Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần xây dựng số 1 – VINACONEX - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn lực tài chính là một nguồn lực không thể thiếu cho sự tồn tại và
phát triển của một doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần phải có cách thức
quản lý phù hợp để sử dụng nguồn lực này một cách có hiệu quả nhất.
VINACONEX 1 là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây
dựng cơ bản, đây là một lĩnh vực đòi hỏi tiềm lực về tài chính lớn. Hoạt
động của Công ty lại chủ yếu gắn với các dự án đầu tư với số vốn lớn, thời
gian thi công và thu hồi vốn lại kéo dài nên sẽ có nhiều mối quan hệ tài
chính phát sinh. Công ty lại trực thuộc một tổng công ty lớn là Tổng công ty
VINACONEX với nhiều đơn vị thành viên, vì vậy cần thiết phải có một cách
thức quản lý tài chính khoa học và hiệu quả, nhất là trong môi trường tài
chính phát triển sôi động nhưng cũng đầy biến động hiện nay.
Nền kinh tế thị trường hiện nay phát sinh rất nhiều các mối quan hệ tài
chính phức tạp đòi hỏi công việc quản lý tài chính cần được chuyên nghiệp
và chuyên môn hóa. Đặc biệt không nên có sự nhầm lẫn giữa công việc tài
chính và công việc kế toán.
Xuất phát từ những nhận thức như trên nên em đã quyết định nghiên cứu đề
tài:
“Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty cổ phần xây dựng số
1 – VINACONEX ”.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung chuyên đề tập trung nghiên cứu công tác quản lý tài chính
tại Công ty cổ phần số 1 – VINACONEX, phân tích sơ bộ tình hình tài chính
của Công ty để từ đó thấy được hiệu quả của công tác quản lý tài chính;
những điểm mạnh, điểm yếu đồng thời đưa ra những kiến nghị góp phần
hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Công ty.
3. Phạm vi nghiên cứu

chuyên đề thực tập này.
Sinh viên: Trần Thị Lan Phương
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I. TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1. Tài chính doanh nghiệp
1.1.1. Bản chất của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình
thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ
nhằm phục vụ qua trình tái sản xuất trong mỗi doanh nghiệp và góp phần
tích lũy vốn cho Nhà nước.
Các quan hệ tài chính của một doanh nghiệp bao gồm:
 Quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước:
Doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình có nghĩa
vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định. Bên cạnh đó còn là mối quan hệ
giữa DNNN với chủ sở hữu Nhà nước.
 Quan hệ giữa doanh nghiệp và thị trường tài chính:
Doanh nghiệp có thể tham gia vào thị trường tài chính vừa với tư cách
là nhà đầu tư tài chính, vừa với tư cách là người huy động vốn.
 Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, một doanh nghiệp sẽ có mối
quan hệ với rất nhiều doanh nghiệp khác, một bên ở thị trường các yếu tố
đầu vào, một bên ở thị trường sản phẩm đầu ra.
 Quan hệ tài chính nội bộ doanh nghiệp:
Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp được thể hiện ở quan
hệ hạch toán nội bộ và quan hệ phân phối kết quả kinh doanh.

doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và
công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Quản lý tài chính có vị trí quan trọng trong hoạt động quản lý nói
chung của doanh nghiệp. Đầu tiên phải kể đến đó là việc QLTC tốt sẽ đảm
bảo cho nhu cầu về vốn hoạt động của doanh nghiệp, hơn nữa việc lựa chọn
nguồn vốn phù hợp cũng góp phần giúp doanh nghiệp không phải đối mặt
với những khó khăn về thanh toán. Việc QLTC cũng giúp cho doanh nghiệp
sử dụng vốn thêm hiệu quả, phối hợp được các lĩnh vực quản lý khác giúp
cho hoạt động của doanh nghiệp. QLTC tốt cũng góp phần nâng cao uy tín
của doanh nghiệp trong các mối quan hệ, đồng thời giải quyết các mối quan
hệ về lợi ích trong doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác
nhau nhưng bao trùm nhất vẫn là mục tiêu tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bởi doanh nghiệp nào cũng phải thuộc về các chủ sở hữu nhất định. Đối với
DNNN, Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và lợi ích của chủ sở hữu là lợi
ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đối với doanh nghiệp tư nhân, mục
tiêu là tối đa hóa lợi nhuận. Đối với doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu, mục
tiêu là tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, mang lại lợi ích cho các cổ
đông. Đối với các công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường chứng khoán
thì đó là tối đa hóa giá trị thị trường của các cổ phiếu.
1.2.3. Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp
 Tôn trọng luật pháp: Đây là nguyên tắc đầu tiên vì môi trường
mà doanh nghiệp tham gia vào có sự có mặt của luật pháp. Doanh nghiệp dù
muốn hay không muốn vẫn phải tôn trọng luật pháp. Nếu không cho dù tạm
thời chưa gây nguy hại gì cho doanh nghiệp nhưng rất có hại cho tương lai
phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
 Tôn trọng nguyên tắc hạch toán kinh doanh: Hạch toán kinh

chính: đó là thực trạng tài chính, những điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là một quá trình mà nhà quản lý tài chính sử dụng
các phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các
thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và
tiềm lực của một tổ chức, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
Để tiến hành phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng
mọi nguồn thông tin: Từ thông tin nội bộ cho đến những thông tin bên ngoài
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến thông tin giá trị, từ thông tin chung
cho đến những thông tin về ngành kinh tế… Tuy nhiên, thường được sử
dụng rộng rãi và cũng có thể đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính
của doanh nghiệp là các thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp. Đây
cũng là nguồn tin quan trọng bậc nhất trong phân tích tài chính. Phân tích tài
chính được thực hiện trên cơ sở các báo cáo tài chính – được hình thành
thông qua việc xử lý các báo cáo kế toán chủ yếu: Bảng cân đối kế toán, Báo
cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo ngân quỹ (Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ.
Về phương pháp phân tích thì có nhiều phương pháp nhưng thường
được sử dụng nhất vẫn là phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tỷ
lệ.
Phương pháp so sánh: Là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích
bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Người
ta có thể so sánh kỳ này với kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài
chính của doanh nghiệp; so sánh với mức trung bình của ngành trong cùng
kỳ để thấy hiện trạng tài chính của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp
khác; có thể so sánh chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng
thể; có thể so sánh chiều ngang để thấy được sự biến đổi cả về số tuyệt đối

- Khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn
- Khả năng thanh toán nhanh = (Tài sản lưu động – Dự trữ)/Nợ ngắn hạn
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Tỷ số về khả năng cân đối vốn:
- Hệ số nợ = Tổng số nợ/Tổng tài sản
- Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/Lãi vay
• Tỷ số về khả năng hoạt động:
- Số vòng quay tồn kho = Doanh thu tiêu thụ/Trị giá hàng tồn kho bình quân
- Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu
×
360/Doanh thu
- Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Doanh thu/Tài sản cố định
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu/Tổng tài sản
• Tỷ số về khả năng sinh lãi:
- Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ROE (Doanh lợi vốn chủ sở
hữu):
ROE = Thu nhập sau thuế/Vốn chủ sở hữu
- Tỷ số thu nhập sau thuế trên tài sản ROA (Doanh lợi tài sản):
ROA = Thu nhập sau thuế/Tổng tài sản
1.2.4.2. Hoạch định tài chính
Lập kế hoạch là công việc có ý nghĩa quyết định tới toàn bộ quá trình
quản lý. Tương tự như thế, đối với quản lý tài chính, hoạch định tài chính
hay thực chất là lập kế hoạch tài chính là khâu có ý nghĩa quyết định tới toàn
bộ hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp. Lập kế hoạch tài chính là
việc dự toán các khoản thu-chi của ngân sách, trên cơ sở đó lựa chọn các
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phương án hoạt động tài chính cho tương lai của tổ chức và ấn định sự kiểm
soát đối với các bộ phận trong tổ chức.

khả năng thực hiện được, góp phần thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp,
hỗ trợ tốt việc thực hiện các kế hoạch khác, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả
nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, có khả năng đương đầu với sự biến
động trong kinh doanh. Tuy nhiên thị trường luôn có những biến động không
ngừng và một kế hoạch không tránh khỏi nguy cơ bị lạc hậu, đặc biệt là các
kế hoạch trong dài hạn. Vì vậy cần phải có sự theo dõi sát sao việc thực hiện
các kế hoạch để đưa ra những điều chỉnh kịp thời và có thể là phải xây dựng
một kế hoạch mới nếu cần thiết.
1.2.4.3. Quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp
 Quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu trong hoạt động của doanh nghiệp.
Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được đầu tư
vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vốn của doanh nghiệp bao gồm hai
bộ phận: Vốn chủ sở hữu và nợ. Nguồn vốn thể hiện nguồn hình thành của
tài sản. Như vậy, quản lý nguồn vốn cũng chính là quản lý nguồn hình thành
vốn của doanh nghiệp. Trong quản lý nguồn vốn, việc huy động vốn là vấn
đề hết sức đáng quan tâm.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, mỗi
doanh nghiệp có các cơ chế huy động vốn khác nhau. Cơ chế huy động vốn
là tổng thể các phương pháp, hình thức và công cụ được sử dụng trong việc
huy động vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể sử dụng phương thức
tự tài trợ từ vốn góp của chủ sở hữu, từ lợi nhuận không chia hoặc phát hành
cổ phiếu. Doanh nghiệp cũng có thể sử dụng phương thức nợ từ nguồn vốn
tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu. Mỗi loại
vốn lại có một chi phí nhất định để doanh nghiệp có thể sử dụng vì vậy
doanh nghiệp cần phải cân nhắc tính toán thật kỹ chi phí cơ hội khi sử dụng
mỗi loại vốn. Đồng thời doanh nghiệp phải xây dựng một cơ cấu vốn (tỷ
trọng của mỗi nguồn trong tổng nguồn) thích hợp góp phần đảm bảo một cơ

thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Hàng hóa dự
trữ tồn kho có ba loại: Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm.
Lượng tồn kho cần được tính toán ở mức độ thích hợp để phục vụ kịp thời
cho khâu sản xuất kinh doanh, đồng thời tốn kém chi phí ở mức độ vừa phải,
tránh gây ứ đọng vốn; cần thường xuyên phân tích tình hình, có kế hoạch
kiểm tra giám sát, sử dụng thích hợp tránh gây thất thoát lãng phí.
- Quản lý tài sản cố định
Việc quản lý TSCĐ bao gồm quản lý TSCĐ và quản lý quỹ khấu hao
của doanh nghiệp. Do TSCĐ có giá trị lớn, không thể chuyển hết giá trị một
lần vào chi phí sản xuất, hơn nữa lại bị hao mòn nên trong mỗi chu kỳ người
ta tính chuyển một lượng giá trị tương đương lượng hao mòn vào giá thành
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sản phẩm. Nhà quản lý tài chính cần tính mức khấu hao sao cho phù hợp với
thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp để không ảnh hưởng nhiều đến giá
thành sản phẩm, lại bảo đảm việc thu hồi vốn cho doanh nghiệp.
 Quản lý đầu tư của doanh nghiệp
Đầu tư là hoạt động bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung
những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp. Hoạt động này được thể hiện tập trung thông qua việc thực hiện các
dự án đầu tư.
Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục
tiêu, phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt tới một trạng thái mong
muốn.
Đầu tư là hoạt động quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng
của doanh nghiệp. Vì vậy, để đáp ứng được mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản
của chủ sở hữu, hoạt động đầu tư cần được tiến hành một cách bài bản, có
chiến lược trong việc tìm kiếm, lựa chọn và có sự kiểm soát chặt chẽ trong
việc thực hiện các dự án đầu tư. Nếu không dễ dẫn đến tình trạng đầu tư lãng
phí gây tổn hại đến nguồn lực của doanh nghiệp và lợi ích của nhà đầu tư.

tra tài chính mang tính chất tổng hợp và thường xuyên trong mọi hoạt động
sử dụng tiền tệ gắn liền với việc tạo lập, sử dụng các quỹ tiền tệ. Phạm vi của
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kiểm tra tài chính bao trùm lên tất cả các mặt, các lĩnh vực trong hoạt động
kinh tế-tài chính. Tổ chức kiểm tra tài chính một cách khoa học sẽ giúp cho
nhà quản lý nắm chính xác, toàn diện về tình hình tài chính để điều hành và
kiểm soát các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng
thời phát hiện kịp thời những tồn tại và nhanh chóng đưa ra những quyết
định điều chỉnh phù hợp.
Để đạt được hiệu quả, công tác kiểm tra tài chính cần phải tuân thủ
những nguyên tắc cơ bản:
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
- Nguyên tắc chính xác, khách quan, công khai, thường xuyên và phổ
cập.
- Nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả.
Kiểm tra tài chính là công tác thường xuyên, diễn ra trong mọi hoạt
động của doanh nghiệp. Có rất nhiều cách thức để tiến hành kiểm tra: có thể
kiểm tra toàn diện tổ chức và việc thực hiện kế hoạch tài chính; có thể kiểm
tra chuyên đề (kiểm tra trọng điểm) chỉ tập trung vào một vài nghiệp vụ tài
chính nhất định cần quan tâm hoặc một bộ phận quan trọng nào đó; có thể
kiểm tra điển hình (kiểm tra chọn mẫu) lựa chọn một số đơn vị hoặc nghiệp
vụ tài chính đặc trưng làm điển hình để kiểm tra; có thể kiểm tra qua chứng
từ (kiểm tra gián tiếp) dựa vào các chứng từ, sổ sách, báo biểu, báo cáo…
của đơn vị được kiểm tra; cũng có thể kiểm tra thực tế (kiểm tra trực tiếp) tại
nơi diễn ra các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị chịu sự kiểm tra. Mỗi
phương pháp kiểm tra có những ưu và nhược điểm nhất định do đó cán bộ
làm công tác kiểm tra tài chính cần kết hợp chặt chẽ các phương pháp trên,
tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể để lựa chọn phương pháp kiểm tra cho phù hợp.
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A

Phân chia cổ tức
Phân tích và hoạch định tài chính
Quan hệ với nhà đầu tư
Quản trị bảo hiểm và rủi ro
Phân tích và hoạch định thuế
Phòng Kế toán
Kế toán chi phí
Quản trị chi phí
Xử lý dữ liệu
Sổ sách kế toán
Báo cáo cho cơ quan Nhà nước
Kiểm soát nội bộ
Lập các báo cáo tài chính
Lập kế hoạch tài chính
Lập dự báo tài chính
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐÔC
PHÓ GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC
TÀI CHÍNH
PHÓ GIÁM ĐỐC
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Thông tin kế toán là tiền đề cho thông tin tài chính. Thông tin kế toán
là các thông tin được phòng kế toán ghi nhận sau mỗi nghiệp vụ kinh tế phát
sinh. Thông tin kế toán này sau đó được sử dụng để tạo ra các thông tin tài
chính phục vụ cho việc ra các quyết định. Hình… mô tả việc sử dụng các
báo cáo tài chính phục vụ cho việc ra quyết định.
Sơ đồ 1.1. Hệ thống thông tin phục vụ việc ra quyết định quản lý
(Nguồn: Tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, môn học Phân
tích tài chính)
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A

ty.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty cổ phần Xây dựng Số 1 (VINACONEX 1) trước đây là doanh
nghiệp Nhà nước hạng 1, trực thuộc Tổng công ty Xuất nhập khẩu Xây dựng
Việt Nam – VINACONEX , được Bộ Xây dựng thành lập từ năm 1973 và
chuyển đổi thành Công ty cổ phần từ tháng 9 năm 2003, Nhà nước nắm giữ
51% vốn điều lệ.
Công ty cổ phần Xây dựng số 1 tiền thân là Công ty xây dựng Mộc
Châu trực thuộc Bộ xây dựng, được thành lập năm 1973 có nhiệm vụ xây
dựng toàn bộ khu công nghiệp Mộc Châu - tỉnh Sơn La. Đến năm 1977,
công ty được đổi tên là Công ty xây dựng số 11 trực thuộc Bộ xây dựng, có
trụ sở đóng tại Xuân Mai – Hà Sơn Bình có nhiệm vụ xây dựng Nhà máy bê
tông Xuân Mai và tham gia xây dựng Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình. Cuối
năm 1981 Công ty được Bộ xây dựng cho chuyển trụ sở về Hà Nội đựơc và
được Nhà nước giao nhiệm vụ xây dựng khu nhà ở lắp ghép tấm lớn Thanh
Xuân - Hà Nội. Năm 1984 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số
196/CT đổi tên Công ty xây dựng số 11 thành Liên hợp xây dựng nhà ở tấm
lớn số 1 trực thuộc Bộ xây dựng với nhiệm vụ chính là xây dựng nhà dân
dụng. Năm 1993 Liên hợp xây dựng nhà ở tấm lớn số 1 được đổi tên thành
Liên hợp xây dựng số 1 trực thuộc Bộ Xây dựng với nhiệm vụ chủ yếu là
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp. Ngày 15/4/1995 Bộ Xây
dựng ra quyết định sáp nhập Liên hợp xây dựng số 1 vào Tổng công ty xuất
nhập khẩu xây dựng Việt Nam – VINACONEX và từ đó công ty mang tên
mới là: Công ty xây dựng số 1 – VINACONEX 1.
Theo chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, ngày 29/8/2003
Bộ Xây dựng ra quyết định số 1173/QĐ - BXD về việc chuyển đổi doanh
nghiệp Nhà nước : Công ty xây dựng số 1 trực thuộc Tổng công ty XNK xây
dựng Việt Nam thành công ty cổ phần và từ đó tới nay công ty mang tên là

kinh doanh Công ty cổ phần số 0103002982 do Sở kế hoạch và đầu tư TP Hà
Nội cấp ngày 06/10/2003. Trong quá tình hoạt động do sự phát triển không
ngừng của thị trường, nhiều ngành nghề kinh doanh mới đã ra đời, cùng với
đó công ty cũng đã có sự mở rộng về thị trường và ngành nghề kinh doanh.
Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ bảy ngày
23/11/2007, ngành nghề kinh doanh hiện nay của Công ty bao gồm:
- Xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp;
- Xây dựng các công trình hạ tầng: giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước
và xử lý môi trường;
- Kinh doanh phát triển khu đô thị mới, hạ tầng khu công nghiệp và
kinh doanh bất động sản;
Trần Thị Lan Phương – QLKT46A

Trích đoạn Đặc điểm sản xuất kinh doanh của VINACONE Quy trình sản xuất.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status