TÌM HIỂU KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG CÁC THẾ KỈ XI -XVIII - Pdf 28

TÌM HIỂU KINH TẾ NGO
ẠI
THƯƠNG VIỆT N
AM
TRONG CÁC THẾ KỈ
XI
-XVIII
“Trong chế độ phong kiến trung ương tập quyền ở nước ta, cơ sở vật chất
của xã hội dựa vào kinh tế nông nghiệp, ruộng đất là nguồn tư liệu sản xuất chính,
địa tô phong kiến là nguồn sống, nguồn bóc lột chủ yếu của nhà nước phong kiến.
Vì vậy, các triều đại phong kiến khi nắm quyền luôn phải có chính sách “trọng
nông”, “khuyến nông”, tu sửa đê điều, mở mang thủy lợi, phát triển khai hoang…
Đặc biệt, theo quan niệm “dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt”, hiện tượng bỏ
“nghề gốc” (nghề nông) theo “nghề ngọn”(nghề buôn) sẽ làm ảnh hưởng đến
nguồn tô thuế từ ruộng đất, sự lớn mạnh của tầng lớp thương nhân sẽ có thể đe
dọa ngai vàng... Nghề buôn, người đi buôn…do vậy thường bị xem thường, bị
khinh miệt.”
Đào Thị Phương Huyền – Luận văn tốt nghiệp trường ĐH Sư Phạm TP. Hồ
Chí Minh: Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỷ XI-XVIII – GVHD: TS.
Trần Thị Thanh Thanh - Trang 3 - Năm 2009.
(Khái quát Lịch Sử ngoại thương Việt Nam)
“1.Thời kì dựng nước

(Hùng Vương

An Dương

Vương):
Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Những hoạt động trao
đổi hàng hóa đầu tiên giữa nước ta với Trung Quốc có từ trước công nguyên (thời
Đường(2357-2258 TCN): Sách Cương mục tiền tiền biên của Lý Kim Tường chép

xa, người quân tử không nhận đồ lễ ra mắt; chính lệnh chưa ban ra tới người quân
tử chưa bắt người ta thuần phục”. Theo lời người thông dịch, sứ giả muốn nói:
“Ông già trong nước chúng tôi có nói: Trời mưa không dầm gió dữ và biển không
nổi sóng đã ba năm nay, ý chừng Trung Quốc, có thánh nhân chăng? Vì thế chúng
tôi sang chầu”. Chu Công đem dâng lễ vật lên nhà tôn miếu. Sứ giả không thuộc
đường về, Chu Công cho 5 cỗ xe biền đều làm theo lối chỉ Nam. Sứ giả theo xe ấy
theo ven biển về nước Phù Nam, Lâm Ấp, vừa một năm mới về đến nước

2
.
Đinh Tỵ, năm thứ
24 (184TCN)(
Hán Cao Hậu năm thứ tư) Nhà nước
cấm nước Nam Việt mua đồ sắt ở cửa quan. Vua nói: “ Khi Cao Đế lên ngôi, ta
cùng thông sứ chung đồ dùng. Nay Cao Hậu nghe lời dèm pha, phân biệt đồ
dùng Hán Việt. Việc này tất là mưu kế của Trường Sa Vương muốn dựa y đức của
nhà Hán mưu lấy nước ta làm vua cả, tự làm công cho mình.”
3
Năm Mậu Ngọ (183TCN) (Triệu Vũ Vương năm thứ 25,Hán Cao Hậu
năm thứ 5). Mùa xuân, Triệu Vương Đà tự
xưng

hoàng đế, đem
quân đánh
Trường Sa. Bấy giờ Lữ Hâu nhà Hán không cho bán đồ sắt ở cửa quan ải Nam
Việt. Triệu Vương nghe tin nói: Hồi Cao Đế làm vua, ta vẫn cho sứ giả thông hảo
hai nước cùng trao đổi đồ vật. Bấy giờ Lữ Hậu nghe tin bầy tôi gièm pha, chia rẽ
Hán với Việt làm ngăn cách việc trao đổi đồ vật…”
4


hay những những thương nhân Trung Quốc liên hệ để đi tới vùng Đông Nam Á,
Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Đông và Địa Trung Hải. Do đấy những tăng lữ Phật
giáo cũng chọn Luy Lâu làm nơi dừng chân truyền đạo”

5
.
Ngoài Luy Lâu, còn có Long Biên (thuộc Hà Bắc), Tư Phố, Lạch
Trường( thuộc Thanh Hóa) là những trung tâm chính trị, kiêm buôn bán thời kì này.
Để đạt được mục đích vận chuyển thuế khóa, vật cống, chính quyền đô hộ lo sửa
đắp đường sá liên lạc giữa các miền cũng như giữa nước ta với Trung Quốc.
Cửu Chân, Nhật Nam và Giao Chỉ từ thời Hán đã liên lạc thông thương với nhau.
Cuối thế kỉ I, con đường dọc sông Thương sang Trung Quốc được xây đắp. Những
5
Theo Phan Lạc Tuyên, Lịch sử bang giao Việt Nam- Đông Nam Á (Trước công nguyên-
Thế kỉ X
I
X),Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Viện Đào Tạo Mở Rộng, Khoa Đông Nam Á, trang
27
.
con đường này được lợi dụng làm đường buôn bán giữa các quận và giữa nước
ta với Trung Quốc. Giao Chỉ là nơi có nền nông nghiệp và thương nghiệp phát
triển nên là trung tâm trao đổi của dân buôn ở Cửu Chân và Hợp Phố. Gạo Cửu
Chân được đưa sang Hợp Phố để đổi lấy ngọc trai. Hương liệu quí của Cửu Chân,
Nhật Nam cũng được đưa ra Giao Chỉ để chuyễn ra nước ngoài.
6
Các con đường buôn bán chính trong và ngoài nước đều do người Hoa
nắm giữ. Chính quyền đô hộ nắm độc quyền việc mua bán muối và sắt. Các đồng
tiền cổ Trung Quốc cũng được lưu hành như đồng tiền bán lạng thời Tần, thời Cao
Hậu… vàng và bạc cũng được dùng làm tiền.
7

Phạm Văn Chiến, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003, trang
36
.
8
Theo Đỗ Văn Ninh, Tiền cổ Việt Nam, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1992, trang 303
.
đi tới các thương điếm xa hơn Trung Quốc, bởi lẽ hàng hóa ở đó không có gì độc
đáo bằng đất Giao Chỉ (sau này là Giao Châu) để buôn bán. Và họ cũng dùng
những thương điếm đặt ở đất Giao Chỉ, chỉ để đưa hàng vào đất Trung Quốc bằng
cách sử dụng những dòng sông nội địa. Họ cũng có thể dùng những thương điếm
đặt tại Giao Chỉ (sau này là Giao Châu) tích chứa hàng hóa để những lái buôn đem
sang Trung Quốc hay dùng những thương điếm là nơi tiêu thụ hàng hóa địa
phương, gom góp và đôi khi có thể chế biến (da thú quý, quế…) để chuẩn bị đem đi
xa cho khỏi hư hỏng.Mối bang giao chính trị thơì đó chưa rõ nét bằng những mối
giao lưu về thương mại và tôn giáo. Có nhiều lý do nhưng có thể lý do chính là từ
những thế kỉ đầu công nguyên đến thế kỉ thử X, Việt Nam lúc đó nằm dưới sự đô
hộ của triều đình Trung Quốc.
Cũng
nên nhắc
lại rằng, nói đến Việt Nam thời kì trước thế kỉ XV ngược
lại cho đến những thế kỉ đầu công nguyên là phải kể đến vương quốc cổ Phù Nam
(Founan) tồn tại từ đầu công nguyên đến cuối thế kỉ thứ VI vương quốc này đã bị
Chân
Lạ
p
thôn tính và sau đó mang tên Thủy Chân Lạp. Ngoài ra, vương quốc cổ
Champa đã tồn tại từ năm 192 với quốc hiệu đầu tiên là Lâm Ấp (Lin Yi) cho đến
thế kỉ XVIII mới trở thành một vùng đất của Việt Nam. Tất nhiên là trước khi hòa
nhập vào Việt Nam với vị trí là những vương quốc, những quốc gia cổ này đã có sự
bang giao với Đông Nam Á và thế giới ngoại vi, nhất là với Ấn Độ. Đồng thời rất

Daonas, Kottiaris, Thinai, Kattigara và những danh khác thuộc. Đông Nam Á.
Những nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên việc nhiên việc
nêu
r
õ
những ý kiến
cho chúng
ta thấy
được
trên nét khái quát về sự
giao
lưu đã

của Tây
Phương

Đông
Nam Á
trong
đó

khu vực
Đông
Dương.
Về địa danh
đảo Statyres
nhà khảo cổ học Louis Malleret đưa ra giả thuyết
đó là nhóm đảo Hòn Me, Hòn Sóc, Hòn Đất ở gần Rạch Gía. Địa danh Daonas nhà
nghiên cứu Wilhem Volz cho rằng đó là vùng sông Mê Kông và nhà nghiên cứu,
Andre Berthelot cũng đồng ý với nhận định này. Địa danh

biển
t

Địa Trung Hải tới Việt
Nam và
Đông
Nam Á thời đó là
đường
Hồ Tiêu(
Ch
e
m
i
n
des Epices). Nhận xét này
không phải là không có lý do. Bởi lẽ nhu cầu của triều đình và quý tộc vùng Địa
Trung Hải lúc đó cũng rất cần đến đồ gia vị mà chủ yếu là hồ tiêu, sản phẩm của
vùng Đông Nam Á. Ngày nay người ta còn thấy những tên gọi từ thuở đó như
Takkola (chợ Hồ Tiêu) hay Narikeladvpa (đảo Dừa) ở vùng Đông Nam Á.
Con đường Hồ Tiêu đã mở ra mối bang giao giữa Đông Nam Á với các nước
Ấn Độ và phía Tây, theo thư tịch cổ ghi lại thương nhân Ấn Độ và Trung Quốc đã
dùng những con thuyền viễn dương loại lớn có thể chở từ 600 đến 700 người với kĩ
thuật đóng thuyền rất tinh vi. Những thương nhân Ấn Độ trong việc buôn bán với các
dân tộc và các quốc gia vùng Đông Dương và Đông Nam Á trong những thế kỉ trước
công nguyên vốn là những người theo đạo Bà La môn (Brahmanisme) thuộc đẳng cấp
tăng lữ ( Brahmana) hay quý tộc, võ sĩ (Kasytria) và những người thuộc giới buôn bán
tự do( Vaisya). Cũng rất có thể những người thuộc đẳng cấp tăng lữ đi cùng để truyền
đạo tại những nơi xa xôi mà sau này những nhà Đông phương học phương Tây gọi là
vùng ngoại Ấn ( Inde exterieur) hoặc sau này khi văn minh Ấn Độ đã xâm nhập vào
những quốc gia cổ ở Đông Nam Á, họ gọi vùng này là những quốc gia Ấn Độ hóa.

nền sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa không tăng đương nhiên thương nghiệp
không phát triển. Trong thời Bắc thuộc sản xuất hàng hóa ở nước ta không những
không tăng mà còn bị giảm sút, bởi lẽ chỉ có một số nghề thủ công, loại thủ công nào
đó được tồn tại để phục vụ nhu cầu xa xỉ của bon quan lại, còn lại sức lao động hầu như
bị đẩy lùi về thời kỳ tìm kiếm, hái lượm để cung cấp sản phẩm tự nhiên quý cho
chúng. Mọi hoạt động kinh tế lớn đều do bọn quan lại thống trị Trung Hoa khống chế,
lũng đoạn. Một nền kinh tế như vậy sẽ không có nhiều sản phẩm dư thừa để biến thành
hàng hóa thúc đẩy thương nghiệp tiến lên.
“Tình trạng khan hiếm hàng hóa ở nước ta bởi sức lao động bị kìm hãm, bởi
sản phẩm lao động bị tận thu vơ vét, bởi quyền lao động và hưởng thụ bị chà đạp chỉ có
thể khắc phục được sau khi thoát khỏi ách thống trị tàn khốc của phong kiến Trung Hoa.
Điều này đã được thực tế lịch sử từ sau thế kỉ X, nhất là từ thời Lý và tiếp đó là thời Trần
chứng minh rõ nét”.
9
9
Phạm Văn Kính (1979),“Bộ mặt thương nghiệp Việt Nam thời Lý –Trần”,T/C Nghiên cứu
Lịch sử, (số 6), trang 35
.
Đào Thị Phương Huyền – Luận văn tốt nghiệp trường ĐH Sư Phạm TP. Hồ Chí
Minh: Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỷ XI-XVIII – GVHD: TS. Trần Thị
Thanh Thanh – Trang 13-17 - Năm 2009.
“Chính sách trọng nông của các triều đại phong kiến đã tạo điều kiện cho nông
nghiệp phát triển, đời sống nhân dân được ấm no, trật tự xã hội được ổn định, nền độc
lập dân tộc được củng cố và giữ vững. Đồng thời nó cũng tạo ra nguồn sản phẩm phong
phú, dồi dào, đó là nguồn hàng cho thương nghiệp, tạo khả năng cho thủ công nghiệp
có thể thoát ly khỏi nông nghiệp và phát triển mạnh. Mặt khác, việc khai thông hệ thống
thủy lợi, sông ngòi kênh rạch cũng cũng tạo điều kiện cho việc chuyên chở hàng hóa
giữa các vùng trong nước và thuyền bè các nước có thể đến trao đổi buôn bán dễ
dàng. Tuy vậy chính sách trọng nông lại gắn liền với tư tưởng “ức thương”, tư tương
coi nghề nông là nghề gốc “dĩ nông vi bản” và buôn bán là “nghề ngọn” luôn chi phối

thợ thủ công, dân nghèo thành thị. Cả hai loại này tham gia buôn bán đều nhằm mục
đích để tăng thu nhập. Mục đích của họ giống nhau nhưng điều kiện, cách thức tiến
hành khác nhau. Tầng lớp trên vừa có uy quyền, vừa có của cải. Đó là những điều kiện
thuận lợi để họ tham gia buôn bán lớn và dùng những thủ đoạn kinh doanh. Việc buôn
bán lớn với nhà Tống ở “bạc dịch trường” Khâm châu thời Lý là một ví dụ nếu lái
buôn nước ta không thuộc tầng lớp có thế lực thì nhà nước không ưu tiên can thiệp tới
mức cứ mỗi lần buôn là mỗi lần nhà nước gửi thông điệp và đã ba lần cử quan lại sang
nhà Tống thử lại cân
10
. Nếu không phải là nhà buôn giàu có, vốn liếng nhiều thì không
thể “cầm vững giá lâu” khi mà lái buôn “người Tống thường gặng giá. Họ sai người
nhà làm nhà ở, buôn bán lặt vặt để tự cấp, rồi họ ở đó mãi, cứ ngâm giá cho người ta
10
Nguyễn Quang Ngọc. Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, Chương
t
r
ì
nh
nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2007, trang 63-64.
mỏi mệt…”
11
. Nếu lái buôn nước ta không phải là người có uy quyền thì không thể
dùng thủ đoạn “đúc lẫn đồng vào vàng bạc” để đối phó với việc nhà Tống bán thuốc
giả (chắc là thuốc bắc?).

Một ví dụ tiêu biểu nữa đó là trường hợp buôn nón Ma Lôi của
người nhà Nhân Huệ Vương Khánh Dư thời Trần: “Khi Khánh Dư mới đến trấn giữ
Vân Đồn tục ở đấy làm nghề buôn bán sinh nhai, ăn uống, y phục đều trông vào khách
buôn phương Bắc, điểm duyệt các trang hạ lệnh rằng: Quân đóng ở Vân Đồn là để ngăn
giữ giặc Hồ, không nên đội nón của phương Bắc, trong khi vội vàng khó lòng phân biệt;

.
đối với tầng lớp trên tuy có cần thiết, có hấp dẫn nhưng chưa đến mức trở thành nghề
riêng, nghề chính của họ. Hệ quả của nó là trong xã hội vẫn chưa xuất hiện tầng lớp
thương nhân chuyên nghiệp. Những trường hợp như buôn với nhà Tống thời Lý, buôn
than, buôn nón Ma Lôi thời Trần chỉ có thể hiểu được đó là những người buôn bán lớn -
đại thương chứ chưa phải là tầng lớp đại thương. Tóm lai, tầng lớp trên có điều kiện
làm nghề buôn bán nhất nhưng lại không chịu buôn bán đến nơi đến chốn đó là chưa kể
đến việc họ còn dùng đặc quyền để lũng đoạn thị trường bằng cách mua trưng bán ép,
chặn mối cướp lợi nguồn hàng…Đối với tầng lớp dưới, cũng giống như tầng lớp trên
nghề buôn đối với họ cũng chỉ là nghề phụ. Nông dân chỉ tranh thủ lúc công việc nhà
nông rỗi rãi để đi buôn, buôn bất cứ thứ gì, loại hàng nào, miễn sao phù hợp với số vốn
quá ít ỏi của mình. Những loại buôn này chỉ có thể gọi là hoạt động buôn bán chứ chưa
thể gọi là nghề buôn. Đối với người nông dân ước mơ chính đáng của họ vẫn là có được
đám ruộng riêng để cày cấy trước khi nhà nước cho phép mua ruộng công làm ruộng tư
thì họ chỉ cần tiền để nộp thuế. Sau đó mới dành dụm thêm để cố tậu lấy đám ruộng.
Còn thợ thủ công và dân nghèo thành thị làm nghề buôn cũng không hơn gì mấy.
Chồng sản xuất, vợ bán sản phẩm, trong nhà sản xuất, ngoài cửa là cửa hàng. Tiền lãi
thu được chắc chỉ đủ dùng để tái sản xuất giản đơn và nộp thuế thân khi nhà nước yêu
cầu.
Như vậy, trong xã hội nước ta thời bấy giờ chủ yếu vẫn là những người sản
xuất nhỏ với lối buôn bán nhỏ. Nguyên nhân là do sự phân hóa giai cấp không thể xảy
ra trước, trong và sau khi chế độ tư hữu về ruộng đất được xác lập. Trong tầng lớp
những người buôn bán nhỏ này sẽ có những người giàu lên và những kẻ nghèo đi.
Nhưng sự giàu lên và nghèo đi chỉ ở mức độ nào đó. Vì sự phân hóa giai cấp thời bâý
giờ chưa thật là sâu sắc, triệt để. Số người giàu có lớn đó không có thế lực nhưng lại có
số vốn tương đối. Họ đã tham gia buôn bán tích cực và là thành phần chính làm
cho nội thương phát triển mạnh mẽ
14
. Nhưng việc buôn bán lớn phần nhiều lại thuộc về
14

người thợ thủ công vẫn không giám thoát ly nông nghiệp, thoát ly nông thôn. Người
nông dân vẫn duy trì nghề phụ của mình để tự cung, tự cấp. Họ không dám rời bỏ ruộng
15
Theo Phạm Văn Kính, Bộ mặt thương nghiệp Việt Nam thời Lý-Trần, T/C Chí nghiên cứu lịch
sử, số
6, 1979, trang 42
.
đất để đến các chợ hoặc thành phố chuyên làm nghề thủ công để sống vì sợ bị chết đói,
sợ thiếu gạo. Tuy nhiên nếu như sự xuất hiện của kinh tế hàng hóa quá sớm khi mà sản
xuất nông nghiệp nói chung còn thấp nếu nó làm chậm sự phân công kinh tế giữa
thành thị và nông thôn thì nó lại làm hình thành một sự phân công tự nhiên kiểu như
phân công tự nhiên giữa bộ lạc trồng trọt và bộ lạc chăn nuôi - đó là sự xuất hiện của
các làng chuyên môn về sản xuất thủ công (do điều kiện lịch sử-kinh tế-xã hội của
làng đó qui định). Có làng chuyên môn là vì việc trao đổi đã vượt khỏi phạm vi làng
xã, mà đã phổ biến trong từng miền, và đã một phần nào đó phổ biến trong toàn quốc.
Khi chế độ tư hữu về ruộng đất phát triển, sức sản xuất nông nghiệp phát triển thì các
làng chuyên môn lại càng xuất hiện nhiều hơn. Trong các làng chuyên môn thủ công
nghiệp không thể phát triển mạnh được vì về mặt sản xuất cũng như về mặt tiêu thụ nó
găp rất nhiều giới hạn. Chỉ trong phạm vi thành thị, nơi nhân khẩu tập trung,
thươngnhân tập trung, lại sẵn mọi thứ nguyên liệu do nông thôn cung cấp, thì sản xuất
và tiêu thụ mới có thể tiến hành thuận lợi. Những điểm này trong các làng chuyên môn
đều thiếu cả. Vì vậy các làng chuyên môn chỉ là một đơn vị thủ công của kinh tế tự cấp,
tự túc ở địa phương. Nó không những không có tác dụng phá vỡ kinh tế tự cấp tự túc ở
địa phương mà trái lại còn củng cố kinh tế tự cấp, túc ở địa phương nữa. Tình trạng
mỗi địa phương nhỏ hẹp lại có những trung tâm thủ công nghiệp nho nhỏ của mình
càng thêm củng cố trạng thái kinh tế tự cấp tự túc và làm cho quá trình tích lũy vốn
tiến hành chậm chạp, khó khăn. Ngay bọn thương nhân lớn cũng không thể phát triển
được, vì trong cái thị trường địa phương nhỏ hẹp ấy người nông dân hoặc thương nhân
nghèo ở nông thôn có thể tiếp xúc với những người sản xuất trong làng chuyên môn để
mua hàng, do đó thương nhân giàu có ít cơ hội có thể kiếm chác được nhiều. Vì vậy

16
Nguyễn Hồng Phong, Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và vấn đề hình thành của chủ
ngh
ĩ
a tư bản ở Việt Nam dưới thời phong kiến, T/ C Nghiên cứu Lịch sử, số 13,năm 1960, trang
14-16.
17

Theo Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam thế kỉ XVII-XVIII cho đến đầu thế kỉ XIX, Nxb
Sử học,
Hà Nội, 1961, trang 6
.
một đường thẳng và một nhịp độ đều đặn nhưng nhìn chung kinh tế hàng hóa ở nước ta
vẫn có chiều hướng phát triển đi lên. Sự phát triển của ngoại thương đã tạo điều kiện cho
mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa hình thành và sang đầu thế kỉ XVII, thì mầm mống
kinh tế tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện trong nền kinh tế hàng hóa Việt Nam nhưng chế
độ phong kiến trung ương tập quyền đã không tạo điều kiện cho nó nảy mầm lên
được để nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam có thể mở rộng ra khỏi khuôn khổ thị trường
trong nước.”
Đào Thị Phương Huyền – Luận văn tốt nghiệp trường ĐH Sư Phạm TP. Hồ Chí
Minh: Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỷ XI-XVIII – GVHD: TS. Trần Thị
Thanh Thanh - Trang 35-37 - Năm 2009.
“Nhìn chung, ngoại trừ Sài Gòn- Gia Định được hình thành khá muộn dưới
thời Pháp thuộc mang dáng dấp của một đô thị quốc tế còn các đô thị khác “ở Việt
Nam trong lịch sử mặc dù cũng có những thời kỳ hoạt động trao đổi buôn bán diễn ra
khá sầm uất nhưng chức năng chủ yếu của nó vẫn là hành chính. Khác với phương Tây,
thành thị ra đời thực hiện chức năng kinh tế là chủ yếu, chức năng hành chính nếu có chỉ
là thứ yếu và ở phương Tây, hầu hết đô thị hình thành một cách tự phát, bất cứ nơi nào
có ba điều kiện sau đều trở thành đô thị: Là nơi tập trung đông dân, có sản xuất công
nghiệp và là nơi tập trung buôn bán. Về mặt quản lý trong khi đô thị ở ta do nhà nước

sau khi chiến tranh Trịnh- Nguyễn kết thúc cùng với những thay đổi của điều kiện tự
nhiên không thuận lợi cho sự phát triển thương nghiệp nữa, Phố Hiến dần bị nông thôn
hóa trở lại. Và cũng do tình trạng kinh tế hàng hóa trong nước còn kém phát triển nên
mặc dù Việt Nam có một đường bờ biển rất dài và các bến có thể chứa tàu lớn không
phải là ít. Theo lời giáo sĩ Alếch-xăng đơ Rốt Việt Nam có chừng “năm mươi bến có
thể tiếp đón ít nhất 10, 12 tàu lớn”. Thực ra nhiều bến tàu đỗ được, nhưng những bến
mở ra buôn bán không phải là nhiều. Vì cơ sở kinh tế ở Việt Nam lúc này vẫn còn ở
trình độ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nên việc buôn bán không thể nào trở nên
phồn thịnh đến mức đòi hỏi có nhiều cảng mở ra buôn bán. Những nơi tụ tập để mua
bán “các trung tâm giao thương” như Kẻ Chợ (Hà Nội), Phố Hiến, Hội An và sau này
là Sài Gòn…. Buôn bán cũng chỉ dựa vào các phiên chợ. Ngày thường vẫn có hàng có
mua bán nhưng chỉ đến phiên chợ các nơi đổ về, mang tất cả các thứ hàng có thể bán
được để về bán. Và các lái buôn nước ngoài cũng chỉ nhằm mua vào một số hàng có thể
19
Văn Tạo (chủ biên), Đô thị cổ Việt Nam, Sđd, trang 9
.
20

Văn Tạo (chủ biên), Đô thị cổ Việt Nam, Sđd, trang 9
.
đem bán kiếm lời được ở nơi khác (Trung Quốc, Hà Lan, Anh, Pháp, Ba-ta-vi-a…)
21

Đào Thị Phương Huyền – Luận văn tốt nghiệp trường ĐH Sư Phạm TP. Hồ Chí
Minh: Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong các thế kỷ XI-XVIII – GVHD: TS. Trần Thị
Thanh Thanh - Trang 49-50 - Năm 2009.
“TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM TRONG CÁC THẾ KỈ
XI-XVII
I. Thời
L

nhưng vua Tống Chân Tông chỉ chấp thuận cho thuyền dừng lại ở Quảng Châu và trại
Như Hồng theo như lệ cũ thời Tiền Lê mà thôi
22
.
21
Thành Thế Vỹ,Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỉ XVII-XVIII đầu thế kỉ XIX, Sđd, trang 189
.
22
Theo Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng, về các mối giao thương của quốc gia Đại
Dọc biên giới Đại Việt và Trung Hoa có tổ chức các địa điểm buôn bán mà
Chu Khứ Phi gọi là “ bạc dịch trường” (chợ biên giới). Ở Ung Châu có hai bác dịch
trường lớn là trại Hoành Sơn, nơi mua ngựa, các lâm sản, dược phẩm của địa
phương và muối; trại Vĩnh Bình, một trong các bạc dịch trường quan trọng. Chu Khứ Phi
cho biết: “ Trại Vĩnh Bình ở sông Hữu Giang, Ung Châu, kề biên giới Giao Chỉ, chỉ cách
một con sông con mà thôi. Phía Bắc có trạm Giao Chỉ, phía Nam có đình Tuyên Hòa,
làm bạc dịch trường. Chủ trại Vĩnh Bình coi việc trao đổi, người Giao Chỉ đem các thứ
hương, ngà voi, vàng bạc, tiền đổi lấy các thứ vải vóc. Những người Giao Chỉ đến
Vĩnh Bình đều đi đường bộ. Những hàng họ đem bán đều quý, nhỏ nhẹ, chỉ có muối là
nặng, nhưng muối có thể đổi lấy vải. Muối đóng 25 cân thành một sọt. Vải sản xuất ở
huyện Vũ Duyên, Ung Châu khổ hẹp”
23

; Bạc dịch trường Khâm châu thuộc loại lớn
nhất. Cũng theo Chu Khứ Phi: “Bạc dịch trường ở ngoại thành, tại trạm Giang Đông.
Những người thuyền chài Giao Chỉ mang cá, sò đến đổi lấy đấu gạo, thước vải. Phú
thương nước ấy (Đại Việt) đến buôn bán từ châu Vĩnh An phải thông điệp cho Khâm
Châu, ấy là tiểu cương (buôn nhỏ), còn nước ấy sai sứ đến Khâm Châu để buôn bán gọi
là đại cương (buôn to), hàng đem bán có bạc, đồng, tiền, trầm hương, quang hương, thục
hương, sinh hương, trân châu, ngà voi. Những tiểu thương nước ta (Trung Quốc) bán các
thứ giấy, bút, gạo vải, hàng ngày trao đổi một ít với người Giao Chỉ, không đáng kể. Chỉ

Kim Hoa và châu Vị Long để buôn bán. Vua (Lý Thái Tổ) sai người bắt được người Man
và hơn một van ngựa”
25
.
-Với
các nước
khác
trong
khu
v

c:
Ngoài việc buôn bán với các nước ở “ bạc dịch trường”, nước ta vào thời Lý
còn có một địa điểm buôn bán quan trọng là Vân Đồn để trao đổi hàng hóa với các
nước vùng Đông Nam Á như Xiêm La và các vùng đảo Inđônêxia (như Qua Oa, tức
Java và đông Mã Lai). Trang Vân Đồn được lập ra từ năm 1149, do yêu cầu buôn bán
với các nước kể trên. Về địa thế Vân Đồn là một đảo lớn ở phía đông đảo Cái Bàn. Đảo
Vân Đồn có một đảo nhỏ nằm ngang ngăn thành một lối vào hải vịnh khuất gió gọi là
Vân Đồn (Chu Khứ Phi gọi là Đồn Sơn)
26
. Theo Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ
24
Theo Chu Khứ Phi, Lĩnh Nam chích quái ngoại đáp, dẫn theo Theo Nguyễn Thị
Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng, về các mối giao thương của quốc gia Đại Việt thời Lý, Trần
(thế kỉ XI-XIV), T/C Nghiên cứu lịch sử, số 7, 2007, trang 24
.
25
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 1), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, năm 1968, trang
149
.

Nxb Sử học, Hà Nội, 1961, trang 50-51.
27
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 1), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, năm
1968, trang 281
.
28
Ja-va thời Lý-Trần gọi là Trảo Oa, Qua Oa, Đại Oa
.
29
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư (tập 1), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, năm
1968, trang 295
khuyến khích thương nghiệp phát triển và mở rộng giao lưu buôn bán với nước ngoài.
Các thuyền buôn không bị nhà nước đánh thuế đã thể hiện phần nào tư tưởng tiến bộ
đó của nhà Trần.
“ Đầu thời Trần sản vật mà các đoàn đi sứ mang theo thường bi thổ quan ở
biên giới giữ không đến được kinh đô nhà Tống. Năm 1242, nhà Trần sai Trần Khuê
Vinh trấn giữ biên giới đem quân đánh chiếm lộ Bằng Tường để giải phóng sự “ùn tắc”
trên con đường thông thương giữa hai nước. Sử chép: “ Năm 1242, mùa Hạ, tháng 4,
sai thân vệ tướng quân là Trần Khuê Vinh đem quân trấn giữ biên giới phía Bắc, đánh
lấy địa phương lộ Bằng Tường. Trước là, từ sau khi Nguyên Thái Tông băng thì
cửa ải thường không thông, nếu có sứ mệnh thì chỉ có hai viên chánh phó sứ và hai
bọn người đi theo mà thôi, còn sản vật có bao nhiêu thì gói bọc cẩn thận đưa đến địa
giới, thổ quan bản xứ nhận đổi giữ nộp. Sứ thần đến Kinh chỉ dâng biểu tâu mà thôi,
các vật đến tiến cống không đến nơi cả được.. Đến nay, sai tướng chống giữ, đánh chiếm
mới được thông hiếu với nước Tống”.
Không chỉ tụ tập buôn bán ở các cảng biển mà đầu thế kỉ XIV, thuyền buôn
của Trung Quốc còn cập bến sông ở phường Yên Hoa (Thăng Long), Đạo sĩ Hứa
Tông Đạo vào nước ta theo thuyền buôn ở bến sông này: “Nhâm Dần năm thứ 10
[1302]; Bấy giờ có người đạo sĩ phương Bắc tên là Hứa Tôn Đạo theo thuyền buôn đến,
cho ở tại bến sông phường Yên Hoa. Phép phù thủy và đàn chay thịnh hành bắt đầu

khẩu ra nước ngoài. (Hiện nay có một số đồ gốm có chất lượng cao của Việt Nam
được lưu giữ tại Nhật Bản, Anh, Mỹ, Xinggapo, Anh, Malaixia). Nhiều thuyền buôn
các nước đã đến trang Vân Đồn buôn bán. Một chủ thuyền đã dốc hết vốn ra để mua
một viên ngọc rết to, chứng tỏ các thương gia sang Đại Việt để buôn bán đều vào loại
giàu có. Theo Đại Việt sử kí toàn thư: Qúi Mão, năm thứ 6 [1363] “Tháng 6, tịch thu gia
sản của trại chủ xã Đại –lai là Ngô Dẫn. Trước đây cha Dẫn về thì Minh Tôn bắt
được viên ngọc rết to, đem đến Vân Đồn, các thuyền buôn tranh nhau mua, một người
chủ thuyền buôn muốn được của báu đem hết cả vốn để mua . Dẫn từ đấy trở nên giàu
có Minh Tôn đem công chúa Nguyệt Sơn gả cho. Dẫn cậy nhà giàu thông dâm với người
con gái khác, lại có khi nói khinh công chúa, công chúa tâu lên vua biết. Dẫn được miễn
tội chết mà bị tịch thu gia sản”.
32
Từ thế kỉ XIV, nhà Trần kiểm soát và bảo vệ nghiêm
ngặt hoạt động của các thương nhân ngoại quốc ở Vân Đồn. Thuyền buôn của họ chỉ
được phép dừng lại ở vùng Đoạn Sơn (huyện Vân Đồn) và không được ghé vào đất liền
vì sợ người ngoài dò thấy hư thực của mình. Vân Đồn từ đơn vị trang thời Lý được
nâng lên thành trấn vào năm 1349. Triều đình còn đặt các quan cai quản Vân Đồn
như một trọng trấn gồm có quan Trấn (võ tướng nắm giữ), quan lộ (văn quan nắm giữ)
và quan Sát hải sứ (quan kiểm soát mặt biển)”
33
. Có thể thấy hoạt động ngoài thương
ngay từ thời kỳ này đã không nằm ngoài việc giữ gìn an ninh quốc gia. Yamatomo
Tatsuro đã tìm thấy ở Vân Đồn 125 đồng tiền đời Đường và Tống từ đời Đường Huyền
32

Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử toàn thư (tập 2), Sđd, trang 149
.
33
Theo Nguyễn Thị Phương Chi, Nguyễn Tiến Dũng, về các mối giao thương của quốc gia Đại Việ
t

Trích đoạn oại th n Việt am thế X VIII có ớc phát triển đặc W.J Buch, Công ty các nước Ấn thuộc Hà Lan, tư liệu dịch khoa sử, Đại học Tổng Hợp. Việc buôn bá nở biên giới Trung – Việt đã có từ lâu Dưới triều Thanh tuy bị nghiêm cấm, nhiều người Trung Hoa vẫn vượt ải sang buôn bán vụng trộm ở nước ta Sau thất bại của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status