Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị trường đại học và cao đẳng trên địa bàn tỉnh phú yên - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ TUYẾT TRINH HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TẠI CÁC ĐƠN VỊ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ CAO
ĐẲNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2012
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự
hướng dẫn của PGS.TS Mai Thị Hoàng Minh. Các nội dung nghiên cứu và
kết quả trong đề tài là hoàn toàn trung thực.
TP. HỒ CHÍ MINH , tháng 10 năm 2012

Tác giả


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 





MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU. 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI
CÁC ĐƠN VỊ KẾ TOÁN 8


CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI CÁC
ĐƠN VỊ TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ YÊN 44

2.1. Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị sự nghiệp có thu tại các
trường Cao đẳng, Đại học trên địa bàn Tỉnh Phú Yên 44

2.1.1. Nội dung tổ chức công tác kế toán 44

2.1.1.1. Tổ chức chứng từ kế toán 44

2.1.1.2 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán 46

2.1.1.3. Tổ chức hệ thống sổ sách kế toán 49

2.1.1.4. Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán 54
2.1.2. Tổ chức bộ máy kế toán 56
2.2. Khảo sát thực trạng áp dụng hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế
toán, hệ thống sổ sách kế toán và hệ thống báo cáo tài chính tại các trường Đại học
và Cao đẳng trên địa bàn Tỉnh Phú Yên 57
2.2.1. Phạm vi và đối tượng khảo sát 57
2.2.2. Nội dung khảo sát 57
2.2.3. Phương pháp khảo sát 57
2.2.4. Kết quả khảo sát 57
2.2.4.1. Về hệ thống chứng từ kế toán 57
2.2.4.2. Về hệ thống tài khoản kế toán 60
2.2.4.3. Về hệ thống sổ sách kế toán 62
2.2.4.4. Về hệ thống báo cáo kế toán 64
2.2. Đánh giá thực trạng tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị trường Cao
đẳng, Đại học trên địa bàn tỉnh Phú Yên 66
2.2.1. Những kết quả đạt được 66


1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
ân sách Nhà nước là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, là công cụ mà Nhà
nước để sử dụng trong quản lý vĩ mô của nền kinh tế – xã hội. Nhà nước có thể phân bổ
trực tiếp hoặc gián tiếp các nền tài chính của quốc gia, định hướng phát triển sản xuất,
hình thành nền cơ cấu kinh tế mới, điều chỉnh thu nhập nhằm thực hiện công bằng xã
hội Ngân sách Nhà nước còn đảm bảo cho Nhà nước phát huy được sức mạnh của mình,
bảo vệ đất nước, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, với việc phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa hiện đại hóa
được đặt ra rất nặng nề. Để thực hiện nhiệm vụ này, nhân tố con người đóng vai trò rất
quan trọng . Do đó, trong những năm qua Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách
quan tâm, hỗ trợ và đầu tư để phát triển ở lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại các trường cao
đẳng, đại học, nhất là các trường Đại học và Cao đẳngở địa phương. Được sự đầu tư từ
ngân sách Nhà nước cấp, tỉnh Phú Yên đã có những bước phát triển đáng kể, các trường
Đại học và Cao đẳng trên địa bàn Tỉnh đã ngày càng lớn mạnh và thu hút được đông đảo
nhiều đối tượng học sinh – sinh viên trên toàn quốc. Hầu hết, các đơn vị này là những đơn
vị sự nghiệp có thu nên nhiệm vụ của các đơn vị này là phải sử dụng vốn, kinh phí của
ngân sách Nhà nước cấp phát cho có hiệu quả, trên cơ sở chấp hành đầy đủ các chế độ
quản lý tài chính, quản lý ngân sách là một vấn đề được các đơn vị đặc biệt quan tâm.
Để phục vụ cho việc quản lý tốt các nguồn thu, các khoản chi tại các đơn vị đã có
Luật ngân sách Nhà nước, Luật kế toán, các CMKT cùng các văn bản hướng dẫn. Theo sự
phát triển của quy luật vận động khách quan hoạt động kinh tế ở các đơn vị, BTC cũng đã
ban hành các văn bản phù hợp với công tác kế toán trong tình hình mới như: Chế độ kế
toán đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, đơn vị thực hiện chế độ khoán biên chế và kinh
phí quản lý hành chính.
Tổ chức công tác kế toán tại các trường học đóng vai trò rất quan trọng. Với chức

trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở hệ thống hóa và phát triển các vấn đề cơ sở lý luận và khảo sát thực
trạng về tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp có thu tại một số các trường Đại
học và Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Phú Yên nhằm phân tích đánh giá và đưa ra các giải
pháp nhằm hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán tại các đơn vị trường Đại học và Cao
đẳng trên địa bàn Tỉnh Phú Yên. 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn có đối tượng nghiên cứu là tổ chức hạch
toán kế toán trong các trường Đại học và Cao đẳng hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chỉ nghiên cứu sâu vào tổ chức công tác kế toán các đơn
vị hành chính sự nghiệp có thu tại các trường Đại học và Cao đẳng của Tỉnh Phú yên
(Trường Đại học Phú Yên, Trường Đại học xây dựng miền Trung, Trường Cao đẳng nghề
Phú Yên và Trường Cao đẳng Công nghiệp Tuy Hoà) và không nghiên cứu về tổ chức
công tác kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp có thu khác.
4. Tổng quan và điểm mới của luận văn:
Tổ chức hạch toán kế toán có vai trò quan trọng trong việc nối liền giữa lý thuyết
hạch toán kế toán với thực tế thực hành công việc kế toán. Nói đến tổ chức kế toán là nói
đến tổ chức các phương pháp kế toán và tổ chức nhân sự kế toán theo từng phần hành kế
toán cụ thể của một đơn vị cụ thể nhằm thu nhận, xử lý và cung cấp những thông tin về
hoạt động kinh tế tài chính ở đơn vị một cách nhanh nhất, đầy đủ và trung thực nhất.
Trong các nghiên cứu trước đây về tổ chức hạch toán kế toán, các tác giả chủ yếu
đề cập đến nguyên lý và nguyên tắc chung về tổ chức hạch toán kế toán; đặc điểm tổ chức
hạch toán kế toán trong một số loại hình doanh nghiệp đặc thù. Riêng lĩnh vực tổ chức
hạch toán kế toán trong các đơn vị sự nghiệp, ở Việt Nam có một số ít tác giả nghiên cứu
về một số khía cạnh của tổ chức hạch toán kế toán. Trong số đó là:
(1) Trần Thị ái Thúy (2010), ‘Xây dựng hệ thống tài khoản kế toán áp dụng chung cho

kế toán hành chính sự nghiệp của Việt Nam hiện hành. Trong đây, tác giả đề cập đến sửa
đổi trong chế độ hành lang pháp lý, trong tài khoản, trong báo cáo, trong cách thức ghi
chép các đối tượng kế toán. Nhưng nếu xét về tổng thể thì đề tài cao học chỉ mới đề cập ở
mức độ khái quát và còn chung chung, chưa đi vào cụ thể cũng như mức độ vận dụng
chuẩn mực quốc tế để mới ở mức độ cơ bản nhất.
(4) Bộ Tài chính (2011), ‘Hướng dẫn thực hành chế độ kế toán đơn vị hành chính sự
nghiệp và Quy định mới về cơ chế, chính sách tài chính năm 2011’, In lần thứ 1, 535 tr ;
28 cm.
Tài liệu tổng hợp giữa các văn bản pháp luật áp dụng trong đơn vị hành chính sự
nghiệp bao gồm các cơ chế, chính sách thực hiện liên quan đến ngân sách, kế toán tại
những đơn vị này với những văn bản mới dành cho các đơn vị từ năm 2011. 5
(5) Bộ Tài chính (2012), ‘Hướng dẫn thực hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp năm
2012 Các quy chế mới nhất về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước ở đơn vị hành chính
sự nghiệp', Nhà xuất bản tài chính, 496 trang, nộp lưu chiểu quý I / 2012.
Tài liệu cập nhật về hướng dẫn chi tiết về chế độ kế toán áp dụng trong các đơn vị
hành chính sự nghiệp cùng với các quy định về quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước từ
lúc được dự toán, cấp phát cũng như quy trình quyết toán ngân sách tại những đơn vị này.
(6) Trong những năm qua BTC đã ban hành chế độ cụ thể hướng dẫn thực hành kế toán
ở các đơn vị HCSN nói chung. Tuy nhiên cho đến nay, các quy định này được dùng
chung cho mọi đơn vị HCSN, không phân biệt lĩnh vực, không tính đến đặc thù của từng
ngành khác nhau. Trên thực tế nhận thức được sự khác biệt trong tổ chức hoạt động của
các ngành, lĩnh vực mà đã có tác giả nghiên cứu về tổ chức kế toán ở từng loại hình đơn
vị cụ thể. Một trong số đó là tác giả Nguyễn Thị Minh Hường với công trình Luận án tiến
sĩ kinh tế với đề tài “Tổ chức kế toán ở các trường Đại học trực thuộc Bộ Giáo dục Đào
tạo”. Trong công trình này tác giả chỉ trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kế
toán nói chung áp dụng cho mọi đơn vị kế toán mà không đi vào tìm hiểu tổ chức kế toán
trong các đơn vị sự nghiệp. Các kiến nghị và giải pháp chủ yếu đề cập đến vấn đề quản lý

trực tiếp các nhà quản lý cũng như những người đang làm kế toán tại đơn vị. Dữ liệu thứ
cấp bao gồm các chế độ tài chính; những quy định về tổ chức hạch toán kế toán trong các
trường , chứng từ, sổ sách, báo cáo tài chính của các trường Đại học và Cao đẳng trên địa
bàn Tỉnh Phú Yên. Ngoài ra tác giả còn thu thập từ các bài báo và các trang web liên
quan.
6. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 1
: Cơ sở lý luận về tổ chức hạch toán kế toán tại các đơn vị kế toán.
Nội dung chính của chương này, tác giả trình bày những lý luận cơ bản về tổ chức
hạch toán kế toán nói chung, những lý luận này xuất phát từ bản chất, đặc điểm, vai trò
của công tác tổ chức hạch toán kế toán tại đơn vị, bao gồm: tổ chức bộ máy kế toán, hệ
thống CTKT, hệ thống TKKT, hệ thống sổ sách kế toán và hệ thống báo cáo kế toán.
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị trường Đại
học và Cao đẳng trên địa bàn Tỉnh Phú Yên. 7
ội dung chính của chương này, tác giả trình bày thực trạng tổ chức hạch toán kế
toán tại các đơn vị trường Đại học và Cao đẳng trên điạ bàn Tỉnh Phú Yên. Để nghiên cứu
vấn đề này, tác giả đã đi từ tổng quan các đơn vị hành chính sự nghiệp có thu (các trường
Đại học và Cao đẳng) trên địa bàn tỉnh Phú Yên để tìm hiểu cách phân loại, chức năng,
nhiệm vụ quyền hạn, cơ cấu tổ chức, đặc điểm tổ chức quản lý và phân cấp quản lý tài
chính và hạch toán. Từ đó đi vào những nội dung chủ yếu gồm tổ chức bộ máy kế toán,
hệ thống CTKT, hệ thống TKKT, hệ thống sổ sách kế toán và hệ thống báo cáo kế toán
với những dẫn chứng điển hình tại các trường Đại học và Cao đẳng trên địa bàn Tỉnh Phú
Yên.
Chương 3
: Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị
trường Đại học và Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Phú Yên.

hình và kết quả hoạt động của đơn vị, nhằm phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin
bên trong và bên ngoài đơn vị, nhưng chủ yếu là cho các đối tượng bên ngoài. Kế toán tài
chính phản ánh những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ và hiện tại; thông tin cung cấp gắn
liền với phạm vi toàn đơn vị, có độ tin cậy cao và mang tính pháp lệnh.
- Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế,
tài chính theo yêu cầu quản trị và ra quyết định trong nội bộ đơn vị kế toán. Đây là cơ sở
pháp lý quan trọng để thực hành kế toán quản trị ở doanh nghiệp. Kế toán quản trị cung
cấp thông tin về dự toán tài chính ngắn hạn và dài hạn, quá trình hình thành và phát sinh
doanh thu, chi phí, lợi nhuận khi thực hiện các kế hoạch ngắn và dài hạn để nhà quản trị
hoạch định, kiểm soát ra quyết định. Kế toán quản trị phản ánh những sự kiện đang và sắp
xảy ra; thông tin cung cấp gắn liền với từng bộ phận, từng chức năng hoạt động trong đơn
vị, có tính linh hoạt và thích ứng, không mang tính pháp lệnh. 9

ếu căn cứ vào mức độ phản ánh đối tượng kế toán thì kế toán được phân thành:
Kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết.
- Kế toán tổng hợp: Kế toán tổng hợp là việc ghi chép, phản ánh một cách tổng
quát trên các tài khoản, sổ kế toán và báo cáo tài chính theo các chỉ tiêu giá trị của doanh
nghiệp.
- Kế toán chi tiết: Kế toán chi tiết là việc ghi chép, phản ánh một cách chi tiết nhất,
cụ thể các đối tượng, các loại nghiệp vụ cần phải quản lý, theo dõi cụ thể, chi tiết và có
thể sử dụng các loại thước đo hiện vật, thước đo lao động và thước đo giá trị tùy theo yêu
cầu quản lý của các doanh nghiệp.
1.1.3. Nhiệm vụ và yêu cầu của kế toán:
 Nhiệm vụ kế toán:
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế
toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán.
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán

thanh toán trong và ngoài đơn vị kế toán; Thu, chi và xử lý chênh lệch thu, chi hoạt động;
Thu, chi và kết dư ngân sách nhà nước; Đầu tư tài chính, tín dụng nhà nước; Nợ và xử lý
nợ của Nhà nước; Tài sản quốc gia; Các tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán.
- Đối tượng kế toán thuộc hoạt động kinh doanh gồm: Tài sản cố định, tài sản lưu
động; Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu; Các khoản doanh thu, chi phí kinh doanh, chi phí
khác và thu nhập; Thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước; Kết quả và phân chia
KQHĐKD; Các tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán.
- Đối tượng kế toán thuộc hoạt động ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, chứng khoán,
đầu tư tài chính, gồm: Tài sản cố định, tài sản lưu động; Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu;
Các khoản doanh thu, chi phí kinh doanh, chi phí khác và thu nhập; Thuế và các khoản
nộp ngân sách nhà nước; Kết quả và phân chia KQHĐKD; Các tài sản khác có liên quan
đến đơn vị kế toán; Các khoản đầu tư tài chính, tín dụng; Các khoản thanh toán trong và
ngoài đơn vị kế toán; Các khoản cam kết, bảo lãnh, các giấy tờ có giá.
 Nguyên tắc kế toán:
- Giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, bốc xếp, vận
chuyển, lắp ráp, chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác đến khi đưa tài sản vào
trạng thái sẵn sàng sử dụng. Đơn vị kế toán không được tự điều chỉnh lại giá trị tài sản đã
ghi sổ kế toán, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 11
- Các quy định và phương pháp kế toán đã chọn phải được áp dụng nhất quán
trong kỳ kế toán năm; trường hợp có sự thay đổi về các quy định và phương pháp kế toán
đã chọn thì đơn vị kế toán phải giải trình trong báo cáo tài chính.
- Đơn vị kế toán phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực tế và đúng
kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh.
- Thông tin, số liệu trong báo cáo tài chính năm của đơn vị kế toán phải được công
khai theo quy định.
- Đơn vị kế toán phải sử dụng phương pháp đánh giá tài sản và phân bổ các khoản
thu, chi một cách thận trọng, không được làm sai lệch kết quả hoạt động kinh tế, tài chính

định như sau:
+ Kỳ kế toán năm là mười hai tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31
tháng 12 năm dương lịch. Đơn vị kế toán có đặc thù riêng về tổ chức, hoạt động được
chọn kỳ kế toán năm là mười hai tháng tròn theo năm dương lịch, bắt đầu từ đầu ngày 01
tháng đầu quý này đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý trước năm sau và thông báo
cho cơ quan tài chính biết;
+ Kỳ kế toán quý là ba tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng đầu quý đến hết ngày cuối
cùng của tháng cuối quý;
+ Kỳ kế toán tháng là một tháng, tính từ đầu ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của
tháng.
- Trường hợp kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc kỳ kế toán năm cuối cùng có thời gian
ngắn hơn chín mươi ngày thì được phép cộng (+) với kỳ kế toán năm tiếp theo hoặc cộng
(+) với kỳ kế toán năm trước đó để tính thành một kỳ kế toán năm. Kỳ kế toán năm đầu
tiên hoặc kỳ kế toán năm cuối cùng phải ngắn hơn mười lăm tháng.
1.1.8. Giá trị của tài liệu, số liệu kế toán:
- Tài liệu, số liệu kế toán có giá trị pháp lý về tình hình kinh tế, tài chính của đơn
vị kế toán và được sử dụng để công bố công khai theo quy định của pháp luật.
- Tài liệu, số liệu kế toán là cơ sở để xây dựng và xét duyệt kế hoạch, dự toán,
quyết toán, xem xét, xử lý vi phạm pháp luật.
1.1.9. Trách nhiệm của đơn vị trong việc quản lý, sử dụng, cung cấp thông tin, tài
liệu kế toán: 13
- Đơn vị kế toán có trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo quản và lưu trữ tài liệu kế
toán.
- Đơn vị kế toán có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu kế toán kịp thời, đầy
đủ, trung thực, minh bạch cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
1.2.Tính tất yếu khách quan tổ chức hạch toán kế toán:
Để đáp ứng cho ngành sản xuất xã hội ngày càng phát triển, kế toán cũng phải thay

- Ngày tháng và số thứ tự của chứng từ: Là yếu tố cơ sở hoá chi tiết nghiệp vụ theo
thời gian, là cơ sở thanh tra kinh tế tài chính.
- Nội dung của nghiệp vụ kinh tế: Là yếu tố làm rõ ý nghĩa kinh tế của nghiệp vụ
và của chứng từ.
- Quy mô của nghiệp vụ về số lượng, giá trị là yếu tố phân định ranh giới giữa
CTKT với các chứng từ khác sử dụng trong thanh tra, trong hành chính
- Chữ ký của người chịu trách nhiệm về thực hiện các nghiệp vụ: Về nguyên tắc
CTKT phải có ít nhất hai chữ ký của người tham gia vào việc thực hiện nghiệp vụ kinh tế,
kèm theo chữ ký của người xét duyệt chứng từ nhất thiết phải có dấu của đơn vị.
 Quản lý, sử dụng CTKT:
- Thông tin, số liệu trên CTKT là căn cứ để ghi sổ kế toán.
- CTKT phải được sắp xếp theo nội dung kinh tế, theo trình tự thời gian và bảo
quản an toàn theo quy định của pháp luật.
- Chỉ cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có quyền tạm giữ, tịch thu hoặc niêm
phong CTKT. Trường hợp tạm giữ hoặc tịch thu thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phải sao chụp chứng từ bị tạm giữ, bị tịch thu và ký xác nhận trên chứng từ sao chụp;
đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số lượng từng loại CTKT bị tạm giữ hoặc bị tịch thu
và ký tên, đóng dấu.
- Cơ quan có thẩm quyền niêm phong CTKT phải lập biên bản, ghi rõ lý do, số
lượng từng loại CTKT bị niêm phong và ký tên, đóng dấu.
BTC đã ban hành Hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định số
15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh
vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước; Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày
14/9/2006 áp dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC
ngày 30/3/2006 về việc ban hành Chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp. Trong đó quy
định chế độ CTKT gồm hai hệ thống:
1. Hệ thống CTKT thống nhất bắt buộc
2. Hệ thống CTKT hướng dẫn

16
+ Chứng từ ban đầu hay chứng từ trực tiếp: Phản ánh trực tiếp đối tượng hạch toán,
là tấm hình gốc chụp lại nghiệp vụ kinh tế. Chứng từ ban đầu có đầy đủ giá trị và hiệu lực
cho hạch toán và cho quản lý.
+ Chứng từ tổng hợp hay chứng từ khái quát: Là phương tiện tổng hợp tài liệu về
các nghiệp vụ kinh tế cùng loại, là công cụ kỹ thuật giảm nhẹ công tác kế toán và đơn
giản trong ghi sổ. Loại chứng từ này không có ý nghĩa tổng hợp, chỉ thành phương tiện
thông tin và chứng minh khi đi kèm chứng từ ban đầu.
- Phân loại theo phương thức lập chứng từ:
+ Chứng từ một lần: Là chứng từ trong đó việc ghi chép chỉ tiến hành một lần và
chuyển vào chi sổ kế toán. Loại chứng từ này vẫn được dùng để ghi nhiều nghiệp vụ kinh
tế khi các nghiệp vụ này phát sinh cùng một lúc ở cùng một địa điểm. Chứng từ một lần
được lập và thực hiện trong phạm vi một ngày.
+ Chứng từ nhiều lần: Là chứng từ ghi một loại nghiệp vụ kinh tế tiếp diễn nhiều
lần. Sau mỗi lần ghi các con số thường được cộng dồn tới một giới hạn xác định trước,
chứng từ không còn sử dụng tiếp nữa được chuyển vào ghi sổ kế toán và lưu trữ.
- Phân loại theo nội dung các nghiệp vụ kinh tế phản ánh trong chứng từ: Theo
cách phân loại ta có các loại chứng từ liên quan đến các nội dung hay còn gọi là chỉ tiêu
sau: Chỉ tiêu lao động và tiền lương; Chỉ tiêu hàng tồn kho; Chỉ tiêu bán hàng; Chỉ tiêu
tiền tệ; Chỉ tiêu tài sản cố định.
- Phân loại theo tính cấp bách của thông tin chứa trong chứng từ:
+ Chứng từ bình thường: Chứa đựng những thông tin thể hiện tính hợp quy luật
của các nghiệp vụ xảy ra. Những chứng từ này tiếp tục làm thủ tục theo các yếu tố và
trình tự quy định để ghi sổ, tổng hợp và thông tin theo định kỳ.
+ Chứng từ báo động: Là những chứng từ chứa đựng những thông tin thể hiện mức
độ diễn biến không bình thường của các nghiệp vụ kinh tế như vật tư sử dụng vượt định
mức, thực hiện hợp đồng kinh tế không bình thường Những chứng từ này cần được xử
lý kịp thời trước khi đưa vào ghi sổ kế toán hoặc xử lý tiếp theo trình tự quy định.
- Phân loại theo dạng thể hiện dữ liệu và lưu trữ thông tin của chứng từ:

chứng từ.,,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status