LỜI MỞ ĐẦU
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt của kinh tế thị trường,
để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao đòi hỏi các doanh nghiệp phải
luôn có các biện pháp quản lý phù hợp với sự biến đổi của thị trường cũng
như tình hình thực tế của doanh nghiệp mình. Việc đảm bảo lợi ích cá nhân
cho người lao động là một động lực cơ bản trực tiếp khuyến khích người lao
động đem hết khả năng của mình nỗ lực phấn đấu sáng tạo trong sản xuất đem
lại hiệu quả kinh tế cao. Một trong những công cụ hiệu quả nhất nhằm đạt tới
mục tiêu trên là tiền lương trả cho người lao động. Tiền lương là đầu mối
quan trọng gắn kết người lao động và người sử dụng lao động. Thông qua tiền
lương, chủ doanh nghiệp đánh giá được trình độ của người lao động, bố trí
sắp xếp người lao động trong doanh nghiệp. Từ đó đưa ra các biện pháp đúng
đắn để tổ chức, quản lý lao động. Về phía người lao động, thông qua tiền
lương họ thấy được trình độ và khả năng cũng như vai trò và vị trí của mình
trong doanh nghiệp.
Trong cơ chế của nền kinh tế nước ta hiện nay, tiền lương vẫn là phần
thu nhập chủ yếu của người lao động. Do đó nó có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc kích thích người lao động hăng say với công việc. Nguợc lại đối
với doanh nghiệp, tiền lương lại là một phần của chi phí sản xuất. Do đó, việc
tính toán chi phí tiền lương sao cho phù hợp để vừa kích thích người lao động
vừa đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh đang trở thành một vấn đề vô cùng
quan trọng đối với các doanh nghiệp.
Cũng như bao doanh nghiệp khác, đối với Công ty xây dựng số 1, vấn
đề trả lương cho người lao động luôn được đặt lên hàng đầu. Ban lãnh đạo
Công ty luôn tìm cách phát huy một cách tối đa tác dụng của tiền lương. Một
trong những biện pháp quan trọng đó là hoàn thiện hình thức trả lương nhằm
thu hút và phát huy lao động có trình độ lành nghề, hết lòng vì công việc.
1
Sau một thời gian thực tập tại Công ty, được trực tiếp tiếp xúc và tìm
hiểu cặn kẽ về công tác tiền lương trong Công ty em đã hoàn thành chuyên đề
thực tập với đề tài: “Hoàn thiện công tác trả lương theo sản phẩm tại Công
Từ năm 1981 đến năm 1984 Công ty được chuyển trụ sở về Hà Nội và
được Bộ xây dựng và Nhà nước giao nhiệm vụ xây dựng khu nhà lắp ghép
tấm lớn Thanh Xuân - Hà Nội.
Năm 1984 chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã ký quyết định: 196/CT đổi
tên Công ty xây dựng số 11 thành Liên hợp xây dựng nhà ở tấm lớn số I - trực
thuộc Bộ xây dựng với nhiệm vụ chính là xây dựng nhà ở cho thủ đô Hà Nội.
Năm 1993 công ty đổi tên thành: Liên hiệp xây dựng số I trực thuộc Bộ
xây dựng theo quyết định số 173A/BXD-TCLĐ ngày 05 tháng 05 năm 1993
của Bộ trưởng Bộ xây dựng với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các công trình
dân dụng và công nghiệp.
3
Năm 1995 Bộ trưởng Bộ xây dựng ra quyết định số 704/BXD-TCLĐ
ngày 19 tháng 7 năm 1995 sáp nhập Liên hợp xây dựng số 1 vào Tổng công
ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam - VINACONEX và mang tên là:
CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ I – VINACONCO - I.
Theo chủ trương đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, ngày 29
tháng 08 năm 2003 Bộ xây dựng ra quyết định số 1173/QĐ-BXD về việc
chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước là Công ty Xây dựng số 1 trực thuộc Tổng
Công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam thành công ty cổ phần và mang
tên mới là: Công ty cổ phần xây dựng số 1 (VINACONEX-1).
Tên tiếng anh: Vietnam construction joint stock company No 1
Tên viết tắt : VINACONEX No 1.JSC
Số đăng ký kinh doanh: 0103002982 cấp lần đầu ngày 06 tháng 10 năm
2003 và cấp lại ngày 10 tháng 12 năm 2004 do Sở kế hoạch và đầu tư thành
phố Hà Nội cấp.
1.2. Nguyên tắc hoạt động, chức năng-nhiệm vụ của Công ty.
Về hình thức hoạt động, công ty là một thành viên hạch toán độc lập,
trực thuộc Tổng công ty xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam (VINACONEX).
Công ty xây dựng số I Hà Nội hoạt động theo các nguyên tắc cơ
bản sau đây :
đến chất lượng sản phẩm. Trong xây dưng, nguyên vật liệu có tính chất quyết
định đối với chất lượng của công trình. Công ty xây dựng số 1- Hà Nội với
đặc thù về sản phẩm là đơn chiếc do vậy mà nguyên vật liệu của công ty chủ
yếu là những nguyên vật liệu phục vụ cho nghành xây dựng như: xi măng, sắt,
5
cát, đá, sỏi.... Mặc dù công ty luôn đặt chất lượng của công trình lên hàng đầu
nhưng không có nghĩa là phải sử dụng nguyên vật liệu đắt tiền để thi công mà
còn phải xem xét đến yêu cầu, tính chất công trình như thế nào để từ đó sử
dụng nguyên vật liệu nào cho phù hợp vừa đảm bảo được yêu cầu về kỹ thuật
chất lượng và chi phí thấp làm tăng hiệu quả kinh tế. Do trên thị trường vật
liệu xây dựng hiện nay rất phong phú và đa dạng về chủng loại. Vì thế đối với
mỗi công trình công ty phải chọn lựa sử dụng các loại nguyên vật liệu với các
thông số, chỉ tiêu kỹ thuật, số lượng khác nhau. Để có được các loại nguyên
vật liệu đảm bảo chất lượng, công ty luôn có mối quan hệ tốt với các nhà cung
ứng như: Nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Công ty TNHH Hưng Thịnh. Bên cạnh
đó công ty cũng thực hiện công tác quản lý, giám sát nguyên vật liệu từ khâu
chuẩn bị cho đến thi công công trình nhằm tránh hao hụt do mất hay giảm
chất lượng nguyên vật liệu để hạn chế tối đa những nguyên vật liệu kém chất
lượng đưa vào quá trình sản xuất làm cho sản phẩm công ty co chất lượng
thấp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Công ty có trách nhiệm bảo đảm cân đối chỉ tiêu vật tư kỹ thuật và các
điều kiện vật chất cần thiết do Nhà nước đảm bảo để thực hiện đơn đặt hàng
của Nhà nước do các đơn vị trong và ngoài Công ty được giao thầu.
Công ty có quyền chủ động tìm nguồn vật tư để tự cân đối kế hoạch sản
xuất kinh doanh chung của toàn đơn vị.
Về tiêu thụ sản phẩm : Đối với những sản phẩm do đơn vị tự sản xuất
khai thác bằng nguồn vật tư tự cân đối hay gia công trên cơ sở hợp đồng với
khách hàng thì đơn vị toàn quyền ký hợp đồng tiêu thụ với các tổ chức kinh
doanh vật tư, thương nghiệp quốc doanh và các cơ sở kinh doanh khác.
Công ty được mở cửa hàng giới thiệu sản phẩm mới, thực hiện các dịch
Hiện nay đội ngũ cán bộ lãnh đạo của công ty gồm :
7
+ Giám đốc 1 người
+ Phó giám đốc 3 người
+Trưởng phòng công ty 5 người
+ Phó phòng công ty 8 người
+ Giám đốc Công ty 14 người
+ Đội trưởng sản xuất 1 người
+ Phó giám đốc Công ty 14 người
Tổng cộng 46 người
Công ty đã có văn bản phân công cụ thể nhiệm vụ của Giám đốc công
ty và các Phó giám đốc công ty.
Công ty đã xây dựng đựơc chức năng nhiệm vụ quyền hạn, mối quan
hệ làm việc của các phòng ban tham mưu giúp việc Giám đốc công ty và của
các Công ty, đội, xưởng trực thuộc công ty.
Các quy chế quản lý các mặt hoạt động của Công ty được xây dựng phù
hợp với tổ chức bộ máy.
1.3.3. Công nghệ và máy móc thiết bị
1.3.3.1 Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Ngành xây dựng là một ngành sản xuất có những sản phẩm đặc thù
nên sản phẩm của công ty mang tính đơn chiếc, thiết kế kỹ thuật, chất lượng
giá cả riêng biệt. Bên cạnh đó sản phẩm của ngành xây dựng trải qua nhiều
giai đoạn khác nhau, quá trình sản xuất lại phức tạp, liên tục. Do vậy các sản
phẩm của công ty đòi hỏi phải có các quy trình công nghệ riêng, phù hợp với
ngành xây dựng.
Do đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng cơ bản nên quá trình hoàn
thành một sản phẩm dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng công trình, hạng mục
công trình có quy mô lớn nhỏ khác nhau. Đối với một số công trình đặc biệt,
8
Công ty được Sở Xây dựng chỉ định thầu còn lại các công trình khác Công ty
cát, đá,
sắt...
Máy
trộn
Bê
tông
cốt
thép
Sản
phẩm
XD
thô
Sản
phẩm
xây
lắp
Gạch,
cát, xi
măng,
vôi...
Máy
trộn
vữa
Khối
xây
Nói tới xây dựng thì không thể không nhắc tới máy móc. Nó vừa là
phương tiện hoạt động, vừa là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng
suất và chất lượng công trình của công ty.
Nhận thức được vấn đề đó, mặc dù có nhiều khó khăn nhưng ban giám
đốc công ty với tinh thần trách nhiệm và quan tâm cao đã sáng tạo tìm ra
trách nhiệm đối với họ. Theo Mác ‘‘khi sức lao động trở thành hàng hoá thì
tiên lương là gía cả của sức lao động’’.
Người lao động bán sức lao động cho người sử dụng lao động và nhận
được khoản thu nhập gọi là tiền lương. Phần thu nhập này, phải đảm bảo cho
người lao động có thể tái sản xuất sức lao động và thoả mãn các nhu cầu
khác của họ. từ đó ta thấy tiền lương có các chức năng sau:
- Là công cụ thực hiện chức năng phân phối thu nhập quốc dân, chức
năng thanh toán giữa người lao động và sử dụng lao động .
- Nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc sử dụng tiền lương
trao đổi lấy các vật chất sinh hoạt cần thiết cho tiêu dùng.
- Tiền lương kích thích con người tham gia lao động vì đó là một bộ
phận của thu nhập, nó chi phối đến, mức sống của người lao động.
Thực tế trong các doanh nghiệp nước ta hiện nay tiền lương là nhân tố
chính tác động đến động lực lao động. Do vậy để đảm bảo có thể tạo động lực
cho người lao động thì tiền lương phải đảm bảo 3 nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc cân bằng thị trường: Nguyên tắc này đảm bảo sự ngang
nhau của tiền lương trả cho người lao động giữa các doanh nghiệp.Sự ngang
nhau này dựa trên cơ sở giá cả thị trường nếu không có sự cân bằng nó sẽ
ảnh hưởng đến cung - cầu lao động giữa các doanh nghiệp cũng như cung cầu
hàng hoá trên thị trường.
11
+ Nguyên tắc cân bằng nội bộ: Trong doanh nghiệp thì nguyên tắc này
đảm bảo phải trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau, nó dùng
thước đo hao phí lao động để trách giá so sánh và thực hiện trả lương. Đây là
những nguyên tắc rất quan trọng đảm bảo sự bình đẳng trong trả lương, làm
cho người lao động hài lòng với kết quả của mình đạt được, xoá đi những bất
hợp lý điều này có sức thuyết phục rất lơn đồi với người lao động.
+ Nguyên tắc cân bằng chi trả: nói lên sự giao động cùng chiều giữa kết
quả sản xuất kinh doanh của Công ty với tiền lương trả cho người lao động.
Nếu kết quả sản xuất kinh doanh tốt, lợi nhuận tăng thì tiền lương trả cho
qui định về hình thức thưởng khác nhau, thưởng trực tiếp, thưởng sau mỗi kỳ
sản xuất kinh doanh…
1.3.5- Các chương trình phúc lợi dịch vụ
Phúc lợi hay còn gọi là lương bổng đãi ngộ gián tiếp về mặt tài chính,
đó là khoản tiền trả gián tiếp cho người lao động ngoài tiền lương ra và tiển
thưởng nhằm hỗ trợ cuộc sống và động viên tinh thần cho người lao động.
Phúc lợi gồm hai phần chính: Theo luật pháp qui định, theo phúc lợi do các
Công ty tự nguyện áp dụng, một phần nhằm kích thích động viên nhân viên
làm việc và một phần nhằm duy trì lôi cuốn người có tài về làm việc cho
Công ty. Phúc lợi theo pháp luật là phân BHXH mà các doanh nghiệp, Công
ty phải thực hiện cho nhân viên của mình, gồm năm chế độ sau:
+ Chế độ trợ cấp ốm đau
+ Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
+ Chế độ hưu trí
+ Chế độ thai sản
+ Chế độ trợ cấp tử tuất.
13
Ngoài những chương trình phúc lợi do pháp luật qui định (BHXH) thì
trong các doanh nghiệp thường có một hình thức phúc lợi tự nguyện nhằm
khuyến khích nhân viên làm việc, yên tâm công tác và gắn bó với cơ quan
nhiều hơn, chương trình bảo hiểm y tế, chương trình bảo vệ sức khoẻ, trợ cấp
độc hại, trợ cấp nguy hiểm…
1.3.6. Các hình thức thù lao phí vật chất:
1.3.6.1Đào tao và phát triển người lao động:
Đây là hoạt động nhằm nâng cao và cập nhật kiến thức mới cho công
nhân viên để cho họ có tâm lý ổn định, tự tịn vào tay nghề của mình khi làm
việc. Mặt khác khi cho công nhân đi học hoặc đào tạo công nhân bằng hình
thức nào đó sẽ tạo cho họ một cảm giác về vai trò của mình, trong Công ty và
cũng cho họ thấy được mối quan tâm của Công ty đối với họ, từ đó tạo ra sự
gắn bó hết mình và thái độ lao động tích cực của người lao động.
đích sản xuất kinh doanh nhằm làm ra công trình đúng kế hoạch. Tiếp nhận
vốn đầu tư nhà nước giao không lớn nên từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ
chế thị trường, hoạt động tài chính của công ty gặp khó khăn, công ty luôn
tìm kiếm giải pháp để tăng nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, giữ vững và
ngày càng phát triển nguồn vốn. Bằng biện pháp năng động và hiệu quả như:
Đánh giá lại số vật tư thiết bị mua về, chuyển nhượng thanh lý số vật tư dư
thừa hoặc máy móc thiết bị cũ lạc hậu không phù hợp với quá rình sản xuất
kinh doanh, tích cực tìm kiếm công trình nhằm tăng nguồn vốn, trích nộp
khấu hao để bổ sung nguồn vốn cố định và sử dụng nguồn vốn lớn để bổ sung
phát triển xây dựng đầu tư chiều sâu để có lợi nhuận. Công ty sử dụng vốn cố
định để đổi mới kỹ thuật, công nghệ đồng thời cũng dùng vốn lưu động để
phục vụ sản xuất. Công tác quản lý và phát triển vốn của công ty trong những
năm gần đây như sau:
15
Biểu 3: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Biểu 4: Tình hình vốn.
Qua bảng số liệu trên ta thấy công ty bảo toàn được vốn ngân sách cấp.
Tổng vốn kinh doanh giảm đi 6.5% nhưng vốn tự bổ sung lại tăng 46.6% năm
sau so với năm trước. Như vậy trong những năm tới công ty phải tích cực
kiếm công ăn việc làm và mở rộng phạm vi cũng như loại hình xây dựng làm
tăng thu nhập cho CBCNV.
1.39.. Đặc điểm về thị trường:
Xây dựng là một lĩnh vực có thị trường rộng lớn, có tiềm năng phát
triển mạnh với tốc độ tăng trưởng khá cao, trong thời gian vừa qua nhờ các dự
án đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng như trong nước đã thực hiện khối
lượng xây dựng cơ bản rất lớn, đó là những tác nhân góp phần trong lĩnh vực
xây dựng nói chung được nâng cao cả về chất lượng và số lượng.
Theo tạp chí xây dựng số 5/1999, có trên 3400 doanh nghiệp xây lắp
thuộc mọi lĩnh vực xây dựng hoạt động trong phạm vi toàn quốc. Trong đó có
trên 1100 doanh nghiệp nhà nước và 2300 doanh nghiệp quốc doanh. Qua
Các loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh của doanh nghiệp :
- Các công trình xây dựng gồm :nhà , trường học, khách sạn,...
- Các công trình đường xá, cầu cống, kè hồ...
- Các công trình cấp nước
Biểu 5: Số liệu về kết quả tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ
Từ bảng trên ta có thể thấy được sự phát triển của công ty qua các năm,
năm sau cao hơn năm trước. Đây là một dấu hiệu đáng mừng trong khi nhiều
doanh nghiệp Xây dựng đang bị khủng hoảng làm ăn thua lỗ, công nhân phải
nghỉ việc do không có việc làm.
17
Thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp trên phạm vi
toàn quốc. Điều này đã được minh chứng bằng các công trình Công ty đã thi
công ở mọi nơi. Tuy nhiên thị trường chính của công ty vẫn là Hà Nội và các
tỉnh phía bắc, nguyên nhân là do trụ sở công ty đặt tại Hà Nội, công ty không
có chi nhánh ở các nơi trên cả nước, mặt khác số lượng thi công các công
trình ở các nơi khác không nhiều băng Hà Nội.
Biểu 6 : Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản lượng năm 2005
Từ bản trên ta có thể thấy công ty đã thực hiện tốt kế hoạch đặt ra trong
năm 2001. Ngoài ra công ty còn thực hiện vượt mức kế hoạch 2803 triệu đồng
tương ứng với 9,34 %. Trong đó kế hoạch sản lượng xây lắp vượt 1000 triệu,
hoạt động SXKD khác vượt 1803 tỷ. Nguyên nhân chính là do tốc độ đô thị
hóa ngày càng cao, mặt khác chính là do công ty đã có nhiều giải pháp kĩ
thuật mới được khách hàng tin cậy. Ngoài ra cũng phải kể đến lượng khách
du lịch vào Hà Nội trong năm nay cao hơn nhiều so với các năm trước vì Nhà
Nước đã có nhiều biện pháp thúc đẩy ngành du lịch phát triển, mà công ty lại
có kinh doamh dịch vụ du lịch.
Giá cả:
- Mục tiêu: bù đắp chi phí và có lãi
- Phương pháp định giá và mức gía hiện tại: được xây dựng trên căn
cứ của đơn gía và định mức xây dựng của Bộ Xây Dựng ban hành
Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp: các công ty xây dựng trong
ngành, không có đối thủ cạnh tranh chính.
1.3.10. Công tác dự thầu của công ty
Phòng Kinh tế - Kế hoạch có nhiệm vụ phối hợp với phòng Kỹ thuật -
Chất lượng lập hồ sơ, biện pháp thi công, chuẩn bị nhân lực và thiết bị dụng
19
cụ thi công, phối hợp với các Công ty để lập giá dự thầu. Trong đó các Công
ty thi công tham gia dự thầu phải chủ động trong việc nghiên cứu, tính toán
hồ sơ dự thầu đảm bảo phù hợp với điều kiện của hồ sơ mời thầu và điều kiện
của mình có thể đảm nhận thi công. Đồng thời, phòng Kinh tế - Kế hoạch
cũng có nhiệm vụ kết hợp chặt chẽ với đơn vị tham gia làm các thủ tục cần
thiết để đảm bảo xác suất thắng thầu cao.
Phòng Kỹ thuật - Chất lượng phải nghiên cứu kỹ bản vẽ chi tiết thi
công và hướng dẫn công nhân, các tổ chức sản xuất của đơn vị thực hiện đúng
yêu càu kỹ thuật của thiết kế, lập biện pháp thi công - an toàn lao động cho
toàn bộ công trình, cho từng công việc, hướng dẫn cho công nhân biết để thực
hiện trước thi công từng công việc đó.
Với các công trình và dự án đã được giao thầu thì các đơn vị phải cung
cấp đầy đủ các số liệu, văn bản cần thiết trong việc thanh quyết toán để làm
cơ sở cho việc ký và thanh lý hợp đồng. Tất cả các hợp đồng sau khi ký các
đơn vị phải gửi lại phòngkt kế hoạch.
Phương pháp làm việc của mối quan hệ là:
- Cùng nhau nghiên cứu, khảo sát rồi soạn thảo văn bản trình lên Giám
đốc duyệt trước khi ban hành.
- Cùng thống nhất quy ước, lề lối làm việc, thủ tục tiến hành phối hợp
giải quyết các vụ việc xảy ra.
- Trách nhiệm của mối bên là thông báo cho nhau các thông tin liên
quan một cách kịp thời và chính xác.
- Phối hợp các chương trình kế hoạch nhằm phục vụ mục tiêu, kế hoạch
chung của công ty, phân rõ trách nhiệm trong từng sự vụ: Chủ trì, phối hợp
hiệu quả kinh doanh lại tốt hơn. Việc giảm doanh thu và lợi nhuận của năm
21
2003 là do công ty đầu tư tập trung xây dựng cơ sở hạ tâng, xây dựng trụ sở
và mua sắm trang thiết bị máy móc phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh .
Năm 2004 doanh thu giảm so với 2003 là 9.401tr (1,16%). Lợi nhuận
giảm 432tr (2,3%). Mức lợi nhuận /doanh thu năm 2004 là 0,019, năm 2003
là 0,022. Như vậy là năm 2004 doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả sản xuất kinh
doanh đều kém 2003. Việc giảm doanh, thu lợi nhuận của năm 2004 so với
2003 là do công ty vừa tiếp tục sắp xếp lại cơ cấu tổ chức hoàn thiện hoạt
động sản xuất kinh doanh , tiếp tục đầu tư xây dựng thêm một nhà máy sản
xuất gạch cao cấp
Năm 2005 doanh thu tăng so với 2004 là 4.088 tr (5,7%). Mức doanh
lợi /doanh thu là 0,021 tăng so với năm 2004
Việc doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh năm 2005 đều tăng là
do công ty vừa tiếp tục ổn định giữ vững sản xuất kinh doanh vừa đa dạng
hoá ngành nghề kinh doanh, liên doanh liên kết làm đại lý máy móc thiết bị
cho các hãng trong nước và ngoài nước .
Với đội ngũ cán bộ kỹ sư công nhân kỹ thuật có trình độ cao, lành
nghề giàu kinh nghiệmvà luôn được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức
mới nhất về kinh tế kỹ thuật và quản lý cùng trang thiết bị hiện đại.
22
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG
THEO SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CP XÂY DỰNG SỐ 1
2.1. Sự hình thành quỹ tiền lương sản phẩm
*Công tác định mức lao động
Do số lượng công việc rất đa dạng nên mỗi công việc được định mức
rất khác nhau. Thậm chí ngay cả cùng một công việc nhưng ở mỗi công trình
khác nhau cũng được định mức khác nhau tuỳ thuộc vào vị trí địa lý, và mức
độ thắng thầu của các công trình. Từ việc định mức mức khác nhau dẫn đến
chưa đem lại được hiệu quả cao nhất cho Công ty.
*Công tác nghiệm thu sản phẩm:
Kiểm tra nghiệm thu sản phẩm để xác định xem cách tiến hành công
việc có đạt yêu cầu không, đánh giá từng công đoạn xem bố trí người đã hợp
lý hay chưa.
Công tác nghiệm thu sản phẩm còn nhằm mục đích kiểm tra tinh thần
làm việc của công nhân, cán bộ ở công trường xem có đạt hiệu quả tốt hay
không.
Cán bộ kiểm tra chất lượng của các đội tự kiểm tra và nghiệm thu sản
phẩm và tự chịu trách nhiệm đối với chất lượng sản phẩm của mình. Công
việc kiểm tra đòi hỏi cán bộ chuyên môn phải có trình độ cao, có các phương
tiện máy móc tiến tiến, hiện đại để đảm bảo độ chính xác khi nghiệm thu.
Hàng tháng, quý, năm dựa vào kết quả này để bình xét trả lương. Hiện nay,
đội ngũ làm công tác nghiệm thu sản phẩm ở Công ty chưa được chú ý đúng
mức, các cán bộ đánh giá chất lượng công trình chủ yếu dựa vào trực quan.
24
Do đó, tiền lương của công nhân chưa thực sự phản ánh đúng hiệu quả làm
việc của họ, nhất là đối với công nhân có sản phẩm không đạt yêu cầu.
2.2.Qui chế trả lương sản phẩm tại Công ty.
Căn cứ vào NĐ số 26/CP ngày 23/05/1993 qui định tạm thời về chế độ
tiền lương mới trong các doanh nghiệp Nhà nước.
Căn cứ NĐ số 28/CP ngày 28/03/1997 về đổi mới quản lý tiền lương,
thu nhập trong các doanh nghiệp nhà nước.
Thông tư hướng dẫn số 13/LĐ- TBXH-Trả Lương ngày 29/12/1998 của
Bộ LĐTB-XH.
Hướng dẫn số 592/ CV- HĐQT ngày 1/1/2002 về việc xây dựng qui
chế trả lương của Tổng Công Ty Xây Dựng Hà Nội.
Công ty xây dựng số 1 đã áp dụng qui chế trả lương với những nội
dung chính như sau:
- Phù hợp với qui chế trả lương của Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội.