TÌM HIỂU KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TPHCM
KHOA LỊCH SỬ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP TÌM HIỂU KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM
TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII  Giảng viên hướng dẫn: TS.TRẦN THỊ THANH THANH
Sinh viên thực hiện : ĐÀO THỊ PHƢƠNG HUYỀN
Khóa 31 (2005-2009)


đầy khó khăn này.
Hôm nay luận văn được hoàn thành, em xin
kính trình Quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm khóa
luận tốt nghiệp. Do trình độ nghiên cứu và thời gian
có hạn, luận văn chắc chắc còn nhiều thiếu sót. Em
rất mong nhận được sự chỉ dẫn của Thầy Cô. Em
xin trân trọng cảm ơn. Học trò
Đào Thị Phương Huyền

Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
3
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:

Trong chế độ phong kiến trung ương tập quyền ở nước ta, cơ sở vật chất của
xã hội dựa vào kinh tế nông nghiệp, ruộng đất là nguồn tư liệu sản xuất chính, địa
tô phong kiến là nguồn sống, nguồn bóc lột chủ yếu của nhà nước phong kiến. Vì
vậy, các triều đại phong kiến khi nắm quyền luôn phải có chính sách “trọng nông”,
“khuyến nông”, tu sửa đê điều, mở mang thủy lợi, phát triển khai hoang…Đặc biệt,
theo quan niệm “dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt”, hiện tượng bỏ “nghề gốc”
(nghề nông) theo “nghề ngọn”(nghề buôn) sẽ làm ảnh hưởng đến nguồn tô thuế từ
ruộng đất, sự lớn mạnh của tầng lớp thương nhân sẽ có thể đe dọa ngai vàng...
Nghề buôn, người đi buôn…do vậy thường bị xem thường, bị khinh miệt
Nhưng kinh tế ngoại thương lại là một nội dung quan trọng của chế độ phong
kiến. Ngoại thương phản ánh tình hình kinh tế nói chung và có thể phản ánh cả
những nét đặc sắc hay tính chất của chế độ xã hội đương thời. Cơ sở kinh tế xã hội
của một giai đoạn quyết định chủ trương của nhà nước và tính chất của ngoại
thương trong giai đoạn đó. Nền ngoại thương luôn gắn liền với hệ thống các yếu tố
tác động đến hàng hóa. Đó là việc tổ chức giao dịch, các cơ quan giao dịch, các sản
phẩm mua bán, thể lệ mua bán, hệ thống giao thông, hệ thống đo lường, chế độ
thuế khóa, quan hệ giữa lái buôn và người sản xuất, các phương tiện vận tải…
Ngoại thương hoạt động tăng cường hay giảm sút đều tác động trở lại đến nền kinh
tế của quốc gia nói chung. Nhu cầu về các loại hàng hóa trao đổi với nước ngoài có
thể tác động đến việc tổ chức sản xuất trong nước đối với các sản phẩm trở thành
hàng hóa đó.
Ngoại thương là quá trình nền kinh tế hàng hóa được mở rộng khỏi thị trường
trong nước. Vì vậy, có thể coi ngoại thương là một động lực kinh tế thúc đẩy xã hội

(thế kỉ XVI). Tuy nhiên do lối chép sử biên niên, các sự kiện giao thương không
được ghi chép có hệ thống mà được lồng vào các sự kiện chính trị, ngoại giao…
theo thứ tự thời gian từng triều đại. Sách do Phan Huy Giu dịch, Nxb Khoa Học Xã
Hội, Hà Nội, 1967-1968.
- Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục, Quốc sử quán triều Nguyễn, bản
dịch, Nxb Giáo dục, 1998, cũng với lối chép sử biên niên, các sự kiện giao thương
được ghi chép lồng vào các sự kiện chính trị, ngoại giao… từ thời dựng nước đến
hết thời Lê Trung Hưng, đầu thời Tây Sơn.
- Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn chương IV và VI ghi chép về lệ thuế đầu
nguồn, tuần ty, đầm hồ, chợ đò, thuế vàng, bạc, đồng, lệ vận tải , sản vật và một số
hoạt động buôn bán trao đổi hàng hóa ở hai tỉnh Quảng Nam và Thuận Hóa vào thế
kỉ XVII-XVIII dưới sự quản lý của chính quyền chúa Nguyễn (Đàng Trong). Sách
do Nxb Văn hóa thông tin dịch và xuất bản năm 1971.
- Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên do Quốc Sử Quán triều Nguyễn biên
soạn, có nhiều ghi chép về một số sự kiện giao thương với nước ngoài thời các
chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn. Cũng do lối chép sử biên niên, các sự
kiện giao thương cũng không được ghi chép tập trung mà lồng vào các sự kiện
chính trị ngoại giao… theo thứ tự thời gian từng triều đại. Sách do Viện Sử Học
dịch và nhà xuất bản Sử Học, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà Nội xuất bản từ
năm 1963 đến năm 1974.
- Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ là một công trình có qui mô thuộc loại đồ sộ
nhất trong kho tàng thư tịch cổ viết bằng chữ Hán của Việt Nam. Sách do Nội các
triều Nguyễn biên soạn, gồm 262 quyển, trong đó từ quyển 48 đến quyển 50 ghi
chép cách thức đánh thuế ngoại thương ở cửa bể, cửa tuần, bến tuần và từ quyển 64
đến quyển 67 ghi chép về công việc thu mua của nhà Nguyễn đối với các mặt hàng
nước ngoài như tơ lụa Tàu, tơ lụa nước ngoài, các vị thuốc, các thứ trà, các thứ
quả, đồ dùng, tạp liệu….. Những ghi chép này tương đối có hệ thống nhưng chỉ
cung cấp được một phần tư liệu đầu thế kỉ XIX. Sách do Viện Sử học và Uỷ Ban
Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nhà xuất bản Thuận Hóa sản xuất năm 1993, gồm
15 tập.

động thương mại và chính sách thuế khoá. Đặc biệt tác giả chú ý đến vai trò của
nhà nước trong tổ chức hoạt động ngoại thương và địa vị của thương gia Hoa kiều
trong nền ngoại thương Việt Nam nửa đầu thế kỉ XIX.
- Tác giả Đỗ Bang với Kinh tế thương nghiệpViệt Nam dưới triều Nguyễn, tác
phẩm ngoài phần mở đầu gồm có bốn chương trong đó tác giả dành riêng chương
IV để nói về tình hình ngoại thương dưới triều Nguyễn và hai chương đầu nói về
điều kiến giao lưu hàng hóa và chính sách của triều Nguyễn đối với thương nghiệp.
Sách do Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1997.
- Li Tana, Xứ Đàng Trong - lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỉ XVII-XVIII.
Trong tác phẩm này tác giả đã dành trọn hai chương 3 và 4 viết về thành phần
thương gia và tiền tệ, thương mại ở đất Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn.
Sách do Nguyễn Nghị dịch, Nhà xuất bản Trẻ, năm 1991.
- Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng với bài Về các mối giao thương
của quốc gia Đại Việt thời Lý – Trần (thế kỉ XI-XIV), trong bài viết này các tác giả
đã dành khoảng hơn 10 trang để dựng lại bức tranh giao thương của quốc gia Đại
Việt thời Lý – Trần về các mặt ngoại giao và ngoại thương với Trung Quốc,
Champa, Ja-va và các nước khác trong khu vực. Bài viết được đăng tải trên tạp chí
Nghiên cứu lịch sử, số 7 năm 2007.
- Tác giả Phạm Văn Kính với bài Bộ mặt thương nghiệp Việt Nam thời Lý-
Trần, đăng trên T/C Nghiên cứu lịch sử số 6, năm 1979, đã dành khoảng 8 trang để
miêu tả về tình hình phát triển của nội thương và ngoại thương Việt Nam trong đó
tác giả đã đi sâu lý giải những yếu tố đưa đến sự phát triển của hoạt động giao
thương thời kỳ này như điều kiện đất nước độc lập tự chủ sau hơn 1000 năm Bắc
thuộc, sự mở mang của hệ thống giao thông nội địa và trên biển, sự ra đời và phát
triển của nền kinh tế hàng hóa, sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp…Và
những mặt còn hạn chế của nền ngoại thương nước nhà như nền kinh tế tự nhiên
vẫn còn chiếm ưu thế, giao thông đi lại khó khăn, khan hiếm phương tiện vận tải và
tầng lớp thương nhân vẫn chưa đủ lớn mạnh để có thể đảm nhận vai trò chính trong
hoạt động ngoại thương.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

thương trong giai đoạn này đó là cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn và ba mục chính
để nói về quan hệ buôn bán với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước phương Tây.
Trong đó mục cuối tác giả đưa ra một số nhận xét về tình hình ngoại thương trong
giai đoạn này. Bài viết được đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 292, tháng 9
năm 2002.
- Chính sách ngoại thương Đàng Trong thế kỷ XVI-XVII, của tác giả Vũ Duy
Mền đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 274, tháng 3 năm 2001. Đề cập đến
những yếu tố thúc đẩy ngoại thương Đàng Trong phát triển như tài nguyên thiên
nhiên phong phú, đa dạng, có vị trí trọng yếu hàng đầu trong công cuộc nam tiến
cũng như công cuộc kiến quốc và cứu nước của dân tộc, có một nền kinh tế hàng
hóa phát triển, chính sách của chúa Nguyễn thúc đẩy buôn bán với nước ngoài.
Phần hai đi vào nội dung chính là đề cập đến những chính sách ngoại thương của
chúa Nguyễn và tác động của ngoại thương đến sự phát triển kinh tế - xã hội Đàng
Trong thế kỉ XVI – XVIII. Và phần cuối đề cập đến sự trì trệ của ngoại thương thế
kỉ XVIII và sự tàn lụi của phố Hội An.
- Thành Thế Vỹ với bài Một số tài liệu về ngoại thương ở Đường Ngoài đầu thế
kỉ XVII của tác giả Thành ThếVỹ, đề cập đến các nội dung các nước buôn bán với
Đường Ngoài hồi thế kỉ XVII, tiến hành giao dịch như thế nào với tàu buôn nước
ngoài và các mặt hàng trao đổi, cách thức thanh toán.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
7
- Bài viết Bước đầu tìm hiểu về chính sách thương nghiệp của nhà nước phong
kiến Việt Nam của tác giả Trương Thị Yến được đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch
sử số 4 năm 1979. Đề cập đến những mặt tích cực và tiêu cực trong chính sách
thương nghiệp của nhà nước phong kiến thế kỉ XVII, XVIII.
- Nguyễn Thừa Hỷ với bài Phải chăng ngoại thương tư nhân Việt Nam đã phát
triển từ thế kỉ XVII? Tác giả đã phản biện lại quan điểm của nhà du hành người
Pháp gốc Bỉ thế kỉ XVIII Jean Baptiste Tavernier trong cuốn “Du kí mới và kì thú

2003.
- Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt, Nxb Sông Nhị, ,Hà Nội, 1949.
- Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà sách Khai Trí,1998.
- Văn Tạo, Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam,Viện sử học, Đô thị cổ Việt Nam,
Hà Nội, 1989.
- Nguyễn Đức Tuấn - Địa lý kinh tế học - Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 2002.
- Phan Lạc Tuyên, Lịch sử bang giao Việt Nam- Đông Nam Á (Trước công
nguyên- Thế kỉ XIX),Bộ Gíao Dục và Đào Tạo, Viện Đào Tạo Mở Rộng, Khoa
Đông Nam Á.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
8
- Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 1996.
- Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Nxb Giáo dục,
1977.
- Nguyễn Công Thống, Lịch sử kinh tế thế giới và Việt Nam, NXB thành phố Hồ
Chí Minh, 2004.
- Hoàng Trang, bài “Cảng Sài Gòn”, trong cuốn “Sài Gòn xưa và nay” (Nhiều
tác giả), Nxb Trẻ Thành phố.HCM Tạp chí Xưa và nay, năm 1998.
- Nguyễn Phan Quang, Võ Xuân Đàn, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm
1884, Nxb Tp.HCM, 2005.
- Nguyễn Phan Quang, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Cảnh Minh, Lịch sử Việt
Nam (1427-1458), Quyển 2, tập 1, Nxb giáo dục, 2007.
- Nguyễn Phan Quang, Phong trào Tây Sơn và cải cách của Quang Trung-Nguyễn
Huệ, Nxb Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2000.
- Trương Hữu Quýnh, Lịch sử Việt Nam ( Trước thế kỉ VI. Q1, Tập1), Nxb Gíao
dục, TP. Hồ Chí Minh, 1976.
- Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, 2005.


SVTH: Đào Thị Phương Huyền
9
- Hồng Thái, Vài nét về mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á
trong lịch sử, T/C Nghiên cứu kinh tế, số 3,1986.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 9, năm 1960.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 10,năm 1960.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 11, năm 1960.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 12, năm 1960.
- Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình
thành của chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu
Lịch sử, số 13,năm 1960.
Vấn đề ngoại thương trong lịch sử Việt Nam đã được giới nghiên cứu quan tâm và
được đề cập trong nhiều tác phẩm, công trình, và nhìn chung thường được trình bày
trong tình hình phát triển công thương nghiệp, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, dưới
một triều đại cụ thể…Vì vậy, một công trình nghiên cứu có hệ thống và tập trung về
kinh tế ngoại thương trong suốt 8 thế kỷ dưới các triều đại phong kiến dân tộc có thể
vẫn là một mối quan tâm của người yêu thích và học tập lịch sử. Trên cơ sở kế thừa và
tiếp thu nghiêm túc, có chọn lọc những tư liệu, những kết quả nghiên cứu và các kiến
giải khoa học của các công trình nói trên, luận văn này cố gắng nêu và làm rõ những
nội dung sau:
- Những điều kiện về địa lý, lịch sử và kinh tế -xã hội của hoạt động ngoại thương.

văn gồm 3 chƣơng:

- Chương I: Những điều kiện lịch sử- kinh tế của ngoại thương Việt Nam
trong các thế kỉ XI-XVIII.
- Chương II: Tình hình ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-
XVIII.
- Chương III: Vai trò của hoạt động ngoại thương đối với sự phát triển xã
hội Việt Nam dưới các triều đại phong kiến dân tộc.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
11
Chƣơng I

NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ-KINH TẾ CỦA NGOẠI THƢƠNG VIỆT
NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI-XVIII
I.Điều kiện địa lý- lịch sử:

Việt Nam là một quốc gia ở Đông Nam Á lục địa , thuộc bờ cực đông của bán
đảo Đông Dương, với lãnh thổ hẹp ngang và đường bờ biển chạy dài, vừa ở vị trí của
hai nền văn minh lớn Ấn Độ- Trung Hoa lại là nơi tiếp giáp của hai vùng lãnh thổ
Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Vì vậy ngay từ những thế kỉ đầu công nguyên, khi ở
miền nam châu Á đã có sự giao dịch buôn bán giữa Trung Hoa với các nước miền
Nam và Ấn Độ thì đất Giao Chỉ đã là trạm dừng chân của thuyền bè qua lại trên con
đường hàng hải thương mại ấy. Nhà địa lý học đời Đường là Gỉa Đam đã từng nhắc
đến con đường thông thương buôn bán giữa Trung Quốc và các nước phương Nam.
Theo Gỉa Đam thì con đường thông thương buôn bán quan trọng nhất là đường biển,

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
12
1.Thời kì dựng nƣớc (Hùng Vƣơng- An Dƣơng Vƣơng):

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Những hoạt động trao đổi hàng
hóa đầu tiên giữa nước ta với Trung Quốc có từ trước công nguyên (thời Đường(2357-
2258TCN): Sách Cương mục tiền tiền biên của Lý Kim Tường chép rằng: “Năm Mậu
Thân thứ năm đời Đƣờng Nghiêu, Việt thị thƣờng sang chầu, dâng con rùa thần.
Lời chua- Rùa thần: Theo thông chí của Trịnh Tiều, về đời Đào Đường, phương Nam
có Việt thường thị qua hai lần sứ dịch sang chầu, dâng con rùa thần; có lẽ nó được đến
nghìn năm, mình có hơn ba thước, trên có chữ văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất
mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy lịch (Lịch Rùa)”.
1

Sử kí Trung Quốc chép: Năm Tân Mão thứ sáu (1110 TCN) đời Thành Vương
nhà Chu, phía Nam bộ Giao Chỉ có Việt Thường thị qua ba lần sứ dịch, sang dâng
chim trĩ trắng. Chu Công nói:” Đức Trạch chưa thấm khắp đến phương xa, người quân
tử không nhận đồ lễ ra mắt; chính lệnh chưa ban ra tới người quân tử chưa bắt người
ta thuần phục”. Theo lời người thông dịch, sứ giả muốn nói: “Ông già trong nước
chúng tôi có nói: Trời mưa không dầm gió dữ và biển không nổi sóng đã ba năm nay,
ý chừng Trung Quốc, có thánh nhân chăng? Vì thế chúng tôi sang chầu”. Chu Công
đem dâng lễ vật lên nhà tôn miếu. Sứ giả không thuộc đường về, Chu Công cho 5 cỗ
xe biền đều làm theo lối chỉ Nam. Sứ giả theo xe ấy theo ven biển về nước Phù Nam,
Lâm Ấp, vừa một năm mới về đến nước
2
.
Đinh Tỵ, năm thứ 24(184TCN)( Hán Cao Hậu năm thứ tư) Nhà nước cấm nước
Nam Việt mua đồ sắt ở cửa quan. Vua nói: “ Khi Cao Đế lên ngôi, ta cùng thông sứ
chung đồ dùng. Nay Cao Hậu nghe lời dèm pha, phân biệt đồ dùng Hán Việt. Việc
này tất là mưu kế của Trường Sa Vương muốn dựa y đức của nhà Hán mưu lấy nước

4
Theo Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (tập 1), Sđd, trang 92.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
13
a. Với Trung Quốc:
Theo Phan Lạc Tuyên, trên thực tế Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc và
nhiều nền văn minh (như một số đông nhà nghiên cứu phương Tây đã nhận định).
Cũng có ý kiến khác đánh giá Việt Nam là ngã tư đường của giao lưu quốc tế với
Đông Nam Á và châu Á. Từ lâu rồi, trước công nguyên, Việt Nam từng là vùng đất
dừng chân hay là trạm trung chuyển cho các thương nhân ở vùng biển Địa Trung Hải,
Trung Cận Đông, Ấn Độ tới, hoặc họ có thương điếm ở đây hoặc họ dừng chân nghỉ
ngơi, mua thêm hàng hóa đi tiếp tơi Trung Quốc và Nhật Bản.
Được nhắc đến nhiều vào lúc đó là Luy Lâu là nơi đóng thủ phủ của Thái thú
Trung Quốc (năm 203 đổi là Giao Châu), ở vào vị trí huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc
(Bắc Bộ ngày nay). Vào những thế kỉ đầu công nguyên do vị trí địa lý thuận lợi cho
việc giao lưu bằng đường bộ, đường sông và đường biển và là trung tâm hành chính và
kinh tế nên nơi đây những nhà buôn từ Ấn Độ, Trung Á hay xa hơn nữa đã tới buôn
bán. Đồng thời tại đây họ tìm đầu mối để đi Trung Quốc hay những những thương
nhân Trung Quốc liên hệ để đi tới vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Trung
Đông và Địa Trung Hải. Do đấy những tăng lữ Phật giáo cũng chọn Luy Lâu làm nơi
dừng chân truyền đạo”
5
.
Ngoài Luy Lâu, còn có Long Biên (thuộc Hà Bắc), Tư Phố, Lạch Trường( thuộc
Thanh Hóa) là những trung tâm chính trị, kiêm buôn bán thời kì này.
Để đạt được mục đích vận chuyển thuế khóa, vật cống, chính quyền đô hộ lo sửa
đắp đường sá liên lạc giữa các miền cũng như giữa nước ta với Trung Quốc. Cửu
Chân, Nhật Nam và Giao Chỉ từ thời Hán đã liên lạc thông thương với nhau. Cuối thế

Minh, 1976, trang 168- 169.
7
Phạm Văn Chiến, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003, trang 36.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
14
cho thấy nền kinh tế hàng hóa ở nước ta lúc đó chỉ mới bắt đầu phát triển và chưa đòi
hỏi đến mức phải có một thứ hàng hóa đặc biệt là tiền”
8
.

b. Với các nƣớc Đông Nam Á, và các nƣớc trong khu vực:
Khu vực Đông Nam Á đã có giao dịch từ những thế kỉ trƣớc công nguyên với
Việt Nam, chủ yếu và quan trọng hơn cả là bằng con đường Hồ Tiêu, con đường biển
mà các thuyền có nhiều điều kiện thuận lợi trong những đợt gió mùa hàng năm có định
kì. Những thương nhân Ấn Độ, Cey lan, Java và cả người Arabe đã tới Giao Chỉ (và
sau này là Giao Châu) để buôn bán. Họ không muốn vất vả để đi tới các thương điếm
xa hơn Trung Quốc, bởi lẽ hàng hóa ở đó không có gì độc đáo bằng đất Giao Chỉ (sau
này là Giao Châu) để buôn bán. Và họ cũng dùng những thương điếm đặt ở đất Giao
Chỉ, chỉ để đưa hàng vào đất Trung Quốc bằng cách sử dụng những dòng sông nội địa.
Họ cũng có thể dùng những thương điếm đặt tại Giao Chỉ (sau này là Giao Châu) tích
chứa hàng hóa để những lái buôn đem sang Trung Quốc hay dùng những thương điếm
là nơi tiêu thụ hàng hóa địa phương, gom góp và đôi khi có thể chế biến (da thú quý,
quế…) để chuẩn bị đem đi xa cho khỏi hư hỏng
9
.Mối bang giao chính trị thơì đó chưa
rõ nét bằng những mối giao lưu về thương mại và tôn giáo. Có nhiều lý do nhưng có
thể lý do chính là từ những thế kỉ đầu công nguyên đến thế kỉ thử X, Việt Nam lúc đó
nằm dưới sự đô hộ của triều đình Trung Quốc.

Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
15
Geographica vaò khoảng cuối thế kỉ II những giao lưu giữa La Mã và vùng Đông Nam
Á với những địa danh mà nhiều nhà nghiên cứu đang cố gắng giải mã nhưng cũng
chưa thể khẳng định cụ thể xem đó là vùng nào hiện nay. Đây là một vài ví dụ:
Claudius Ptolemee đã viết tên những vùng đất hay thương điếm (Comptoir
Commercial) mà những thương nhân La Mã (Romain) đã ghé vào (không liệt kê
những địa danh liên hệ đến những khu vực ngoài địa giới Phù Nam, Thủy Chân Lạp,
Champa, Việt Nam) được các nhà nghiên cứu nói đến trong các công trình nghiên cứu:
Claudius Ptolemee nhắc đến thương điếm ở vùng đảo Satyres, vùng đất Sinai, địa
danh, Daonas, Kottiaris, Thinai, Kattigara và những danh khác thuộc. Đông Nam Á.
Những nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên việc nhiên việc nêu rõ
những ý kiến cho chúng ta thấy đƣợc trên nét khái quát về sự giao lƣu đã có của
Tây Phƣơng và Đông Nam Á trong đó có khu vực Đông Dƣơng.
Về địa danh đảo Statyres nhà khảo cổ học Louis Malleret đưa ra giả thuyết đó là
nhóm đảo Hòn Me, Hòn Sóc, Hòn Đất ở gần Rạch Gía. Địa danh Daonas nhà nghiên
cứu Wilhem Volz cho rằng đó là vùng sông Mê Kông và nhà nghiên cứu, Andre
Berthelot cũng đồng ý với nhận định này. Địa danh Seros được nhà nghiên cứu
Richard Henning cho là sông Hồng( Sông Cái) nhưng Andre Berthelot lại cho là
Quảng Trị. Với địa danh Kottiaris thì Louis Malleret cho là vùng sông Cái Lớn nhưng
Albert Hermann cho là vùng sông Mê Kông. Địa danh Thị Nại được Luuis Malleret
xác định ở vung ven biển Nam Bộ ngày nay, hoặc ở gần Sài Gòn hoặc ở gần Bà Rịa.
Riêng địa danh Kattigara đã gây ra nhiều ý kiến khác nhau, nhưng đa số cho rằng đó
thuộc về một nơi nào đó thuộc ven biển Nam Bộ ngày nay. Nhà nghiên cứu Jirlius
Klaprow trong cuốn Tableaux historiques de I’ Asie xuất bản tại Paris năm 1826 cho
rằng Kattigara là một thương điếm thuộc vùng Vàm sông Mê Kông ở Nam Bộ. Cùng
với nhận định là địa danh này ở một nơi nào đó thuộc ven biển Nam Bộ có các nhà
nghiên cứu Albert Hermann, Richard Henning, W.M.Stein và Louis Malleret một nhà

nguyên vốn là những người theo đạo Bà La môn (Brahmanisme) thuộc đẳng cấp tăng
lữ ( Brahmana) hay quý tộc, võ sĩ (Kasytria) và những người thuộc giới buôn bán tự
do( Vaisya). Cũng rất có thể những người thuộc đẳng cấp tăng lữ đi cùng để truyền
đạo tại những nơi xa xôi mà sau này những nhà Đông phương học phương Tây gọi là
vùng ngoại Ấn ( Inde exterieur) hoặc sau này khi văn minh Ấn Độ đã xâm nhập vào
những quốc gia cổ ở Đông Nam Á, họ gọi vùng này là những quốc gia Ấn Độ hóa.
Cũng có trường hợp đó là những người thuộc hoàng tộc và quý tộc của những
vương triều thuộc nhiều thuộc nhiều tiểu quốc Ấn Độ đi phiêu liêu hoặc chinh phục
những vùng đất mới ở Đông Nam Á và cũng đồng thời đi trao đổi và thậm chí cướp
bóc hay khai thác tự do những tài nguyên quý hiếm ở địa phương như vàng, đá quý,
trầm hương, ngà voi, ngà tê giác…
Quan hệ giữa Phù Nam, Lâm Ấp với Trung Quốc thời kì này chỉ diễn ra dưới
hình thức triều cống.
Do những biến động của chính trị nước Phù Nam bị Chân Lạp xâm chiếm vào
khoảng giữa thế kỉ VI và sau năm 627 TCN sử sách không còn nhắc đến Phù Nam
nữa. Trước đó Phù Nam có gửi hai sứ bộ sang cầu cứu nhà Đường vào những năm 616
và 627 nhưng bị khước từ. Sau đó Phù Nam chìm vào lãng quên của lịch sử để nhường
cho một quốc gia mới xuất hiện: Chân Lạp tiền thân của Campuchia
10
.
Nhìn chung việc buôn bán với nước ngoài, thịnh nhất vẫn là sự giao thương giữa
Việt Nam và Trung Quốc. Hàng bán ra chủ yếu là hương liệu, lâm sản quí, vải mịn,
gấm, giấy bản loại tốt,đường. Hàng mua vào thì đủ các loại sản phẩm thủ công, nhất là
những thứ xa hoa phục vụ bọn quan lại đô hộ. Và tất nhiên, đương thời việc buôn bán
với nước ngoài nằm trong tay chính quyền đô hộ. Người đứng ra buôn bán ngoài các
quan lại và họ hàng đều là các lái buôn Trung Quốc. Hàng phục vụ chúng rất có hạn.
Sự phát triển ngoại thương chủ yếu làm giàu các quan lại đô hộ và do đó chỉ tăng thêm
ách lao dịch của nhân dân ta. Ách bóc lột nặng nề càng trở nên nặng nề hơn và đó
cũng là lý do khiến bọn thái thú, thứ sử ở nước ta giàu lên một cách nhanh chóng.
Nền thương nghiệp nước ta vốn có truyền thống từ lâu đời, lẽ ra phải được phát triển

thời Trần chứng minh rõ nét”.
11II. Những điều kiện kinh tế - xã hội làm tiền đề cho hoạt động
ngoại thƣơng:

1. Chính sách trọng nông ức thƣơng của các nhà nƣớc phong kiến:

Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước. Nhà nước
phong kiến ra đời và ý thức hệ của nó được xây dựng trên cơ sở kinh tế nông nghiệp.
Địa tô phong kiến trở thành nguồn bóc lột và là nguồn sống chủ yếu của nhà nước
phong kiến. Vì vậy các triều đại phong kiến sau khi lên nắm quyền thường có các
chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp:
- Thời Lý: Dưới triều Lý thiên tai, hạn hán, lụt lội thường xuyên xảy ra nhà vua
thường hay tự thân cầu đảo. Tuy nhiên bên cạnh đó nhà nước thường có các biện pháp
tích cực hơn. Nhà nước đã chú trọng đến việc bảo vệ sức sản xuất. Khi Lý Công Uẩn
mới lên ngôi năm 1010 đã xuống chiếu bắt tất cả những người đào vong trở về bản
quán, như vậy cốt là để số lượng lao động nông nghiệp được đảm bảo. Năm 1065, Lý
Thánh Tông hạ chiếu khuyến nông. Các vua nhà Lý còn thực hiện công việc cày ruộng
tịch điền và nhà vua tự đi xem gặt ở hành cung Ứng Phong (Nghĩa Hưng-Nam Định).
Lý Nhân Tông (1072-1128) rất lưu ý đến công việc này. Theo ghi chép của Đại Việt
sử kí toàn thư, cũng có lần đích thân nhà vua đến hành cung này xem gặt. Đây là hoạt
động khuyến khích sản xuất nông nghiệp.
Chính sách “ngụ binh ư nông” cũng có tác dụng phát triển sản xuất nông nghiệp,
sức lao động không bị thiếu. Năm 1128, sáu quân được thay phiên nhau về làm ruộng.
Sách lĩnh ngoại đại đáp cũng chép binh sĩ thay nhau nghỉ một tháng lần để cày ruộng
tự cấp. Nhà Lý đã có luật lệnh để bảo vệ trâu bò. Trộm trâu hay giết trâu bị tội nặng.
Năm 1117, thái hậu Linh Nhân nói rằng: “ Gần đây ở kinh thành, hương ấp có nhiều
người trốn, lấy việc trộm trâu làm nghề nghiệp, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày

mùa màng, nhà cửa, tính mạng một cách ổn định lâu dài phải có quy hoạch đắp đê theo
qui mô cả dòng sông. Vì vậy, năm 1248, Thái Tông đặt cơ quan hà đê, có chánh sứ,
phó sứ phụ trách việc đê điều ở các lộ phủ lại xuống chiếu đắp đê gọi là đê Quai Vạc
hay Đỉnh Nhĩ. Theo Đại Việt sử kí toàn thư :“ Đắp đê để giữ nước sông gọi là đê Quai
Vạc, đắp suốt từ đầu nguồn cho tới bờ biển để ngăn chặn nước lũ tràn ngập. Đắp đê
Quai Vạc bắt đầu từ đấy”. Việc đắp đê Đĩnh Nhĩ không chỉ dành riêng cho vùng đòng
bằng sông Hồng mà còn thực hiện cả ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An.Ngoài ra việc đắp
đê ngăn chặn nước mặn cũng là một công cuộc mới mẻ ở thời Trần.
Công cuộc xây dựng thủy nông cũng được nhà Trần chú ý. Ở Thanh Hóa và Nghệ
An là nơi có nhiều công trình thủy nông. Năm 1231, nhều dòng sông bị tắc, vua Thái
Tông sai hoạn quan Nguyễn Băng Cốc đem quân bản phủ đào kênh Trầm, kênh Hào từ
Thanh Hóa đến Diễn Châu. Năm 1248, Nhân Tông lại cho đào sông Mã, sông Lễ và
đục núi Chiếu Bạch (ở Thanh Hóa) tạo thành một con kênh chạy theo hướng Bắc Nam
dài hơn 8 km tưới tiêu cho cả vùng Tống Giang (Hà Trung, Thanh Hóa). Năm 1256,
triều đình lại cho khơi lại sông Tô Lịch nhằm đảm bảo giao thông đồng thời để tưới
tiêu cho các vùng xung quanh kinh thành; Năm 1374, triều đình còn cho nạo vét
những sông đòa từ Thanh Hóa đến cửa biển Hà Hoa (Hà Tĩnh)…
13

- Thời Lê sơ: Từ năm 1427 khi đang bao vây thành Đông Đô, Lê Lợi kêu gọi những
người “xiêu bạt lưu ly” trở về quê quán làm ăn và ngăn cấm việc bỏ hoang ruộng đất.
Theo Đại Việt sử kí toàn thư: “Năm Đinh Mùi [1427] Hạ lệnh cho dân xiêu tán về quê
quán cũ mà cày cấy. Người nào không có điền sản thì cho được buôn bán. Người nào
bỏ nghề nghiệp thì xử tội nặng”
14
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng khỏi ách đô
hộ của giặc Minh. Nhà nước rất quan tâm đến việc bảo vệ và khuyến khích nông
nghiệp. Các quan phủ huyện có nhiệm vụ đốc thúc và khuyến khích nhân dân khai phá
hết ruộng đất bỏ hóa, giúp đỡ nhân dân diệt sâu cắn lúa nếu có. Thánh Tông đã từng
dụ các quan Thừa ty, Hiến ty, phủ huyện: “về các việc dân sự , tầm thường như là đại

giữ nước, khơi thông những chỗ úng thủy, phòng hạn hán, xe tát nước được phổ biến.
Ngoài ra nhà nước còn qui định mọi công trình xây dựng cần điều động dân phu
đều phải tiến hành ngoài thời vụ cày cấy, gặt mùa, “hễ công việc gì có hại cho nghề
nông thì không được khinh động sức dân”. Pháp luật nhà Lê bảo vệ chặt chẽ sức kéo
trong nông nghiệp. Tội ăn trộm trâu bò bị trừng phạt nặng. Năm 1489, Thánh Tông ra
lệnh cấm giết trâu bò ban đêm. Trong những năm khó khăn, hạn hán, lụt lội, nhà vua
thường lập đàn cầu đảo, tự trách mình hoặc ra chiếu khuyến nông, động viên nhân dân
khắc phục khó khăn đảm bảo sản xuất.
Chính sách trọng nông của nhà Lê thực sự mang lại kết quả tốt. Theo ghi chép của
sử cũ, trong 38 năm thống trị của Lê Thánh Tông, chỉ có 4 lần hạn hán, 1 lần đê vỡ, 1
năm đói kém… Nhiều năm sau, nhớ lại thời này, nhân dân đã ca ngợi:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.
15

- Thời Trịnh- Nguyễn:
Ở Đàng Ngoài: Mặc dù nhà nước Lê -Trịnh cố chăm lo đến tình hình nông
nghiệp nhưng so với các thời kỳ trước nông nghiệp thời kì này có phần kém phát triển
hơn do hậu quả của chiến tranh và sự phát triển của chế độ tư hữu về ruộng đất, sự
quan tâm của nhà nước không còn đạt được những kết quả như ở thế kỉ XV. Lụt lội
hạn hán thường xuyên đe dọa. Theo ghi chép của sử cũ, từ năm 1580-1640 đã xảy ra
14 lần thiên tai trong đó có 6 nạn đói lớn, 6 lần lụt lội. Năm 1664, chúa Trịnh ban lệnh
qui định lệ khám xét đê điều, khởi công sửa đập co các quan chức địa phương. Nhưng
bọn quan lại quên ăn của đút sách nhiễu nhân dân, mặc dù nhiều tên bị giáng chức vẫn
“làm việc qua loa, cẩu thả, đến mùa nước lớn, đê lại vỡ lở, dân vùng ven sông luôn
luôn bị tai họa”. Tình hình từ 1680-1740 lại càng khó khăn hơn; đã xảy ra 24 lần thiên
tai, trong đó có 14 nạn đói lớn, 7 lần thủy tai.
Tuy vậy, nông nghiệp vẫn là nghành kinh tế quan trọng đóng vai trò chủ đạo
trong thời kì này. Công cuộc khẩn hoang ở các vùng ven biển thuộc Sơn Nam, ở các
vùng trung du thuộc Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang…được thực hiện khẩn

đến khai phá. Chúa Nguyễn cho phép các địa chủ giàu có ở đây nuôi nô tỳ; nhân đó
bọn lái buôn “đem con trai, con gái người Man ở đầu nguồn bán cho dân ở đây làm nô
tỳ”. Ở mạn Nam nhằm nhanh chóng đưa đất đai vào vòng quản trị, chúa Nguyễn
khuyến khích các địa chủ và dân lưu vong khai hoang, biến thành ruộng đất tư. Do đó
trên đất Đồng Nai, Gia Định “các nhà giàu hoặc có chỗ 40, 50 nhà, hoặc có chỗ 20, 30
nhà; mỗi nhà có đến 50, 60 điền nô, trâu bò có đến 300 con, cày bừa, trồng cấy, gặt hái
không lúc nào rỗi. Hàng năm cứ đến tháng chạp, tháng một, đem thóc giã thành gạo,
bán lấy tiền để chi dùng vào Tết tháng chạp…”. Ruộng đất ngày càng mở rộng, theo
lời của Lê Qúy Đôn, đất Gia Định “từ cửa bể đến đầu nguồn đi mất 6-7 ngày mà hết
thảy đều là đồng ruộng, nhìn bát ngát, ruộng phẳng như thế đấy”
17

- Thời Tây Sơn: Song song với những chính sách ưu tiên phát triển công thương
nghiệp như khuyến khích, mở rộng và phục hồi các làng nghề thủ công; chủ trương
mở của buôn bán với phương Tây và đề nghị nhà Thanh cho thương nhân hai nước
qua lại buôn bán ở vùng biên giới Việt-Trung…Nông nghiệp cũng được nhà nước đặc
biệt chú ý quan tâm phát triển. “Một trong những việc làm đầu tiên của vua Quang
Trung là nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nghiệp. Năm 1789 “chiếu khuyến nông”
được ban bố: “đạo lo cho dân không gì bằng khôi phục dân lưu tán, khai khẩn ruộng
bỏ hóa…” “…từ lúc trải qua loạn lạc đến nay, binh lửa liên miên bận rộn, lại thêm đói
kém, nhân khẩu lưu tán, đồng ruộng bỏ hoang. Số đinh điền thực trưng mười phần
không còn được 4-5…”và qui định:
+ Dân lưu tán phải nhanh chóng trở về quê cũ, xã nào chứa chấp người trốn tránh phải
bị trừng phạt. Làng xã phải cung cấp ruộng đất cho công họ cày cấy nộp thuế.
+ Hạn đến tháng 9 năm Kỉ Dậu (tức tháng 10-1789) xã phải làm xong sổ ruộng nộp
lên.

16
Theo Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, 2005, trang 356-357.
17

cấp thống trị có duy trì được tình trạng nông dân phụ thuộc vào ruộng đất để chúng
tiến hành bóc lột tô. Nếu như kinh tế hàng hóa phát triển lớp thương nhân mạnh lên thì
đối với chúng có hai điều tai hại: một là số thương nhân sẽ rời bỏ ruộng đất mà chuyên
làm nghề thủ công hay buôn bán, như vậy mức tô của phong kiến sẽ không được đảm
bảo. Hai là, lớp thương nhân lớn mạnh lên sẽ bóc lột nông dân và thợ thủ công làm
giảm “thu hoạch” của giai cấp phong kiến. Nên giai cấp phong kiến chỉ muốn kinh tế
hàng hóa phát triển trong chừng mực có thể thỏa mãn nhu cầu mua hàng của chúng.
Còn nếu như phát triển quá mức độ ấy đến chỗ trở thành một thực thể chi phối mọi
quan hệ sản xuất và phân phối trong nền kinh tế toàn quốc thì sẽ bị giai cấp thống trị
phản đối và chống lại. Ngoài ra về mặt chính trị thì nếu như quan hệ thương phẩm hóa
tệ phát triển sẽ làm đảo lộn cái trật tự “quốc quân thần, gia phụ tử”, cái trật tự dựa trên
cơ sở kinh tế tự cấp, tự túc, dựa trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp trật tự và ổn định.
Đó là chưa kể nếu kinh tế hàng hóa phát triển thì dân số ở nông thôn sẽ không thể nào
ổn định được vì nông dân hoặc bị phá sản hoặc thường xuyên tham gia vào quan hệ
thương phẩm hóa tệ, hoặc bỏ ra thành thị làm nghề thủ công…như thế thì sẽ không
đảm bảo cho nhà nước nguồn nhân công làm các công việc tạp dịch khác. Và nhất là vì
lý do an ninh đất nước, Nhà nước lo sợ bọn gián điệp đội lốt thương nhân đến buôn
bán để do thám tình hình trong nước. Vì vậy chính sách “bế quan tỏa cảng” trở thành
chính sách xuyên suốt các triều đại phong kiến nhất là từ thời Lê sơ trở đi.

Trong hoạt động ngoại thương, thông thường tầng lớp đảm nhận vai trò buôn bán
với nước ngoài là thương nhân. Vậy tầng lớp thương nhân Việt Nam ra đời từ bao giờ?

18
Theo Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục, 2005, trang 431-432.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
22
Vai trò và vị trí của họ trong xã hội ra sao? Những đóng góp của họ đối với nền ngoại

buôn bán từ châu Vĩnh An phải thông điệp cho Khâm Châu ấy là tiểu cương (buôn
nhỏ) còn nước ấy sai khứ đến Khâm Châu để buôn bán gọi là đại cương (buôn to).
Hàng đem bán có bạc, đồng, tiền, trầm hương, quang hương, thục hương, sinh hương,
trân châu, ngà voi. Những tiểu thương nước ta (tức Trung Quốc) bán các thứ bút, giấy,
gạo, vải, hàng ngày trao đổi một ít với người Giao Chỉ, không đáng kể. Chỉ những phú
thương từ đất Thục buôn bán đến Khâm Châu rồi từ Khâm Châu buôn hương đến
Thục. Một năm một chuyến buôn bán đến mấy nghìn quan. Hai bên đem hàng mặc cả
cùng nhau, hồi lâu mới định giá. Sau khi mặc cả không được thương nghị với người
khác, lúc định giá ban đầu thật là xa nhau một trời, một vực”. Phú thương nước ta
(Trung Quốc) sai người nhà buôn bán nhỏ, để tự cấp, dựng nhà, cày ruộng để ở lâu.
Phú thương nước ấy (Đại Việt) cũng ngoan cố không nhúc nhích, giữ giá lâu làm cho
ta khốn đốn. Khi lái buôn hai bên gặp nhau, mời uống rượu làm vui, lâu rồi dần dần
nâng giá cao, gần bằng nhau rồi đến ngang nhau. Bấy giờ mới có quan cân hương và
giao gấm”. “ Hàng Trung Quốc bán ra cứ mỗi quan 30 đồng thuế. Những người đương
thời còn mô tả những hiện tượng lừa lọc, làm giả trong buôn bán hai bên, ví như người
lái buôn nhà Tống cân hàng gian trá nhiều lần khiến nhà Lý phải 3 lần xin thử cân lại,
hoặc bán thuốc bắc thì làm lại giả. Do đó lái buôn Việt trả miếng bằng cách đúc lẫn

19
Theo Lê Minh Đức, Từ điển kinh doanh Anh- Việt, Nxb Trẻ, 1994,TP.HCM, trang 456.
20
Theo PTS Nguyễn Quang Ngọc- Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam- Nxb
Hà Nội, 1995, trang 60.
Luận văn tốt nghiệp - Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỉ XI-XVIII

SVTH: Đào Thị Phương Huyền
23
đồng vào trong vàng, bạc, tẩm muối hay đổ chì vào trầm hương
21
. Trong cuộc kháng

thuyền tám cánh chở đã vỡ then
27
. Lụa ngũ sắc, vải tam lăng, vóc tố lĩnh, bả cầm
chiên, quyến
28
Thục, giấy Ngô, kho năm gian chất hầu rẽ nóc.
Toàn những vật yêu, vật lạ’
Rất nhiều của quý của thanh”
Xem những câu trên chúng ta thấy các hoạt động của thương nhân quả là có tác
dụng tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam hồi thế kỉ XV. Thương nhân đã chở thóc
từ Thuận Hóa ra bắc. Họ đã mua đồng từ Thăng Long đem về cho nhà vua đúc tiền và
các xưởng thủ công chế đồ đồng. Chúng ta có lý do để nghĩ rằng thương nhân còn đem
hàng thủ công ở Thăng Long và các nơi khác đến bán ở Huế và Lào. Cũng như họ đã
buôn kỳ nam, đồi mồi, an tức, hồ tiêu, lụa, vải vóc, đem bán ở khắp các nơi có thể bán
được. Vai trò của thương nhân là cần thiết cho đời sống kinh tế của đất nước lúc bấy
giờ. Vậy mà trong lời kết bài “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn”, Lê Thánh Tôn đã lên
tiếng nguyền rủa thương nhân như sau
29
:
Đêm ngày đau đáu bãi trường sa,
Của cải đem về để chật nhà.

21
Theo Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng, Về các mối giao thương của quốc gia Đại Việt
thời Lý – Trần, Nghiên cứu lịch sử, số 7, năm 2007, trang 24.
22
Văn Tân, Tại sao ở Việt Nam chủ nghĩa tư bản không ra đời trong lòng chế độ phong kiến?T/C
Nghiên cứu kinh tế, số 130, 1970, trang 21.
23
Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Nxb Giáo dục, 1977, tr.237.

vàng của họ Lê.
Sang thời Trịnh- Nguyễn khi mà kinh tế nông nghiệp nông nghiệp đi xuống kéo
theo sự sa sút của đời sống kinh tế nói chung thì thái độ của giai độ của giai cấp thống
trị đối với vai trò của tầng lớp thương nhân trong xã hội đã có những thay đổi đáng kể.
Trong lệ bãi bỏ tuần ty (1743) Trịnh Doanh đã nói: “Ngày nay tài lực của nhân dân
thiếu hẳn đi, chỉ còn trông chờ vào bọn phú thương chuyên chở lưu thông chỗ có đến
nơi không thì mới tạm đủ”. Từ chỗ coi buôn bán là “mạt nghề” nay nhà nước buộc
phải công nhận vai trò quan trọng của nó trong hoạt động kinh tế xã hội. “Thay đổi
cách nhìn nhận về vai trò của hoạt động thương nghiệp cũng tức là nhà nước phải có
sự đánh giá khác đi đối với tầng lớp thương nhân, sự khinh thường đối với tầng lớp
“đua chen làm nghề ngọn” đã mất đi có lúc tưởng chừng như mất hẳn. A-lếch-xan
Đrốt trong hồi kí của mình đã tả lại cảnh lễ “đăng quang” của nhà vua trong đó có đại
biểu của phường buôn và phường thợ được thay mặt nhân dân kinh đô vào chúc mừng
vị “minh chủ” mới. Những thủ đoạn làm giàu cạnh tranh bán của chủ thương đã từng
khiến giai cấp phong kiến có định kiến xấu đối với họ. Song lúc này chính các quan lại
cũng nhúng tay vào việc buôn bán và cũng tỏ ra không kém gì thương nhân trong nghệ
thuật săn đuổi đồng tiền, khinh rẻ tầng lớp thương nhân khác nào khinh rẻ chính bản
thân họ. Tầng lớp thương nhân sẵn tiền tài cũng bằng mọi cách cố ngoi lên địa vị trong
xã hội. Lệnh cho phép mua bán tước đã tạo điều kiện phong kiến hóa cho các thương
nhân giàu có. Nhà nước còn có lệnh quyên tiền để ban chức phẩm lệnh thưởng chức
sắc cho các thương nhân dâng nộp các loại hàng hóa như diêm tiêu, lưu hoàng…Sự
đóng góp trong hoạt động kinh tế, trong ngân quỹ quốc gia của thương nhân đã được
Nhà nước đánh giá cao. Nhờ đó công việc buôn bán của họ thêm phát đạt, thịnh
vượng”
30
. c. Cơ cấu tầng lớp thƣơng nhân Việt Nam trong xã hội phong kiến:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status