Hoàn thiện hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp ở việt nam theo định hướng tiếp cận chuẩn mực kế toán công quốc tế - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

ĐẬU THỊ KIM THOA HOÀN THIỆN HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN ÁP
DỤNG CHO ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP Ở
VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN CHUẨN
MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học



1.1. Kế toán và qui trình xử lý thông tin kế toán 6
1.1.1. Đặc điểm và vai trò của thông tin kế toán 6
1.1.1.1. Khái niệm về kế toán 6
1.1.1.2. Phân loại kế toán 6
1.1.1.3. Đặc điểm và vai trò của thông tin kế toán 8
1.1.2. Qui trình xử lý thông tin kế toán 9
1.2. Tài khoản và hệ thống tài khoản kế toán .10
1.2.1. Tài khoản kế toán .10
1.2.1.1. Khái niệm .10
1.2.1.2. Phân loại tài khoản .11
1.2.2. Hệ thống tài khoản kế toán 12
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống tài khoản 14
1.3. Chuẩn mực kế toán công quốc tế và những vấn đề có liên quan đến việc xây
dựng hệ thống TKKT 18
1.3.1. Giới thiệu tổng quan chuẩn mực kế toán công quốc tế 18
1.3.2. Những vấn đề liên quan đến xây dựng hệ thống tài khoản kế toán 22
1.3.3. Kinh nghiệm áp dụng IPSASs tại một số quốc gia 24
1.3.3.1. Mỹ 24
1.3.3.2. Pháp 26
1.3.3.3. Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong quá trình nghiên cứu vận
dụng IPSASs 28 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN ÁP DỤNG
CHO CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Tổng quan về đơn vị hành chính sự nghiệp 31
2.1.1. Đặc điểm và phân loại đơn vị hành chính sự nghiệp 31
2.1.2. Đặc điểm và vai trò của thông tin kế toán HCSN 32
2.2. Giới thiệu tổng quan hệ thống kế toán áp dụng cho đơn vị HCSN ở Việt


KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Nguyên tắc ghi chép của các nhóm tài khoản
Phụ lục 2: Nội dung của IPSASs
Phụ lục 3: Tình hình áp dụng IPSAS tại các quốc gia trên thế giới
Phụ lục 4: Các nhóm tài khoản chính được trình bày trên các BCTC theo IPSASs
Phụ lục 4: Nội dung thay đổi về hệ thống tài khoản theo Thông tư 185/2010/TT-BTC
Phụ lục 5: Hệ thống TKKT áp dụng cho các đơn vị HCSN do BTC quy định theo Quyết
định 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/03/2006 kết hợp Thông tư 185/2010/TT-BTC đã sửa
đổi, bổ sung cho QĐ 19/2006/QĐ-BTC.
Phụ lục 7: Một số sơ đồ kế toán chủ yếu thể hiện mối quan hệ của các loại TK phục vụ
lập các BC liên quan đến các hoạt động trong đơn vị HCSN
Phụ lục 8: Đơn vị thực hiện khảo sát
Phụ lục 9: Bảng câu hỏi khảo sát
Phụ lục 10: Kết quả khảo sát
Phụ lục 11: Hoàn thiện hệ thống TKKT
Phụ lục 12: Sơ đồ mối quan hệ của các tài khoản trong các hoạt động tại đơn vị HCSN
theo hệ thống TKKT mới.

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát tri
ển khu vực Châu Á (Asian Development Bank)

TSCĐ Tài sản cố định
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
XDCB Xây dựng cơ bản
WB Ngân hàng thế giới (Word Bank)
nhập và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng như hiện nay.
Để có thể xây dựng được các BCTC cung cấp các thông tin kinh tế minh bạch,
chính xác về tình hình tài chính của Quốc gia thì cần phải có một hệ thống TKKT
phù hợp và có thể theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế. Hệ thống TKKT tác
động trực tiếp đến công tác kế toán tại đơn vị, có vai trò quan trọng trong việc thu 2nhận, phân loại và xử lý thông tin gắn liền với từng đối tượng kế toán và cung cấp
thông tin kế toán để lập ra các BCTC hữu ích theo yêu cầu của các đối tượng có nhu
cầu sử dụng. Trong khi đó, hệ thống TKKT đang áp dụng tại đơn vị công nói chung
và đơn vị HCSN nói riêng tại Việt nam mặc dù đã có nhiều sửa đổi, bổ sung nhưng
hiện nay còn rất nhiều hạn chế. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện hệ
thống TKKT khu vực công phù hợp với thông lệ quốc tế là một yêu cầu bức thiết
hiện nay.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống tài khoản kế
toán áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam theo định hướng
tiếp cận chuẩn mực kế toán công quốc tế” để làm luận văn cao học với mong
muốn nghiên cứu thực trạng vận dụng hệ thống TKKT tại các đơn vị HCSN ở Việt
Nam, đồng thời thông qua việc nghiên cứu về CMKT công quốc tế để đóng góp các
giải pháp hoàn thiện hệ thống TKKT đơn vị HCSN của Việt Nam.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hoàn thiện hệ thống TKKT áp dụng cho đơn vị
HCSN ở Việt Nam trên cơ sở kế thừa những ưu điểm mà hệ thống TKKT hiện tại
mang lại, hoàn thiện những vấn đề còn tồn tại của hệ thống này để nâng cao chất
lượng theo dõi các đối tượng kế toán và cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo
định hướng tiếp cận, hòa hợp với IPSASs công quốc tế nhưng vẫn phù hợp với đặc

BCTC. Nhưng chưa đưa ra những ưu điểm, chi tiết những hạn chế tồn tại và nguyên
nhân của những hạn chế để trên cơ sở đó đưa ra giải pháp thiết lập hệ thống TK và
BCTC.
- Lư Thị Thanh Nhàn, 2011. Tổ chức công tác kế toán cho các đơn vị HCSN có tổ
chức hoạt động sản xuất kinh doanh: đề tài nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán
tại đơn vị HCSN và đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống TK nhưng chỉ tập
trung vào xây dựng hệ thống TK để đáp ứng nhu cầu kế toán cho các đơn vị HCSN
có tổ chức sản xuất kinh doanh.
Nhìn chung, các đề tài đã nghiên cứu và đã đưa ra được những giải pháp hữu ích
góp phần hoàn thiện hệ thống TKKT đơn vị HCSN tại Việt Nam. Nhưng một số đề
tài một lúc đi vào nghiên cứu nhiều vấn đề, do đó khi nghiên cứu những hạn chế,
nguyên nhân và cơ sở để xây dựng hệ thống TKKT chưa thể đi sâu (đề tài của
Nguyễn Thị Tố Hoa, Nguyễn Chí Hiếu). Một số đề tài cũng đã tập trung chỉ đi vào
nghiên cứu xây dựng hệ thống TKKT nhưng áp dụng trong những hoạt động cụ thể
(đề tài của Lư Thị Thanh Nhàn) hay chỉ dựa trên một vài cơ sở để xây dựng (đề tài
của Trần Thị Ái Thúy) mà chưa bao hàm hết toàn bộ các đơn vị HCSN cũng như tất
cả các hoạt động tại đơn vị HCSN. 4Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu đã công bố, tác giả tiếp tục đi sâu vào nghiên
cứu để hoàn thiện hệ thống TK đơn vị HCSN tại Việt Nam với những điểm mới của
luận văn:
- Sẽ chỉ tập trung nghiên cứu sâu về hệ thống TKKT áp dụng cho đơn vị HCSN
tại Việt Nam;
- Tìm hiểu về đặc điểm và vai trò của thông tin kế toán đơn vị HCSN;
- Cơ sở xây dựng hệ thống TKKT đơn vị HCSN;
- Đánh giá việc vận dụng hệ thống TKKT trong công tác kế toán tại đơn vị HCSN

- Nghiên cứu các vấn đề về lý luận bằng phương pháp nghiên cứu định tính.
Thu thập thông qua các nguồn dữ liệu thứ cấp từ giáo trình, báo, tạp chí, luận văn,
luật, chuẩn mực, chế độ kế toán…. từ đó tổng hợp và phân tích nhằm hệ thống lý
luận về các vấn đề liên quan đến hệ thống TKKT đơn vị HCSN của Việt Nam cũng
như tình hình áp dụng trên thế giới.
- Nghiên cứu các vấn đề về thực tiễn thông qua phương pháp nghiên cứu định
tính và định lượng. Được thực hiện thông qua việc khảo sát thực tế, phỏng vấn trực
tiếp, thảo luận với các kiểm toán viên, giảng viên chuyên ngành, các cá nhân đã và
đang công tác tại các đơn vị HCSN thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn. Từ đó
thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích, đánh giá những ưu điểm cũng như những
hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế này để có thể đưa ra các giải
pháp hoàn thiện hệ thống TKKT đơn vị HCSN hiện tại.

6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
-

Chương 1: Lý luận chung về hệ thống TKKT.
-

Chương 2:
Thực trạng hệ thống
TKKT
áp dụng cho các đơn vị HCSN ở Việt
Nam hiện nay.

-

Chương 3:
Hoàn thiện hệ thống

xử lý và truyền đạt những thông tin về tài chính của một đơn vị kinh tế.
Theo Luật kế toán Việt nam, 2003: kế toán là quá trình thu thập, xử lý, kiểm tra,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời
gian lao động.
Từ các định nghĩa trên cho thấy rằng mặc dù mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau tương
ứng với mỗi quốc gia khác nhau có những cách định nghĩa riêng về kế toán, nhưng
nhìn chung mục đích cơ bản của kế toán vẫn là cung cấp các thông tin hữu ích cho việc
ra quyết định của các đối tượng có nhu cầu sử dụng. Các đối tượng sử dụng thông tin
không chỉ giới hạn trong phạm vi của một đơn vị mà ngày càng có nhiều đối tượng liên
quan cũng có nhu cầu sử dụng chúng. Kế toán có vai trò truyền đạt dữ liệu về các
thông tin tài chính đó để giúp các đối tượng sử dụng có quyết định tốt hơn, vì vậy, kế
toán được xem là ngôn ngữ của kinh doanh.
Kế toán có 2 chức năng là chức năng thông tin và kiểm soát, để thực hiện chức
năng này kế toán có nhiệm vụ: thu thập, ghi nhận và xử lý các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính phát sinh trong quá trình hoạt động tại đơn vị; kiểm tra giám sát các hoạt động về
nguồn hình thành, sử dụng, và quản lý tài chính tại đơn vị nhằm ngăn ngừa các hành vi
vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán; phân tích và cung cấp thông tin về kinh tế, tài
chính đến các đối tượng có nhu cầu sử dụng.
1.1.1.2 Phân loại kế toán
Có nhiều cách để phân loại kế toán, nhưng nhìn chung kế toán được phân loại dựa
trên các nhân tố sau:
 Phân loại theo tính chất và đối tượng sử dụng thông tin.
Theo cách phân loại này kế toán gồm có 2 loại: kế toán tài chính và kế toán quản 7trị.
- Kế toán tài chính là việc thu thập xử lý, kiểm tra phân tích và cung cấp thông tin

- Kế toán chi tiết: thu thập, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin chi tiết về hoạt 8động kinh tế, tài chính của một đơn vị. Kế toán chi tiết không chỉ sử dụng thước đo tiền
tệ mà còn sử dụng thước đo hiện vật, thời gian lao động… để chi tiết hóa các thông tin
đã được phản ánh ở kế toán tổng hợp.
 Căn cứ vào cách ghi chép và thu nhận thông tin
- Kế toán đơn: phản ánh đối tượng kế toán một cách độc lập, riêng lẻ, không thể
hiện mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán với nhau.
- Kế toán kép: phản ánh sự vận động của các đối tượng kế toán dưới ảnh hưởng
của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, trong mối quan hệ khách quan giữa các đối tượng
kế toán.

1.1.1.3 Đặc điểm và vai trò của thông tin kế toán
Kế toán có nhiệm vụ ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá khứ, sau đó
xử lý và cung cấp các thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Thông tin kế toán
mang tính chất toàn diện, thường xuyên, liên tục, có hệ thống và luôn là những thông
tin thể hiện tính hai mặt của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình hoạt động: tài sản và nguồn
hình thành tài sản, chi phí và thu nhập, tăng và giảm.
Thông qua các thông tin trình bày trên BCTC, các đối tượng sử dụng có thể:
- Đưa ra các quyết định thích hợp về đầu tư, tín dụng hay các quyết định tương tự
khác.
- Dự đoán được dòng tiền trong tương lai của đơn vị. Có thể dự đoán được số
tiền, thời gian, và mức rủi ro của những khoản tiền sẽ thu từ cổ tức, tiền lãi, kết quả từ
việc mua bán hay các khoản nợ vay…
- Đánh giá về nguồn lực kinh tế của một đơn vị, nguồn hình thành các nguồn lực
này và các trường hợp phát sinh đã làm tăng giảm nguồn lực.

từ để làm căn cứ pháp lý cho việc ghi sổ và kiểm tra; trình tự luân chuyển chứng từ;
kiểm tra chứng từ. Ngoài ra, chế độ chứng từ cũng quy định việc lưu trữ chứng từ, sử
dụng, quản lý, in và phát hành biểu mẫu chứng từ kế toán. Việc lập chứng từ kế toán
đảm bảo tính chất hợp lệ và hợp pháp của các nghiệp vụ kinh tế tại đơn vị.
Chứng từ kế toán tạo nên hệ thống thông tin đầu vào, là nguồn cung cấp dữ liệu
cho hệ thống xử lý thông tin. Do đó, chỉ có những nghiệp vụ kinh tế phát sinh nào có
đầy đủ các chứng từ hợp lệ theo quy định thì mới được dùng để ghi nhận kế toán.
• Hệ thống xử lý thông tin: đây là giai đoạn thực hiện việc phân loại, xử lý
thông tin đầu vào có tính rời rạc thành thông tin có tính hệ thống theo trình tự thời gian,
theo đối tượng kế toán và theo từng hoạt động của đơn vị kế toán. Hệ thống xử lý thông
tin gồm 2 giai đoạn: giai đoạn ghi nhận vào hệ thống TKKT và ghi nhận vào hệ thống
sổ kế toán.
Hệ thống TKKT để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát
sinh theo nội dung kinh tế phát sinh. Chúng theo dõi số hiện có, tình hình vận động
tăng, giảm của các đối tượng kế toán trong quá trình hoạt động của đơn vị để cung cấp
thông tin về các đối tượng kế toán.
Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống, lưu trữ toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài 10chính phát sinh có liên quan đến đơn vị kế toán theo từng đối tượng kế toán, từng nội
dung và trình tự thời gian. Sổ kế toán bao gồm sổ tổng hợp và sổ chi tiết
Tùy theo nhu cầu thông tin cần cung cấp mà hệ thống này dựa vào hệ thống TK và
các sổ kế toán để chọn lọc, sắp xếp, xử lý thông tin tạo ra cơ sở dữ liệu cần thiết cho hệ
thống thông tin đầu ra.
• Hệ thống thông tin đầu ra: trên cơ sở dữ liệu có được từ hệ thống xử lý, hệ
thống thông tin đầu ra tiếp tục xử lý, tóm tắt, tổng hợp các thông tin cần thiết, hữu ích
về tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động cũng như một số

có cũng như tình hình biến động của từng loại tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí
trong quá trình hoạt động của đơn vị kế toán”
(1)
Qua định nghĩa này có thể thấy một số đặc điểm cơ bản của phương pháp tài
khoản:
(2)

o Về hình thức: được trình bày dưới dạng sổ kế toán tổng hợp để theo dõi số
hiện có, tình hình biến động của các đối tượng kế toán bằng thước đo tiền tệ.
o Về nội dung: phản ánh thường xuyên, liên tục về tình hình biến động của
các đối tượng kế toán trong quá trình hoạt động của đơn vị.
o Về chức năng: kiểm tra, giám sát một cách thường xuyên, liên tục về tình
hình tiếp nhận, sử dụng và bảo vệ từng loại tài sản, nguồn kinh phí, tình hình phát
sinh chi phí, doanh thu, thu nhập của đơn vị.
Để dễ phân biệt, mỗi TK được đặt tên hay được đánh số hiệu riêng. Đặt tên cho TK
thường ngắn gọn, dễ hiểu và phải mô tả được nội dung kinh tế đặc trưng của các
nghiệp vụ kinh tế liên quan đối tượng kế toán mà nó ghi nhận. Số hiệu được đánh theo
một trật tự nhất định và dễ nhận biết để tạo thuận lợi cho việc trình bày TK trong sổ kế
toán.
Xuất phát từ tính khách quan là bất kỳ loại tài sản hay nguồn vốn nào cũng bao
gồm 2 mặt đối lập nhau như: tiền mặt: thu- chi, nguyên vật liệu: nhập- xuất, nguồn vốn
kinh doanh: tăng- giảm, các khoản vay: vay- trả nợ… Nên TK được chia làm 2 bên:
bên trái TK gọi là bên Nợ (Debit), bên phải TK gọi là bên Có (Credit) để phản ánh và
giám đốc 2 mặt đối lập đó.
TK được mở cho từng đối tượng kế toán có nội dung kinh tế riêng biệt, thường
được trình bày dưới dạng một trang sổ, các trang này đóng lại thành quyển và gọi là sổ
cái TK.

1.2.1.2 Phân loại tài khoản
Phân loại TKKT là việc sắp xếp các TKKT vào từng loại, từng nhóm theo tiêu thức

tài sản, nguồn vốn tại thời điểm báo cáo.
- Nhóm TK nghiệp vụ: là những TK được xây dựng để đáp ứng yêu cầu tập hợp,
tính toán có tính chất nghiệp vụ nhằm báo cáo thông tin cần thiết theo yêu cầu quản
lý. Như TK dùng để tập hợp chi phí, tính giá thành hay xác định kết quả kinh
doanh.
 Phân loại theo mối quan hệ với BCTC: các TK được phân thành 3 loại: TK
thuộc BCĐKT, TK ngoài BCĐKT và TK thuộc báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
- TK thuộc BCĐKT: bao gồm các TK có số dư cuối kỳ được dùng để lập
BCĐKT như TK tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
- TK ngoài BCĐKT: dùng để phản ánh một số tài sản không thuộc quyền sở
hữu của đơn vị nhưng đơn vị đang tạm thời quản lý, sử dụng và một số đối tượng
cần theo dõi chi tiết phục vụ cho yêu cầu quản lý.
- TK thuộc báo cáo kết quả hoạt động: các TK phản ánh doanh thu, chi phí…

Nguyên tắc ghi chép của các nhóm TK được đính kèm phụ lục 1- trang 1

1.2.2 Hệ thống tài khoản kế toán
Hệ thống TKKT là tập hợp tất cả các TK kế toán sử dụng tại đơn vị, được phân loại
và sắp xếp thành từng loại, từng nhóm… dựa trên những nguyên tắc nhất định để thực 13hiện việc xử lý thông tin gắn liền với từng đối tượng kế toán nhằm phục vụ cho việc
tổng hợp và kiểm tra, kiểm soát
Việc tập hợp, phân loại, xử lý thông tin của từng đối tượng kế toán qua hệ thống
TKKT sẽ có được thông tin đầy đủ, toàn diện về tình hình vận động của các loại tài
sản, nguồn vốn cũng như tình hình và kết quả các hoạt động tại đơn phục vụ cho việc
lập các BC đáp ứng yêu cầu quản lý của đơn vị cũng như các đối tượng sử dụng khác
khăn trong công tác kế toán. Tiêu biểu cho xu hướng này là hệ thống kế toán Pháp,
Nga.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống tài khoản
Việc xây dựng hệ thống TKKT để tạo ra thông tin hữu ích cho các đối tượng sử
dụng chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Nó phụ thuộc vào các nhân tố
thuộc môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, môi trường văn hóa- giáo dục- xã
hội và cơ sở để ghi nhận, trình bày thông tin kế toán.
a. Môi trường pháp lý
 Nền kinh tế và cơ chế quản lý nền kinh tế
Mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử sẽ có những đường lối về kinh tế khác
nhau. Và tương ứng với mỗi nền kinh tế này sẽ có những thể chế chính trị, cơ chế quản
lý kinh tế phù hợp. Với hệ thống kế toán là một trong những công cụ để Nhà nước
quản lý nền kinh tế thì nó cũng không ngoại lệ, mỗi biến đổi của nền kinh tế luôn đòi
hỏi phải có những thay đổi tương thích của hệ thống TKKT để đáp ứng yêu cầu ghi
nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng.
Nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung: là nền kinh tế dựa trên cơ sở chế độ sở hữu
công cộng về tư liệu sản xuất, Nhà nước xây dựng và quản lý nền kinh tế theo một kế
hoạch thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Hoạt động của các đơn vị chịu sự chỉ
đạo, chi phối và kiểm soát chặt chẽ, trực tiếp từ Nhà nước. Với đặc trưng như vậy đòi
hỏi việc xây dựng hệ thống TKKT phải được tổ chức trên cơ sở đơn giản, thống nhất,
giúp cho Nhà nước có thể dễ dàng tổng hợp và kiểm soát hoạt động của các đơn vị.
Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc ban hành hệ thống TKKT này.
Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước: là nền kinh tế hỗn hợp vừa tuân
theo sự vận động, điều tiết của thị trường vừa có sự quản lý điều tiết của Nhà giúp giải
quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công
bằng và tiến bộ xã hội. Do đó, hệ thống TKKT phải đáp ứng và thoả mãn nhu cầu quản
lý của đơn vị theo yêu cầu tự điều chỉnh của thị trường, nhưng cũng phải đảm bảo yêu
cầu quản lý Nhà nước. Tương xứng với nền kinh tế này thì Nhà nước vẫn giữ vai trò

gia có thể quản lý và điều hành NSNN theo đầu vào hay đầu ra. Theo đầu vào cách làm
truyền thống, thích hợp với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi lập dự toán NS chỉ
căn cứ vào nguồn thu để phân bổ cho chi, phù hợp với quan điểm này Chính phủ quốc
gia sẽ lựa chọn kế toán trên cơ sở tiền mặt vì tính đơn giản của nó và khả năng cung
cấp thông tin một cách kịp thời. Còn theo đầu ra là phương thức quản lý NS hiện đại,
lập dự toán theo chương trình hay kết quả đầu ra. Chính phủ không chỉ quan tâm đến
dòng tiền vào và ra mà còn quan tâm đến các thông tin về tình hình tài sản của Nhà
nước, lúc này phải áp dụng kế toán trên cơ sở dồn tích (Mai Vinh, 2007).
Luật thuế: là công cụ mà Nhà nước dùng để quản lý nền kinh tế, điều tiết thu nhập,
điều chỉnh lạm phát… Những biến đổi về thuế sẽ tác động mạnh mẽ đến kế toán. Tại
một số quốc gia có thị trường chứng khoán giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế như
Anh, Mỹ… thì thuế có ảnh hưởng không đáng kể đến việc tính toán lợi nhuận của kế
toán, kế toán có thể lựa chọn các phương pháp kế toán phù hợp với chuẩn mực để phản 16ánh trung thực và hợp lý tình hình hoạt động tại đơn vị, còn những gì không phù hợp
với Luật thuế thì sẽ được điều chỉnh lại khi lập tờ khai thuế. Ngược lại, tại các quốc gia
có thị trường chứng khoán còn hạn chế thì kế toán có mối quan hệ chặt chẽ với thuế,
việc ghi chép sổ sách kế toán phải tuân thủ các quy định thuế, điều này khiến cho kế
toán tại đơn vị sẽ ít quan tâm đến việc trình bày trung thực hợp lý mà chủ yếu chỉ quan
tâm đến việc tuân thủ các quy định thuế.
b. Môi trường hoạt động
 Loại hình, lĩnh vực, đặc điểm và quy mô hoạt động của đơn vị kế toán
Trong nền kinh tế tồn tại rất nhiều loại hình hoạt động trong các lĩnh vực nhau với
đặc điểm và quy mô lớn nhỏ cũng rất khác biệt. Chính vì vậy, mỗi đơn vị sẽ cần sử
dụng những chế độ kế toán tương xứng, một hệ thống TKKT phù hợp để có thể phản
ánh tình hình biến động của các đối tượng kế toán phát sinh đặc thù trong đơn vị mình

Ngày nay, xu hướng hội nhập, hợp tác phát triển kinh tế giữa các nước trên thế giới
và khu vực ngày càng mạnh mẽ đã dẫn đến nhu cầu cần có sự hài hoà, hòa hợp các
chuẩn mực, nguyên tắc kế toán của các quốc gia với thông lệ quốc tế để có một ngôn
ngữ kế toán chung cho sự kết nối các thông tin tài chính tạo thuận lợi cho khả năng hợp
tác toàn cầu. Tất cả những điều đó đã dẫn đến xu hướng các quốc gia chú trọng hơn
trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho kế toán, xây dựng CMKT, hệ thống
TKKT quốc gia theo sát với thông lệ kế toán quốc tế để có thể cung cấp các thông tin
tài chính theo yêu cầu của quá trình hội nhập.
c. Môi trường văn hóa, giáo dục và xã hội
Môi trường văn hóa- giáo dục- xã hội mang nét đặc trưng riêng gắn liền với sự phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia. Tác động của nhân tố này được biểu hiện qua khả năng
nhận thức, trình độ hiểu biết, khả năng tư duy, vận dụng lý thuyết, chế độ kế toán áp
dụng vào công tác kế toán của những người làm công tác kế toán tại mỗi quốc gia hay
tại mỗi đơn vị kế toán. Từ đó đã hình thành nên những chuẩn mực, nguyên tắc, quan
điểm, phương thức kế toán riêng biệt và chất lượng thông tin kế toán cung cấp tại các
quốc gia.
Ở các nước với nền giáo dục phát triển, có những cơ hội tiếp cận, lĩnh hội từ nhiều
kiến thức kế toán và trình độ công nghệ tiên tiến thì đã có thể xây dựng được các khuôn
mẫu lý thuyết về kế toán, hệ thống CMKT quốc gia cho lĩnh vực tư cũng như lĩnh vực
công. Các chuẩn mực này quy định những nguyên tắc kế toán chung, căn bản, tổng
quát làm cơ sở để hạch toán kế toán, và cũng không cần thiết phải xây dựng hệ thống
TKKT thống nhất, cụ thể cho các đơn vị. Kế toán tại đơn vị có thể căn cứ vào những
nền tảng kiến thức đó để xây hệ thống TKKT riêng phù hợp với đơn vị mình cũng như
hạch toán chi tiết cho các TK đó phù hợp với quy định chung.
Ngược lại, ở các quốc gia chưa phát triển hay đang phát triển thì kinh nghiệm về kế
toán còn nhiều hạn chế. Khuôn mẫu, chuẩn mực và các quy định về kế toán chưa được
đầy đủ. Nên các quy định thường phải chi tiết và hệ thống TK cũng cần được quy định
thống nhất, các đơn vị chỉ căn cứ vào đặc điểm hoạt động riêng của mình để lựa chọn
các TK phù hợp.


1.3. Chuẩn mực kế toán công quốc tế và những vấn đề có liên quan đến việc xây
dựng hệ thống tài khoản kế toán
1.3.1 Giới thiệu tổng quan chuẩn mực kế toán công quốc tế
Trong quá trình hòa nhập, hội nhập nền kinh tế, các đối tượng sử dụng thông tin
gặp nhiều trở ngại trong việc hiểu, phân tích, đánh giá và so sánh các BCTC giữa các
quốc gia với nhau khi mà quan điểm của các quốc gia có nhiều sự khác biệt về hình
thức tổ chức, phân loại, xử lý nghiệp vụ, lập, trình bày BCTC. Chính vì vậy, thế giới đã

(3)

TiRon TuDor & MuTiu, 2006


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status