nghiên cứu hoàn thiện phân loại giáo dục đào tạo và danh mục nghề nghiệp - Pdf 29

Tổng cục Thống kê

Báo cáo tổng kết
đề tài cấp tổng cục

Nghiên cứu hoàn thiện
bảng phân loại giáo dục-đào tạo
và danh mục nghề nghiệp Chủ nhiệm đề tàI: cn phạm thị hồng vân
hoá bằng 4 chữ số, đối với cả 2 Danh mục đều có phần giải thích nội dung chủ
yếu của các nhóm trình độ giáo dục, lĩnh vực giáo dục vào các nhóm nghề
nghiệp theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, lĩnh vực hoạt động...

Do yêu cầu đòi hỏi cấp bách của thực tế công tác quản lý nói chung và
yêu cầu của công tác thống kê nói riêng, quá trình triển khai nghiên cứu chia
thành 2 phần, phần một: nghiên cứu hoàn thiện Danh mục giáo dục, đào tạo
thực hiện năm 2004, phần hai: nghiên cứu hoàn thiện Danh mục nghề nghiệp
triển khai năm 2005.

Phần một của đề tài kết thúc năm 2004, kết quả nghiên cứu đã nghiệm
thu sơ bộ và đợc Vụ Phơng pháp chế độ hoàn thiện trình Chính phủ phê
duyệt ban hành theo Quyết định số 25/2005/QĐ-TTg ngày 27 tháng 01 năm
2005 để đa vào ứng dụng thực tế.

Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của phần hai Danh mục nghề
nghiệp của Việt Nam sẽ đợc tiếp tục hoàn thiện để trình Chính phủ phê
duyệt ban hành đa vào ứng dụng thực tế trong thời gian tới đây.
2

Phần một

Nghiên cứu hoàn thiện danh mục
giáo dục, đào tạo

trình độ đại học và cao đẳng
Giai đoạn 1990 đến 1999, khi nền kinh tế chuyển đổi, thì giáo dục đào
tạo cũng dần chuyển từ giáo dục theo kế họach của Nhà nớc sang giáo dục,
đào tạo theo nhu cầu thị trờng của xã hội. Chính đặc diểm này đòi hỏi việc
quản lý giáo dục cũng phải thay đổi. Một trong những khâu đó là, cơ cấu, nội
dung của giáo dục, đào tạo cũng phải thay đổi để phù hợp, và vì vậy các bảng
Danh mục giáo dục, đào tạo đã đợc nghiên cứu sửa đổi trên cơ sở các bảng
danh mục trớc đó.

3
* Ngày 9 tháng 1 năm 1992 Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng
cục trởng Tổng cục Thống kê có quyết định số 59/THCN-DN về việc ban
hành Danh mục nghề đào tạo công nhân kỹ thuật, nhân viên kỹ thuật và
nghiệp vụ nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
* Ngày 7 tháng 4 năm 1991 và ngày 25 tháng 8 năm 1992 Bộ trởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục trởng Tổng cục Thống kê có các Quyết
định số 1595/THCN và số 1740/THCN ban hành Danh mục ngành đào tạo
trung học chuyên nghiệp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sau đó
ngày 4 tháng 5 năm 1994, Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có Quyết định số
1114/QĐ-GDDT về việc ban hành Danh mục ngành đào tạo trung học chuyên
nghiệp của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
* Ngày 22 tháng 12 năm 1990, Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và
Tổng cục trởng Tổng cục Thống kê có Quyết định số 2301/QĐ-LB ban hành
Danh mục ngành đào tạo Đại học nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các bảng Danh mục giáo dục, đào tạo đã ban hành cơ bản đã phản ánh
đợc thực trạng các cấp và các bậc học về nội dung và chơng trình giáo dục,
đào tạo của Việt Nam tại thời gian đó, phần nào đáp ứng đợc yêu cầu quản lý
nền giáo dục quốc dân.Tuy nhiên, xét về mặt tổng quát và chi tiết nó còn có
những tồn tại sau:
- Các Danh mục mới chỉ dựa trên từng cấp bậc học để đa ra danh mục

phân loại chi tiết chơng trình giáo dục đào tạo của các cơ sở giáo dục, đào
tạo.
* Ngày 24 tháng 10 năm 2002, Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có
Quyết định số 44/2002/QĐ-BGD & ĐT ban hành Danh mục chuyên ngành
đào tạo sau đại học.
Về cơ bản có thể thấy là các Bảng phân loại sau này đã khắc phục đợc
những tồn tại của các Danh mục giáo dục, đào tạo trớc đây. Tuy nhiên cần có
một Danh mục giáo dục, đào tạo mới vì một số lỹ lẽ sau đây:
- Yêu cầu của việc quản lý giáo dục nói chung và thống kê giáo dục nói
riêng.
- Yêu cầu của Luật Giáo dục (Điều 6 Hệ thống giáo dục quốc dân; Điều
13: Quản lý nhà nớc về giáo dục); và của Luật thống kê (Điều 9: Bảng phân
loại thống kê)
- Về pháp lý vẫn cha có Danh mục giáo dục, đào tạo chung cho các
cấp bậc và lĩnh vực giáo dục và đào tạo, vì Bảng phân loại 115 chỉ phục vụ cho
Tổng đièu tra dân số và nhà ở; danh mục này chỉ là một bộ phận của Danh
mục giáo dục, đào tạo chung.

II.Cơ sở lý luận và thực tiễn phân loại giáo dục, đào tạo

Khi nghiên cứu hoàn thiện Danh mục giáo dục, đào tạo phải dựa trên
thực trạng nền giáo dục quốc dân Việt Nam đợc thể hiện tại Nghị định Luật
giáo dục và các Nghị định hớng dẫn thi hành Luật (Luật giáo dục Việt Nam
- Điều 6: Hệ thống giáo dục quốc dân; Điều 13: quản lý nhà nớc về giáo dục;
Luật thống kê - Điều 9: Bảng phân loại thống kê, Đồng thời tham khảo kinh
nghiệm và chuẩn mực của quốc tế và một số quốc gia (phân loại chuẩn quốc tế
về giáo dục (ISCED 1997) cùng với các tài liệu tham khảo khác của quốc tế về
giáo dục và đào tạo.
Khái niệm về giáo dục đợc hiểu là sự truyền đạt kiến thức đợc tổ chức
và duy trì nhằm mang lại trình độ nhất định cho mỗi ngời.

cần nắm vững một số nội dung sau:
Chơng trình giáo dục, đào tạo là nội dung để giảng dạy, đợc xác định
trớc của nền giáo dục. Mục đích của nó là chuẩn bị cho nghiên cứu cao hơn
một nghề nghiệp hoặc nhóm nghề nghiệp hoặc đơn giản chỉ là sự tăng lên của
kiến thức và sự hiểu biết. Việc hòan thành mục đích giáo dục thờng đợc xác
nhận bằng một chứng chỉ hoặc một bằng cấp.
Các chơng trình giáo dục, đào tạo đợc phân loại chéo theo cấp trình độ
(Level) (mầm non, tiểu học, phổ thông, dạy nghề, đại học, sau đại học...) và
lĩnh vực giáo dục đào tạo (Field) (ngành, nghề, chơng trình... giáo dục, đào
tạo) mỗi tiêu thức là độc lập. Vì vậy mỗi chơng trình giáo dục có thể đợc
phân loại bằng kết hợp giữa cấp trình độ và lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Cấp trình độ giáo dục, đào tạo là sự đạt đợc kiến thức, kinh nghiệm qua
học tập và đã hòan thành nội dung của chơng trình quy định. Cơ sở để xác
định cấp trình độ là nội dung giáo dục.Tuy nhiên, do sự phong phú về nội
dung giáo dục, đào tạo nên cần căn cứ vào cả nội dung và hình thức giáo dục,
đào tạo có liên quan. Cần thiết phải thiết lập một hệ thống các tiêu chuẩn phân
loại và có thứ tự
u tiên trong quá trình sử dụng nh: tiêu chuẩn chính, tiêu
chuẩn phụ (thờng là khả năng đầu vào, yêu cầu đầu vào tối thiểu, tuổi tối
thiểu, vv...) đồng thời cần có những tiêu chuẩn bổ sung để đảm bảo phân loại
và xác định chính xác cấp độ của giáo dục.
Trong thực tế khi áp dụng các tiêu chuẩn trên, trớc hết phải quan tâm
đến nội dung giáo dục. Tuy nhiên, cần áp dụng linh hoạt các tiêu chuẩn phụ và
các tiêu chuẩn bổ sung tuỳ theo tình hình thực tế của nền giáo dục ở từng
nớc.

6

hoặc giai đoạn đầu
của giáo dục cơ
bản
1 Không
Trình bày đối
tợng
Thực hiện đầy
đủ các kỹ năng
và cơ sở cơ bản
đối với giáo dục
dài hạn
Ghi tên sau 6 năm
giáo dục tiểu học.
Kết thúc chu kỳ sau 9
năm kể từ bắt đầu
giáo dục tiểu học.
Kết thúc giáo dục bắt
buộc.
Một số giáo viên tổ
chức các lớp học
trong lĩnh vực chuyên
môn của mình
Giáo dục trung
học cơ sở
Giai đoạn hai của
giaó dục cơ bản
2 Dạng của chơng
trình tiếp nối hoặc
nơi đến.
Định hớng chơng

7
vào, dạng của
chứng chỉ đợc
cấp
của giáo dục đại
học (không dạy
trực tiếp một bằng
cấp nghiên cứu
cao)
Thời gian lý thuyết
cộng dồn tại trình
độ quốc gia hạng
thứ ba và cấu trúc
bằng cấp
Nội dung định
hớng nghiên
cứu, đệ trình
luận văn hoặc
luận án
Chuẩn bị tốt nghiệp
đối với nhân viên và
vị trí nghiên cứu
Giai đoạn thứ hai
của giáo dục đại
học
6 Không

III. Đề xuất Danh mục giáo dục, đào tạo mới của Việt Nam

Sự cần thiết phải đề xuất Danh mục giáo dục, đào tạo mới vì:

8
Khi nghiên cứu hoàn thiện bảng danh mục phải dựa trên các qui định
của Luật Giáo dục, Luật Thống kê và các văn bản quy phạm pháp luật khác có
liên quan đến giáo dục và đào tạo, đồng thời kế thừa các u điểm của các bảng
phân loại trớc đây
Danh mục giáo dục, đào tạo phải phù hợp với thực trạng giáo dục quốc
gia trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các tiêu chuẩn trong phân loại giáo dục,
đào tạo quốc tế ISCED ban hành năm 1997, nhằm cung cấp một khung chuẩn
phân loại giáo dục, đào tạo theo chuẩn mực quốc tế để đánh giá, quản lý thống
nhất nền giáo dục của quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế
Danh mục giáo dục, đào tạo của Việt Nam phải đảm bảo so sánh quốc
tế về giáo dục, thể hiện sự tôn trọng khuyến nghị của Liên Hợp Quốc về phân
loại. Muốn đạt đợc mục đích này khi phân loại phải lu ý các mã số của bảng
phân loại của Việt Nam phải có tính tơng thích với mã của Bảng phân loại
của quốc tế. Điều này cũng cho phép nhiều mã nghề của Việt Nam tơng thích
với một mã nghề của quốc tế, nhng ngợc lại sẽ không so sánh đợc khi một
mã nghề của Việt Nam tơng đơng với nhiều mã nghề của Bảng phân loại
quốc tế. Và nh vậy có thể tách một mã nghề của quốc tế thành nhiều mã nghề
của Việt Nam nhng không thể gộp nhiều mã nghề của quốc tế thành một mã
nghề của nớc ta.
Khi soạn thảo Danh mục giáo dục, đào tạo phải có tầm nhìn xa, đối với
các ngành, các lĩnh vực có nhiều khả năng phát triển phải có các mã dự trữ để
khi xuất hiện và có nhu cầu đào tạo sẽ bổ sung, làm nh vậy sẽ không bị phá
vỡ khung phân loại chung trong quá trình bổ sung sửa đổi sau này
Danh mục giáo dục, đào tạo là khung phân loại cơ bản của chơng trình
giáo dục, đào tạo. Trên cơ sở khung phân loại cơ bản này của chơng trình
giáo dục đào tạo để xây dựng các bảng phân loại chi tiết hơn để phục vụ cho
nhu cầu quản lý sâu hơn của các đơn vị quản lý
Toàn bộ các chơng trình giáo dục, đào tạo đợc chia thành 4 cấp
Cấp I: Trình độ giáo dục, đào tạo

Mã cấp I Mã cấp II Tên gọi
00

10
20 22
0001

Các chơng trình cơ bản
Các chơng trình xoá mù
Các chơng trình giáo dục đặc biệt
Giáo dục trung học cơ sở
Các chơng trình cơ bản
Các chơng trình giáo dục đặc biệt
Dạy nghề ngắn hạn
Nghệ thuật
Nhân văn
Khoa học xã hội và hành vi
Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý
Pháp luật
Khoa học tự nhiên
Toán và thống kê
Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ
Chế biến
Xây dựng và kiến trúc
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Thú y
Sức khoẻ
Dịch vụ xã hội
Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân

10

2284
2285
2286
2290

3001
3009

3214
3221
3222
3231
3232
3234
3238
3244
3246
3248
3251
3252

Các chơng trình giáo dục đặc biệt
Dạy nghề dài hạn sau trung học cơ sở
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên
Nghệ thuật
Nhân văn
Khoa học xã hội và hành vi
Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý
Pháp luật
Khoa học tự nhiên
Toán và thống kê
Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ
Chế biến
Xây dựng và kiến trúc
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Thú y
Sức khoẻ
Dịch vụ xã hội
Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân
Vận tải
Môi trờng và bảo vệ môi trờng
An ninh quốc phòng
Khác
Trung học chuyên nghiệp sau trung học cơ sở
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên
Nghệ thuật
Nhân văn
42

3652
3653
3654
3658
3662
3664
3672
3676
4214
4221
4222
4231
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ
Chế biến
Xây dựng và kiến trúc
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Thú y
Sức khoẻ
Dịch vụ xã hội
Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân
Vận tải
Môi trờng và bảo vệ môi trờng
An ninh quốc phòng
Khác
Dạy nghề dài hạn sau trung học phổ thông
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên
Nghệ thuật
Nhân văn
Khoa học xã hội và hành vi
Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý
Pháp luật
Khoa học tự nhiên
Toán và thống kê
Máy tính

50
5034
5038
5042
5044
5046
5048
5051
5052
5053
5054
5058
5062
5064
5072
5076
5081
5084
5085
Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý
Pháp luật
Khoa học tự nhiên
Toán và thống kê
Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ
Chế biến
Xây dựng và kiến trúc
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Vận tải
Môi trờng và bảo vệ môi trờng

1352
5251
5252
5253
5254
5258
5262
5264
5272
5276
5281
5284
5285
5286
5290

6014
6021
6022
6031
6032
6034
6038
6042
6044
6046
6048
6051
6052
6053
6054

Nghệ thuật
Nhân văn
Khoa học xã hội và hành vi
Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý
Pháp luật
Khoa học sự sống
Khoa học tự nhiên
Toán và thống kê
Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ
Chế biến

14
62
6058
6062
6064
6072

Xây dựng và kiến trúc
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Thú y
Sức khoẻ
Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân
Vận tải
Môi trờng và bảo vệ môi trờng
An ninh quốc phòng
Khác
Tiến sỹ
Khoa học giáo dục và đào tạo giáo viên
Nghệ thuật
Nhân văn
Khoa học xã hội và hành vi
Báo chí và thông tin
Kinh doanh và quản lý
Pháp luật
Khoa học sự sống
Khoa học tự nhiên
Toán và thống kê
Máy tính
Công nghệ kỹ thuật
Kỹ thuật
Kỹ thuật mỏ
Chế biến
Xây dựng và kiến trúc
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Thú y
Sức khoẻ
Khác sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân

và truyền hình, in ấn và xuất bản)
-Thiết kế, kỹ năng thủ công
6. Nhân văn gồm:
-Tôn giáo và thần học: Văn hoá và ngôn ngữ nớc ngoài, nghiên cứu
văn hoá vùng
-Ngôn ngữ bản xứ : Ngôn ngữ chính thống và các ngôn ngữ của các dân
tộc và văn hoá quần chúng
-Nhân văn khác: Diễn giải và dịch thuật, ngôn ngữ học, lịch sử, khảo cổ,
triết học và đạo đức học
7. Khoa học xã hội và hành vi gồm:
-Kinh tế học, lịch sử kinh tế, chính trị học, xã hội học, nhân khẩu học,
nhân chủng học, dân tộc học, tâm lý học, địa lý học (trừ địa lý tự nhiên),
nghiên cu hoà bình và chiến tranh, nhân quyền
8.Báo chí và thông tin gồm:
-Báo chí, th viện, bảo tàng
-Kỹ thuật t liệu
-Khoa học văn th
9. Kinh doanh và quản lý gồm:
-Bán buôn, bán lẻ, tiếp thị, các quan hệ công cộng, bất động sản
-Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, đầu t
-Kế toán, kiểm toán
-Quản lý, quản trị hành chính, quản trị cơ sở, quản trị nhân sự
-Th ký và công việc văn phòng
10.Luật pháp gồm:
-Công chứng, Luật ( luật địa phơng, luật chung, luật quốc tế, luật lao
động, luật hàng hải vv...), luật học, lịch sử luật pháp.
11. Khoa học sự sống
gồm:
-Sinh vật học, thực vật học, vi khuẩn học, chất độc học, vi sinh học,
động vât học, vi trùng học, di truyền học, sinh hoá, lý sinh, khoa học có liên

19. Xây dựng và kiến trúc gồm:
Kiến trúc và qui hoặch đô thị: kiến trúc kết cấu, kiến trúc phong cảnh,
qui hoạch công cộng, đồ bản
Xây dựng nhà cửa, công trình công nghiệp và dân dụng
20. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản gồm:
Nông học, trồng trọt, chăn nuôi, nông học, chăn nuôi gia súc, làm
vờn, lâm nghiệp và công nghệ sản phẩm rừng, công viên, vờn quốc gia, sinh
vật hoang dã, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản.
21.Thú y gồm:
Y học thú y, trợ giúp thú y .
22. Sức khoẻ gồm:
Y học: Giải phẩu học, truyền nhiễm học, tế bào học, sinh lý học, miễn
dịch học, bệnh lý học, gây mê, nhi khoa, sản khoa, nội khoa, giải phẫu, thần
kinh học, tâm thần học, phóng xạ và nhãn khoa.
Y tế cổ truyền
Dịch vụ y tế: Y tế cộng cộng, vệ sinh, vật lý trị liệu, hồi sức, xét
nghiệm, thay mới và ghép các cơ quan nội tạng

17
Bào chế, bảo quản và dợc học
Điều dỡng, hộ sinh
Răng, hàm mặt: Nha khoa, vệ sinh, kỹ thuật viên thí nghiệm
23. Dịch vụ xã hội gồm:
Chăm sóc xã hội: chăm sóc ngời khuyết tật, chăm sóc trẻ em, các dịch
vụ thanh niên, chăm sóc ngời già.
Công việc xã hội: t vấn, phúc lợi,...
24. Khách sạn, du lịch, thể thao và dịch vụ cá nhân gồm:
Khách sạn và dịch vụ, tham quan và du lịch, thể thao và giải trí, làm
đầu, chăm sóc sắc đẹp và các dịch vụ cá nhân khác, dịch vụ thẩm mỹ, khoa
học nội trợ ....

18
Phần hai
Nghiên cứu hoàn thiện danh mục
nghề nghiệp của việt nam
I. Đánh giá thực trạng các Danh mục nghề nghiệp ở nớc ta.
1 Giai đoạn 1976 -1985.
Sau khi nớc nhà đợc thống nhất đến năm 1985 trớc khi bắt đầu sự
nghiệp đổi mới, nhiều ngành, nhiều doanh nghiệp đã tiến hành xây dựng hoặc
biên soạn lại tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật các nghề công nhân để làm căn cứ
đào tạo, bồi dỡng, nâng bậc lơng và tổ chức lại lao động trong ngành, trong
doanh nghiệp. Khi tiến hành xây dựng hoặc biên soạn lại tiêu chuẩn cấp bậc kỹ
thuật các nghề công nhân, nhiều tên nghề đã đợc xem xét lại hoàn thiện tên
gọi và cũng trong giai đoạn này có nhiều nghề mới hình thành nhng tên nghề
vẫn đợc gọi theo chủ quan của doanh nghiệp của ngành nên có nhiều nghề
không đợc gọi đúng tên của nó, làm khó khăn cho công tác quản lý lao động.
Cũng trong thời kỳ này, năm 1979 căn cứ yêu cầu của công tác quản lý kế
hoạch hoá, công tác hạch toán, công tác thống kê, thông tin kinh tế và cơ khí
hoá tính toán: năm 1979, Tổng cục Thống kê đã ban hành bản Danh mục nghề
nghiệp theo Quyết định số 100/TCTK-QĐ ngày 24 tháng 1 năm 1979 để sử
dụng thống nhất trong tất cả các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở thuộc trung
ơng và địa phơng quản lý. Việc phân loại nghề nghiệp trong bản Danh mục
nghề nghiệp đợc chia thành: nghề nghiệp nghiêng về lao động trí óc và nghề
nghiệp nghiêp về lao động chân tay. Đối với nghề nghiệp nghiêng về lao động
chân tay gồm: cấp 1 có 23 nhóm; cấp 2 có 100 nhóm và cấp 3 có 815 nghề.
Tuy nhiên, hầu nh các doanh nghiệp cũng nh các ngành cha áp dụng
bản Danh mục trên vào trong công tác quản lý lao động. Lý do khiến cho bản
Danh mục nghề nghiệp này ít phát huy tác dụng có nhiều nhng chủ yếu là do

sau:
- Có khoảng 60% tên nghề đợc chấp nhận là hợp lý, đã phản ánh đợc nội
dung lao động của nghề;
- Còn 40% tên nghề cần đợc sửa đổi vì cha đạt đợc yêu cầu chính. Trong
đó có 20% tên nghề cha phản ánh sát nội dung lao động của nghề; 14% tên
nghề lẫn lộn với tên công việc; 6% tên nghề đợc gọi tuỳ tiện, mỗi nơi gọi một
cách.
2 Giai đoạn từ 1986 - 1991.
Số lợng nghề luôn biến động theo thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội và
việc áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ vào trong sản
xuất và trong quản lý, tổ chức sản xuất, đòi hỏi phải thờng xuyên cập nhật bổ
sung hoặc sửa đổi tên nghề.
Trớc tình hình trên và để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý lao động, từ
năm 1985 Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội đã bắt đầu tiến hành xây
dựng tập danh mục nghề công nhân nhằm thống nhất tên gọi các nghề công
nhân làm cơ sở cho việc xây dựng tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật; danh mục nghề,
công việc đặc biệt nặng nhọc độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc độc hại, nguy
hiểm; hệ thống thang l
ơng công nhân sản xuất; hệ thống bảng lơng công
nhân, nhân viên trực tiếp sản xuất kinh doanh và phục vụ Nhng, mãi đến
năm 1991 bản Danh mục nghề công nhân mới đợc ban hành tạm thời theo
Quyết định số 490/LĐTBXH-QĐ ngày 07 tháng 12 năm 1991 của Bộ trởng
Bộ Lao độngThơng binh và Xã hội.
Đối chiếu và so sánh giữa phân loại nghề công nhân trong bản Danh mục
nghề công nhân với phân loại nghề nghiệp nghiêng về lao động chân tay trong
bản Danh mục nghề nghiệp, cho thấy có sự khác biệt về một số vấn đề nh:

20
- Tên gọi của nhóm cấp 1 trong Danh mục nghề công nhân và tên gọi của
nhóm cấp 1 tại phần nghề nghiệp nghiêng về lao động chân tay trong Danh

nghề gia công chế tạo cơ khí có mã cấp 2 là 021.
- Hình thức ngôn ngữ của tên gọi còn khó hiểu, thiếu trong sáng hoặc cha
đợc Việt hoá do chuyển dịch từ tiếng nớc ngoài.
Ví dụ: nghề sản xuất xút và cô xút có mã cấp 3 là 04205 thuộc nhóm nghề
sản xuất các hoá chất cơ bản có mã cấp 2 là 042; nghề minơ có mã cấp 3 là
06305 thuộc nhóm nghề khai thác khoáng sản (trừ dầu khí) có mã cấp 2 là 063.
- Vẫn còn nhiều nghề có tên nghề quá khái quát, quá rộng.

21
Ví dụ: nghề sản xuất phụ kiện cho ngành dệt có mã cấp 3 là 10203 thuộc
nhóm nghề dệt có mã cấp 2 là 102, tên gọi của nghề này là quá rộng.
- Nhiều tên nghề thiếu tính hấp dẫn làm cho tâm lý chung trong xã hội
không thích, kém hứng thú khi ngời công nhân thực hiện nhiệm vụ của nghề
đợc giao.
Ví dụ: nghề kéo xe ba gác cố mã cấp 3 là 16309 thuộc nhóm nghề vận tải
bộ có mã cấp 2 là 163.
- Bản danh mục nghề công nhân còn thiếu tên một số nghề .
Ví dụ: một số nghề trong sản xuất xi măng lại không có trong danh mục.
3.Giai đoạn từ 1991 đến nay.
Trong giai đoạn này, sự nghiệp đổi mới đã tạo ra những biến đổi hết sức sâu
sắc về kinh tế-xã hội, nền kinh tế nớc ta đã có bớc phát triển mạnh mẽ, trình
độ quản lý và năng lực lãnh đạo,công nghệ sản xuất và tổ chức sản xuất thay
đổi nhiều, điều này đã ảnh hởng mạnh mẽ và trực tiếp đến các nghề nghiệp
hiện nay. Trớc những nhu cầu và đòi hỏi của nền kinh tế trong xu thế hội nhập
và sự lu chuyển lực lợng lao động nớc ta với khu vực và thế giới đang xảy
ra, việc xây dựng và ban hành một tập danh mục nghề đáp ứng đợc yêu cầu
trên càng trở nên cấp thiết.
Năm 1999, Tổng cục Thống kê đã ban hành Danh mục nghề nghiệp theo
Quyết định số 114/1998/QĐ-TCTK ngày 29 tháng 3 năm 1999. Mục đích, ý
nghĩa ban hành bảng Danh mục nghề nghiệp này theo nội dung nêu ở phần

sở. Với khái niệm này, ngời làm nghề lãnh đạo phải là ngời có chức vụ,
quyền quản lý, chỉ huy, điều hành, có quyền lực từ trung ơng đến cơ sở,
nhng trong danh mục nghề nghiệp quy định Nghề lãnh đạo chỉ áp dụng cho
cấp Vụ và tơng đơng trở lên (đối với cấp trung ơng), Uỷ viên Uỷ ban nhân
dân và trởng/phó ngành, ban, sở và tơng đơng trở lên (đối với cấp
huyện/tỉnh). Kết quả Tổng điều tra Dân số và nhà ở 1/4/1999 cho thấy có 0,57
% dân số hiện đang làm nghề lãnh đạo. Nh vậy ở đây cấp phòng không đợc
công nhận là nghề lãnh đạo mặc dù cấp này phù hợp với khái niệm qui định ở
trên
Viện trởng, Phó viện trởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện hiện đang
tồn tại song trong Danh mục hiện hành không có các chức danh lãnh đạo này.
Nhóm thợ vận hành máy nông nghiệp và các máy móc thiết bị khác có động
cơ (mã cấp 3 là 833) có thợ vận hành máy cày và các thiết bị có liên quan (mã
cấp 4 là 8332) nhng trong thực tế nếu thợ vận hành máy cày có động cơ thì
thuộc nhóm có mã cấp 4 là 8331 (thợ vận hành máy chuyên dùng cho nông
nghiệp và lâm nghiệp), còn nếu máy cày đợc gắn theo máy kéo thì thuộc
nhóm có mã cấp 4 là 8333 (thợ vận hành máy kéo và thiết bị có liên quan).
Trong khi đó lại không có thợ vận hành máy và các thiết bị trong thi công xây
dựng công trình nh: máy đào hào, trộn và máy rải bê tông, nhựa .
- Vẫn có nhiều tên nghề trong Danh mục còn khó hiểu do hình thức ngôn
ngữ thiếu trong sáng hoặc cha đợc Việt hoá do chuyển dịch từ tiếng n
ớc
ngoài.
Ví dụ: trong nhóm lao động giản đơn trong giao thông vận tải và bốc xếp
hàng hoá (mã cấp 3 là 933) có tên gọi là điều khiển phơng tiện có súc vật kéo
(mã cấp 4 là 9332) nếu gọi là vận chuyển ngời, hàng hoá bằng phơng tiện do
súc vật kéo thì phù hợp và dễ hiểu hơn.
- Hầu hết tên gọi của nhóm cấp 4 trong bảng Danh mục này là tên gọi
chung cho một nhóm nghề, nên không phù hợp với thực tiễn tổ chức sản xuất,
phân công và sử dụng lao động hiện nay và để có thể sử dụng trong công tác

tên gọi của các nghề.
- Quá trình xây dựng đất nớc trong thời kỳ này có nhiều thay đổi về cơ cấu
tổ chức, công nghệ mới đ
ợc đa vào sử dụng ở nớc ta nhng vẫn tồn tại
nhiều công nghệ sản xuất lạc hậu, cùng với sự xuất hiện những máy móc thiết
bị hiện đại đồng thời vẫn còn nhiều thế hệ máy móc thiết bị đợc chế tạo cách
đây hàng chục năm, thậm trí gần trăm năm vẫn đợc sử dụng. Trong thực tiễn
đang tồn tại đồng thời những nhà máy với trình độ tự động cao và cả những nhà
máy có công nghệ sản xuất xen kẽ giữa thủ công-máy.
Trình độ công nghệ sản xuất không đồng đều, tổ chức sản xuất muôn hình
muôn vẻ lại không có sự hớng dẫn, quản lý của Nhà nớc về tên nghề nên tất
nhiên sẽ tồn tại những tên nghề tuỳ tiện, không theo một nguyên tắc nào,
không dựa trên một căn cứ nào và hệ quả là tạo nên tình trạng lộn xộn về tên
gọi của các nghề.
II.Cơ sở lý luận và thực tiễn phân loại nghề nghiệp
1. Mục đích, ý nghĩa

24
Danh mục nghề nghiệp ở nớc ta đã có từ lâu, đợc hình thành và phát triển
gắn liền với quá trình xây dựng và tổ chức Nhà nớc, quản lý xã hội, phát triển
kinh tế. Cùng với sự ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghể trong
hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ đã làm cho nghề nghiệp
ngày càng phát triển đa dạng và biến đổi cho phù hợp với sự phát triển của
công nghệ, tổ chức sản xuất.
Khi xây dựng đợc phân loại nghề nghiệp là đã định rõ đợc tên nghề và
cũng có nghĩa là đã xác định đợc nội dung lao động của nghề. Đối với công
tác quản lý lao động, việc xác định đúng tên nghề trở nên có ý nghĩa quan
trọng, vì nó nâng cao trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ của ngời lao động.
Khi qui định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và vị trí làm việc để trả lơng
hợp lý là đã đảm bảo tạo điều kiện cho ngời lao động thực hiện có hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status