56
ĐỘC CHẤT TRONG SẢN XUẤT
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng:
1. Mô tả được quá trình xâm nhập, chuyển hóa và đào thải chất độc trong
cơ thể.
2. Liệt kê được các nguyên nhân gây nhiễm độc trong lao động sản xuất
3. Trình bày được các nguyên tắc chẩn đoán, xử trí và dự phòng nhiễm
độc trong lao động sản xuất.
4. Nhận thức được tầm quan trọng của việc giám sát môi trường lao động
và tình trạng sức khỏe trong việ
c phòng nhiễm độc hóa chất.
1. Mở đầu
Ngay từ khi con người biết sử dụng chất độc vào sinh hoạt và sản xuất
cũng như khi chất độc được dùng vào mục đích quân sự, độc học đã ra đời
và phát triển để đáp ứng yêu cầu dự phòng và điều trị các trường hợp nhiễm
độc. Ngành độc chất học phát triển đặc biệt nhanh vào những năm của thế
kỷ
hai mươi. Ngày nay, chất hóa học ngày càng được ứng dụng vào việc
phục vụ đời sống con người thì vấn đề độc chất học nói chung càng phải
chú trọng phát triển.
Độc chất học là môn khoa học nghiên cứu quy luật tác dụng của chất
độc đối với cơ thể và đề ra những biện pháp dự phòng, điều trị và khắc
phục hậu quả của nhiễm độc.
- Ngày nay, người ta biết có nhiều loại chất với liều lượng nhất định là
thuốc điều trị nhưng với liều cao là chất độc.
Chất độc là chất với liều rất nhỏ trong những điều kiện nhất định có
thể gây nên những rối loạn sinh lý, sinh hóa trong cơ thể, thậm chí gây
nhiễm độc có thể dẫn tới tử vong. Như vậy giới h
ạn giữa chất độc và chất
Sức khỏe người lao động không tốt, người lao động mắc các bệnh làm
c
ơ thể tăng cảm nhiễm với chất độc.
3.2. Do khách quan
- Công nghệ sản xuất cũ kỹ, lạc hậu gây phát tán chất độc, gây ô
nhiễm môi trường lao động.
- Nhà xưởng kém thông khí
58
- Môi trường làm việc nóng, ẩm
- Tính chất lý học của chất độc:
+ Khả năng bay hơi càng thấp càng có tính độc cao.
+ Độ hoà tan trong nước và trong các dung môi hữu cơ, hệ số hoà tan
cao thì độc càng mạnh.
Tính chất hóa học của chất độc quyết định khả năng tác dụng độc, đặc
biệt là cấu trúc hóa học của chất độc.
4. Sự xâm nhập, chuyển hóa và đào thải chết độc trong c
ơ thể
4.1. Sự xâm nhập
4.1.1 Đường tiêu hóa
a) Qua miệng: một số chất độc xâm nhập vào cơ thể qua ăn uống có
thể được hấp thu ngay tại niêm mạc miệng. Các chất độc hấp thu được qua
niêm mạc miệng rất nguy hiểm bởi chúng không bị ảnh hưởng của dịch dạ
dày và không được qua gan khử độc trước khi đi vào tuần hoàn chung.
b) Qua dạ dày: nhiều chất hóa học có tính acid y
ếu được hấp thu
nhanh chóng qua dạ dày.
c) Ruột non: tốc độ hấp thu các chất khuếch tán qua thành ruột cũng
được quyết định bởi hằng số phân ly và tính tan được trong lipid của chúng.
4.1.2. Đường hô hấp
Hô hấp là đường vào chính của nhiều chất độc công nghiệp. Chất độc
tăng hấp thu, các chất hoà tan, điều kiện tại chỗ...). Vì vậy có chất độc xâm
nhập nhưng sự hấp thu vào máu không hoàn toàn
4.3. Sự phân bố của chất độc trong cơ thể
4.3.1. Sự phân bố
Sau khi hấp thu vào máu và bạch mạch, chất độc được phân bố đến cơ
quan tổ chức, tế bào bằng cơ chế
đối lưu hoặc khuếch tán (do chênh lệch về
nồng độ). Quá trình phân bố kết thúc khi chất độc tập kết tại vị trí tấn công
đặc hiệu. Quá trình phân bố chịu ảnh hưởng của một số yếu tố sau:
- Sự phân bố mao mạch và cung cấp máu trong cơ quan, tổ chức.
- Tình trạng của màng mao mạch tại chỗ.
- Cấu trúc, chức năng của màng tế bào.
- Ái lực hóa học giữa ch
ất độc với các cấu trúc đặc hiệu.
Một số chất độc được tích luỹ dưới dạng không hoạt động trong một
số tổ chức, ví dụ: các hợp chất phospho hữu cơ tích luỹ trong tổ chức mỡ,
hợp chất chì, asen tích luỹ trong tổ chức xương... Từ các vị trí này, chất độc
có thể giải phóng trở lại ở dạng hoạt động. Một số
chất độc có khả năng
liên kết với protein huyết tương ngay sau khi hấp thu vào máu như: chất
độc yperit, CS, chất độc thần kinh...
Chất độc có khả năng vượt qua màng tế bào để tác động vào những
60
cấu trúc bên trong, đồng thời cũng có thể quay trở ra dịch ngoại bào hoặc
máu.
4.3.2. Sự kết hợp giữa chất độc với vị trí tấn công đặc hiệu
Vị trí tấn công đặc hiệu còn được gọi là tế bào đích hoặc thụ thể
(receptor). Có thể có một số lượng lớn xâm nhập vào cơ thể nhưng chỉ
những phân tử chất độc nào kết hợp vớ
i tế bào đích mới gây ra tác dụng