ sông Si Hang là những
vùng trồng lúa chủ yểu. Các loại đất lúa ở đây không thuộc loại không tốt lắm.
Ở Thái Lan, vùng đồng bằng sông Menam

3. Vai trò văn hoá của cây lúa.
Cây lúa có ba vai trò quan trọng trong việc hình thành nét văn hoá cho cư
dân bản địa.
Cây lúa nước thúc đẩy quá trình đi tìm và khai thác các đồng bằng châu
thổ. Người Miến đi từ vùng cao phía Bắc theo dòng sông Irrawady xuống Trung
Myanma rồi Hạ Myanma. Người Thái đi từ vùng cao phía Bắc theo dòng sông
Chao Phraya xuống Trung Thái Lan rồi Nam Thái Lan. Người Việt đi từ trung
du xuống đồng bằng châu thổ sông Hồng, rồi đi tiếp qua miền Trung đồng bằng
châu thổ sông Mê Kông. Các dòng sông ở Đông Nam Á giữ vai trò chủ yếu
trong việc hình thành nên những loại đất thích hợp cho cây lúa nước, đó là phù
sa chảy qua những vùng núi tương đối trẻ ở phía Bắc, có những sườn dốc dễ bị
xói mòn với nhiều loại đá kết tầng, những con sông lơn đã đưa về các châu thổ
những loại phù sa màu mỡ, ít có đối với những con sông khác trên thế giới.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cây lúa nước thúc đẩy quá trình hình thành các tổ chức xã hội, làng và
các quốc gia nông nghiệp. Ở Đông Nam Á có hai loại quốc gia nảy sinh trên sự
phát triển của nông nghiệp lúa nước. Hai là những quốc gia nảy sinh trên nhu
cầu của giao thương quốc tế. Theo Yumio Sakurai, do sự phát triển của nông
nghiệp lúa nước, cho nên ở các thung lũng và ở các châu thổ đã hình thành
những nơi tụ cư lớn mà ở Đông Nam Á người ta hay gọi là mường, một tổ chức
xã hội khá chặt chẽ.
Sakurai gọi mường là tổ chức tiền quốc gia, Đông Nam Á có hai loại quốc
gia: quốc gia nội địa, với nền kinh tế dựa trên việc trồng lúa tưới nước, cùng với
những đặc điểm xã hội là: tổ chức xã hội phân chia đẳng cáp tập trung ở các
kinh thành đô thị, một tầng lớp nông dân đông đảo ở thôn quê lo sản xuất lương
thực, một bộ máy quan liêu và một đội ngũ tăng lữ chủ yếu sống ở thành thị phụ
thuộc vào nhà vua. Lãnh địa bến cảng ở cảng biểnm cửa sông thường có, một
ông vua, một tầng lớp buôn bán đông đảo, một lớp người phục dịch. Những
người làm nghề nông định cư chiếm tuyệt đại đa số cư dân Đông Nam Á, lấy

hệ nông dân Việt Nam qua hàng chục thế kỷ làm cho biến đổi sâu sắc: hệ thống
đê điều dày đặc, dọc theo hai bên bờ của những sông ngòi lớn nhỏ, những sông
tự nhiên, cũng như con sông đào do bàn tay người xây dựng đã làm cho phần
lớn ruộng đất ở châu thổ hầu như thoát khỏi ảnh hưởng thường xuyên của lũ
hàng năm của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, và tiến triển theo những
quy luật đặc thù của đất lúa nước, được sử dụng để trồng lúa nước trong nhiều
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status