Lời nói đầu
Những năm qua, nền kinh tế nớc ta đã và đang chuyển đầu t cơ chế kế
hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết và quản lý của Nhà nớc,
việc chuyển đổi cơ chế mang tính tất yếu cho sự phát triển kinh tế của một quốc
gia nh Việt Nam.
ở Việt Nam trong bớc chuyển đổi sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc thực hiện nhất quán kinh tế nhiều thành phần theo định hớng XHCN và
theo luật pháp của Nhà nớc. Từ đó nền kinh tế thị trớng phát triển tất yếu sẽ tạo ra
những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại ngân hàng nh: Ngân
hàng Nhà nớc, Ngân hàng thơng mại quốc doanh bao gồm: Ngân hàng công th-
ơng, Ngân hàng đầu t và phát triển của các ngân hàng liên doanh, Ngân hàng cổ
phần ... cho nên cần tăng cờng quản lý, hớng dẫn hoạt động của các Ngân hàng,
tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế.
Hoạt động Ngân hàng là một trong những mắt xích quan trọng cấu thành sự
vận động nhịp nhàng của nền kinh tế. Cùng với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế của
đất nớc, hệ thống ngân hàng cũng có những bớc chuyển mình cho phù hợp với
điều kiện và hoàn cảnh kinh tế mới. Cụ thể là từ hệ thống Ngân hàng ba cấp
chuyển thành hệ thống Ngân hàng hai cấp, từ sau khi có hai pháp lệnh Ngân hàng
(5/1990) tách bạch chức năng: Ngân hàng Nhà nớc có chức năng quản lý Nhà nớc
đối với hệ thống Ngân hàng, chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng
thuộc về Ngân hàng Thơng mại và tổ chức tín dụng với nội dung nhận tiền gửi và
sử dụng tiền gửi cấp tín dụng, cung ứng và dịch vụ thanh toán.
Sau hơn 10 năm đổi mới Ngân hàng đã đa lại nhiều thành quả. Đóng góp
tích cực vào thành tựu chung đa đất nớc thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội,
chấm dứt việc phát hành tiền để bù đắp thâm hụt cho Ngân sách. Đặc biệt là Việt
Nam đã thành công trong việc đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả. Hoạt động Ngân
hàng đã góp phần tích cực trong việc huy động vốn trong và ngoài nớc đảm bảo
cho tăng trởng kinh tế với mức độ cao. Tuy nhiên hiện nay lĩnh vực Ngân hàng đã
bộc lộ những yếu kém mà d luận xã hội đang quan tâm về những tiềm ẩn và nguy
cơ không lành mạnh. Đặc biệt là chất lợng tín dụng cha cao đang đòi hỏi tìm kiếm
những giải pháp tháo gỡ có hiệu quả.
-
-
2
2
-
-
Chơng I
ngân hàng thơng mại và chất lợng tín dụng của ngân
hàng thơng mại
I/ Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thơng mại:
1- Khái quát về Ngân hàng Thơng mại:
Ngân hàng Thơng mại trớc hết là một doanh nghiệp,vì Ngân hàng thơng
mại hoạt giống nh các doanh nghiệp khác: có vốn riêng, mua vào, bán ra,có chi
phí và thu nhập, có nghĩa vụ nộp thuế cho Ngân hàng Nhà nớc, có thể lãi hoặc lỗ,
có thể giầu nên hoặc phá sản.
Ngân hàng Thơng mại kinh doanh dịch vụ tiền tệ, không trực tiếp sản xuất
ra của cải vật chất nh các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhng
tạo điều kiện thuận lợi cho qúa trình sản xuất , lu thông và phân phối sản phẩm xã
hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu t cho các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế mở rộng kinh doanh góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế.
Nói tóm lại Ngân hàng Thơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt
động thờng xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng số tiền gửi đó để cho vay đầu t thực hiện nghiệp vụ triết khấu
và làm các phơng tiện thanh toán.
Ngân hàng Thơng mại có hoạt động gần gũi nhất với nhân dân về nền kinh
tế càng phát triển cao, hoạt động của Ngân hàng Thơng mại càng đi sâu vào đời
sống kinh tế của đất nớc.
Hoạt động của Ngân hàng Thơng mại mang tính cạnh tranh cao độ. Trong
nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là quy luật hoạt động tự nhiên, không lệ thuộc
vào nhuận thực hoặc chọn lựa chủ quan của con ngời. Mục tiêu của kinh doanh, là
những ngời đi vay.
Nh vậy, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng từ buổi sơ khai bắt đầu từ
hoạt động tín dụng và cho đến nay vẫn bằng con đờng đó.
Trong qúa trình hoạt động của Ngân hàng Thơng mại đáp ứng nhu cầu của
thị trờng dẫn tới sự phân chia và hình thành nên hệ thống Ngân hàng hai cấp:
Ngân hàng Trung ơng làm nhiệm vụ quản lý vĩ mô hoạt động Ngân hàng và các
Ngân hàng Thơng mại làm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ - tín dụng. Nh vậy hoạt
động của Ngân hàng Thơng mại rất đa dạng phong phú và có phạm vi rộng lớn ở
quy mô, tính toàn cầu, tính hiện đại trong công nghệ Ngân hàng.
-
-
4
4
-
-
2. Nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng Thơng mại.
Nghiệp vụ Ngân hàng nói chung bao gồm tất cả những việc Ngân hàng th-
ờng làm trong khuôn khổ nghề nghiệp của họ. Các nghiệp vụ Ngân hàng Thơng
mại có quan hệ chặt chẽ hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình hoạt động, tạo thành
một chỉnh thể thống nhất.
Các nghiệp vụ cơ bản, chủ yếu của Ngân hàng Thơng mại bao gồm:
- Nghiệp vụ huy động vốn.
- Nghiệp vụ sử dụng vốn.
- Một số nghiệp vụ khác.
2.1. Nghiệp vụ huy động vốn: Đây là nghiệp vụ chủ yếu để tạo nên nguồn vốn
kinh doanh của Ngân hàng, Ngân hàng có thể huy động vốn bằng một trong hai
cách sau:
Nhận tiền gửi: Đây là nghiệp vụ mang tính truyền thống, đây là nghiệp vụ
nhận tiền gửi một cách thụ động, nó phụ thuộc vào ý muốn của ngời có tiền gửi
vào Ngân hàng.
bạc giấy tờ có giá do Kho bạc Nhà nớc đại diện cho Chính phủ phát hành và các
giấy tời có giá có khả năng thanh toán cao và trách nhiệm cao của các Công ty
lớn.
Bất cứ chứng khoán nào cũng có thể đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng nếu
Ngân hàng chủ yếu quan tâm đến việc nâng cao thanh khoản thì đầu t vào các tín
phiếu do Kho bạc phát hành.
Mặt khác Ngân hàng đầu t vào các chứng khoán nhằm phân tán.
2.3. Một số nghiệp vụ khác: Ngân hàng thực hiện kinh doanh và làm dịch vụ h-
ởng hoa hồng theo sự uỷ thác của khách hàng, các nghiệp vụ này bao gồm:
- Nghiệp vụ thu hộ, chi hộ.
- Nghiệp vụ uỷ thác.
- Mua hộ bán hộ.
- Môi giới và kinh doanh chứng khoán.
Hoạt động của Ngân hàng Thơng mại tập trung chủ yếu vào nhận tiền gửi
và cho vay. Đó là hai mặt hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng
nhu cầu tạm thời thiếu hụt về vốn của các doanh nghiệp,các tổ chức kinh tế hoặc
cá nhân trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng hàng ngày.
Xét trên góc độ khác, khi hoạt động tín dụng ngày càng đợc mở rộng và
phát triển một cách đa dạng , phong phú, với sự tham gia của nhiều chủ thể kinh
tế, quan hệ tín dụng hàng ngày càng mở rộng về đối tợng và quy mô thì hoạt động
của tín dung của Ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
Để các Ngân hàng Thơng mại có tồn tại và phát triển đứng vững trong điều
kiện cạnh tranh gay gắt của thị trờng và để phục vụ nền kinh tế ngày một tốt hơn,
đòi hỏi các Ngân hàng phải thực hiện có hiệu quả các hoạt động tín tụng hay nói
cách khác là phải nâng cao chất lợng tín dụng.
3. Vai trò của Ngân hàng Thơng mại:
- Ngân hàng thơng mại giúp doanh nghiệp có vốn đầu t mở rộng sản xuất
kinh doanh nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Góp phần phân bố hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo
điều kiện phát triển kinh tế.
sách tiền tệ của Nhà nớc.
Bên cạnh đó, khi sản xuất và lu thông hàng hoá phát triển, nhu cầu của xã
hội và của từng thành viên sẽ đợc đáp ứng một cách tốt hơn.
c - Từ phía ngân hàng:
Với ngân hàng, chất lợng tín dụng đợc xác định thông qua các chỉ tiêu cơ
bản sau đây:
- Phục vụ tốt sự phát triển của các ngành, các địa phơng theo định hớng của
Nhà nớc qua từng thời kỳ.
- Các khoản tín dụng đợc thực hiện đúng mục đích, đúng đối tợng, có hàng
hoá, vật t tơng đơng làm đảm bảo.
- Các khoản tín dụng đợc thu hồi đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi góp phần
tăng nhanh vòng quay sử dụng vốn của ngân hàng, giảm thiểu các khoản nợ quá
hạn, nợ khó đòi, trên cơ sở đó, tăng doanh lợi cho hoạt động của các ngân hàng th-
ơng mại.
2. Sự cần thiết phải nâng cao chất lợng tín dụng của Ngân hàng thơng mại:
-
-
7
7
-
-
Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu t tín dụng, góp phần điều hoà nguồn
vốn trong xã hội từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. Giúp cho Ngân hàng có một nguồn
vốn nhất định và giải quyết quan hệ cung cầu về vốn. Đồng thời làm tăng tốc độ luân
chuyển hàng hoá và tiền vốn. Chính vì vậy, chất lợng tín dụng tạo điều kiện cho Ngân
hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân.
Chất lợng tín dụng góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trởng kinh
tế. Nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với khối lợng tiền mặt
tronglu thông. Thông qua cho vay bằng chuyển khoản các Ngân hàng có khả năng mở
rộng tiền ghi sổ bấp nhiều lần so với số tiền thực có. Vì vậy tín dụng còn là nguyên
8
8
-
-
hàng uy tín trên thị trờng thì Ngân hàng đó gặp rất nhiều thuận lời và giao dịch với
những khách hàng lớn thậm chí có cả khách hàng nớc ngoài. Để tạo uy tín hay
lòng tin nào đó củanhg thì ko khó nhng Ngân hàng phải làm sao tạo đợc tin tởng
khi khách hàng đến giao dịch với Ngân hàng, khi khách hàng đến giao dịch mà
Ngân hàng đó để lại ấn tợng sâu sắc nh thái độ giao tiếp niềm nở, phục vụ chu đáo
nhiệt tình thì khách hàng đó sẽ tuyên truyền cho Ngân hàng. Đây là điều thuận lợi
nhất cho Ngân hàng. Điều này có nghĩa là khách hàng chỉ đến với Ngân hàng mà
tạo điều kiện giúp đỡ họ thực hiện có hiệ quả hoạt động thông qua quan hệ tín
dụng, dịch vụ so với Ngân hàng khác. Và điều này cũng có tác dụng tích cực trở
lại đối với Ngân hàng trong việc tăng thêm số lợng khách hàng, thu hút nguồn vốn
và mở rộng tín dụng dịch vụ.
Chất lợng tín dụng góp phần phát triển sản xuất, kinh doanh và lành mạnh
tình hình tài chính của khách hàng, chất lợng tín dụng đợc đảm bảo cũng có nghĩa
là Ngân hàng phát triển tốt nhờ vậy Ngân hàng có điều kiện cung cấp vốn tín dụng
đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh của khách hàng. Mặt khác để đảm bảo chất
lợng tín dụng thì Ngân hàng tiến hành việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động vốn tín
dụng của khách hàng, qua đó cùng với khách hàng uốn nắn và chấn chỉnh những
sai sót trong hoạt động tài chính của họ.
Việc kiểm tra, kiểm soát sử dụng vốn tín dụng của khách hàng là việc cần
thiết vì nếu nh khách hàng xin vay vốn của Ngân hàng mà Ngân hàng không biết
khả năng thanh toán của họ trong những năm tới hay tài chính của họ làm ăn sa
sút hay khách hàng xin vay vốn không đúng mục đích vì họ xin vay vốn vào mục
đích sản xuất kinh doanh nhng họ lại sử dụng vào mục đích khác. Nếu Ngân hàng
không biết đợc mà vẫn cho vay đó là sai lầm. Cho nên để tránh sai lầm thì Ngân hàng
phải tiến hành kiểm tra, khiểm soát việc sử dụng vốn tín dụng của khách hàng để tránh
gây khó khăn cho cả hai bên. Qua phân tích ta thấy đợc việc củng cố và tăng cờng
những yếu tố quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của không
chỉ hoạt động tín dụng mà cả sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Hoạt động
kinh tế đối ngoại càng phức tạp, công nghệ ngân hàng càng hiện đại thì đòi hỏi
trình độ, năng lực của cán bộ ngân hàng phải đợc nâng cao. Với một đội ngũ cán
bộ nhân viên có nghiệp vụ giỏi, có đạo đức và năng lực trong sáng tạo - quản lí sẽ
giúp ngân hàng hạn chế đợc những rủi ro, nắm bắt đợc những cơ hội tốt để cho
vay và tất yếu sẽ dẫn đến nâng cao chất lợng tín dụng của ngân hàng .
Qui trình tín dụng: Đây là những trình tự, những giai đoạn, những bớc,
công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất định trong việc cho vay bắt đầu
từ việc xem xét đơn xin vay của khách hàng đến khi thu nợ nhằm bảo đảm an toàn
vốn tín dụng . Chất lợng tín dụng phụ thuộc vào việc lập ra một qui trình tín dụng
đảm bảo tính khoa học vừa nhanh chóng, thuận tiện, vừa đảm bảo thực hiện đầy
đủ nghiêm túc các bớc của qui trình. Qui trình tín dụng thờng gồm ba bớc chính:
Xét đề nghị vay của khách hàng và thực hiện cho vay: Giai đoạn này chất l-
ợng tín dụng phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm định khách hàng và việc chấp
hành các qui định về điều kiện và thủ tục cho vay của ngân hàng.
Kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi dự báo rủi ro:
việc thiết lập hệ thống kiểm tra hữu hiệu, áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm
tra sẽ góp phần không nhỏ nâng cao chất lợng tín dụng.
Thu nợ và thanh lí: Sự linh hoạt của cán bộ tín dụng của ngân hàng trong
khâu thu nợ sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro và hạn chế nợ qua hạn, bảo toàn
vốn và nâng cao chất lợng tín dụng.
-
-
10
10
-
-
Thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng là hết sức cần thiết, nó là cơ sở để
xem xét quyết định cho vay và theo dõi, quản lí khoản cho vay. Thông tin tín dụng
Tổng d nợ
Hiệu suất sử dụng vốn vay =
-
-
11
11
-
-
Tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích đánh giá khả năng cho vay của ngân
hàng cũng nh so sánh giữa các ngân hàng với nhau trong việc sử dụng vốn vay.
Hiệu suất sử dụng vốn vay cao cha hẳn đã tốt bởi nó còn phụ thuộc vào cơ cấu
nguồn vốn. Chẳng hạn, trong cơ cấu nguồn vốn tỉ trọng vốn vay thơng mại lớn thì
cho vay nhiều cha hẳn là đa đến chất lọng tín dụng cao, vì lãi suất với các khoản
vốn vay thơng mại thờng lớn trong khi ngân hàng khó có thể cho vay với lãi suất
quá cao hơn do phải cạnh tranh lãi suất để thu hút khách hàng.
Doanh số cho vay trong kì
Vòng quay vốn tín dụng =
D nợ trong kì
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tổ chức, quản lí vốn tín dụng, đồng thời thể
hiện chất lợng tín dụng của ngân hàng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín
dụng và đáp ứng nhu cầu khách hàng. Để có thể đánh giá chính xác chất lợng tín
dụng, các tiêu chuẩn tính toán cần phải đồng nhất trong việc áp dụng đối với từng
loại cho vay cụ thể.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng d nợ : Nợ quá hạn là những khoản nợ đã đến
hạn thanh toán nhng khách hàng cha trả đợc. Ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn
trên tổng d nợ càng thấp khả năng gặp rủi ro càng thấp chất lợng tín dụng càng
cao. Chỉ tiêu này lại chia ra hai chỉ tiêu cụ thể hơn:
Nợ quá hạn từ 6-12 tháng
Tỉ lệ nợ quá hạn khê đọng =
hàng. Để quản lý chất lợng tín dụng đồng bộ phải hiểu rõ sự tác động của các nhân tố
ta càng chủ động trong hoạt động. Có thể chia các nhân tố làm hai loại: Nhân tố chủ
quan và nhân tố khách quan. Tuỳ vào điều kiện cụ thể của từng nớc và của từng Ngân
hàng mà hai loại nhân tố này có ảnh hởng khác nhau.
4.1. Nhân tố khách quan:
Một nền kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
tín dụng. Ngân hàng có thể huy động đợc nhiều nguồn vốn để mở rộng hoạt động
cho vay phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế. Môi trờng kinh tế có ảnh hởng
đến sức mạnh của ngời đi vay và thiệt hại hay thành công đối vơí ngời cho vay. Sự
hng thịnh hay suy thoái của chu kỳ kinh doanh cũng ảnh hởng đến lợi nhuận của
ngời vay. Trong giai đoạn kinh tế hng thịnh ngời vay hoạt động tốt do lợi nhuận
thu đợc cao.
Trong hoạt động kinh doanh lạm phát có ảnh hởng bất lợi đến giá cả
nguyên vật liệu... làm cho các cá nhân và doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính
dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng còn thiểu phát cũng có ảnh hởng bất lợi đến công
việc kinh doanh: Chỉ số tăng giá thấp hơn so với lãi suất cho vay làm cho các
doanh nghiệp cầm chừng trong vay vốn phát triển sản xuất điều đó dẫn tới tốc độ
tăng trởng tín dụng chậm, hoạt động Ngân hàng kém, nền kinh tế trì trệ, các doanh
nghiệp không có cơ hội để hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận. Các Ngân
hàng sẽ chịu thiệt hại lớn do đồng tiền mất giá, chất lợng tín dụng bị giảm sút.
Việc xác định mức lãi xuất cho vay cũng ảnh hởng đến chất lợng tín dụng,
vì lợi tức của Ngân hàng thu đợc từ hoạt động tín dụng bị giới hạn bởi lợi nhuận
bình quân của các đơn vị sử dụng vốn vay của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp
sẽ không có khả năng trả nợ Ngân hàng. Vì vậy chất lợng tín dụng cũng bị ảnh h-
ởng.
-
-
13
13
-
sức quan trọng đối với hoạt động Ngân hàng nói chung và chất lợng hoạt động tín
dụng nói riêng.
4.2.Các nhân tố chủ quan:
Bao gồm các nhân tố thuộc về phía Ngân hàng nh các yếu tố: Chính sách tín
dụng, công tác tổ chức, chất lợng cán bộ, quy trình nghiệp vụ, kiểm soát. Nếu
chính sách tín dụng phù hợp sẽ thu hút đợc nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng
sinh lợi của hoạt động tín dụng phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật và đờng lối
chính sách của Đảng và Nhà nớc.Vì thế phải có chính sách cho vay rõ ràng để xác
-
-
14
14
-
-
định phơng hớng sử dụng vốn đợc hình thành tù cổ đông và ngời đợc ký
thác.Trong những năm gần đây, càng ngày càng có nhiều Ngân hàng đa ra chính
sách cho vay. Mặc dù các chính sách cho vay trên văn bản, phục vụ một số mục
đích nhất định, điều quan trọng là chúng ta đem lại cho nhân viên tín dụng sự h-
ớng dẫn cần thiết.Vì chất lợng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín
dụng của Ngân hàng có đứng đắn hay không.
Về công tác tổ chức của Ngân hàng:
Cần đợc sắp xếp một cách khoa học, có tính linh hoạt trên cơ sở tôn trọng
các nguyên tắc tín dụng, quản lý đợc cơ cấu tài sản có, tài sản nợ của Ngân hàng,
đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh. Cần có sự phối hợp
nhịp nhàng giữa các phòng ban, có sự đoàn kết thống nhất chỉ đạo từ trên xuống d-
ới, tạo điều kiện cho việc quản lý có hiệu quả các khoản vốn tín dụng.
Về chất lợng cán bộ:
Trong một Ngân hàng muốn biết chất lợng cán bộ tốt (mặt tích cực) thì việc
trớc tiên là ngời cán bộ phải có trình độ nghiệp vụ chuyên môn giỏi xem xét các
thủ tục để tiến hành giải quyết cho vay theo đúng luật mà Ngân hàng quy định các
nó ảnh hởng đáng kể tới chất lợng số lợng các khoản cho vay và đầu t. Mục tiêu
quản lý các khoản nợ không nằm ngoài mục tiêu quản lý chung của ngân hàng đó
là an toàn và sinh lời.
5.1.1 - Quản lí qui mô và cơ cấu
Quản lí qui mô và cơ cấu là nhằm đa ra và thực hiện các biện pháp để ra
tăng qui mô, thay đổi cơ cấu của nguồn một cách có hiệu quả nhât.
Gia tăng các khoản tiền gửi và đi vay là một chỉ tiêu phản ánh chất lợng
hoạt động của Ngân hàng, là điều kiện để Ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động,
nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định, của nguồn vốn. Cơ cấu nguồn ảnh h-
ởng tới cơ cấu tài sản và quyết định chi phí của Ngân hàng. Quản lý quy mô và cơ
cấu gồm những nội dung sau:
- Thống kê đầy đủ, kịp thời các thay đổi về các loại nguồn, tốc độ quay
vòng cuẩ mỗi nguồn.
- Phân tích kỹ lỡng của các nhân tố gắn liền với thay đổi đó (các nhân tổ
ảnh hởng và bị ảnh hởng).
- Lập kế hoạch nguồ cho từng giai đoạn phù hợp với vật yêu cầu sử dụng.
- Công tác thống kê nguồn sẽ cho các nhà quản lí nghiên cứu mối liên hệ
giữa số lợng, cấu trúc nguồn với các nhân tố ảnh hởng cũng nh thấy đợc đặc tính
của thị trờng nguồn Ngân hàng.
- Trong điều kiện cụ thể, các nguồn vốn của Ngân hàng có thể có tốc độ và
qui mô thay đổi khác nhau. Các Ngân hàng lớn có quy mô nguồn lớn và tốc độ
tăng trởng nguồn có thể không cao nh các Ngân hàng nhỏ. Những Ngân hàng ở
trung tâm tiền tệ có cơ cấu nguồn khác với Ngân hàng ở xa.
- Những nhân tổ ảnh hởng và bị ảnh hởng bởi quy mô và kết cáu của nguồn
tiền thờng xuyên thay đổi và cần phải đợc nghiên cứu kỹ lỡng. Đây là cơ sở Ngân
hàng đa ra các quyết định phù hợp để thay thay đổi quy mô và kết cấu nguồn tiền.
Vào gần dịp tết, quy mô có tiền gửi tiết kiệm có thể giảm xuống tơng đối; hoặc
nếu Ngân hàng phục vụ chủ yếu các doanh nghiệp xây lắp, tiền gửi của họ tăng
hay giảm phụ thuộc nhiều vào mùa xây dựng .Từ đó, nhà quản lý Ngân hàng cần
phân chia các loại khách hàng gắn với quy mô và tốc độ gia tăng của mỗi nguồn.
Lãi suất huy động gắn liền với mỗi loại sản phẩm của Ngân hàng vf với
mỗi loại Ngân hàng. Lãi suất huy động thay đổi thờng xuyên dới ảnh hởng của
nhiều nhân tố nh :
- Khả năng tiết kiệm và gia tăng tiết kiệm của quốc gia:
- Nhu cầu đầu t của các doanh nghiệp. Nhà nớc và hộ gia đình:
- Tỷ lệ làm phát.
- Tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu t khác.
- Trình độ phát triển của thị trờng tài chính:
- Khả năng sinh lời của Ngân hàng.
- Độ an toàn của các Ngân hàng.
5.1.3.Quản lí kỳ hạn.
Quản lí kỳ hạn xác định kỳ hạn của nguòn phù hợp với yêu cầu về kỳ hạn
của sử dụng, đồng thời tạo sự ổn định của nguồn.
Nội dung quản lí kỳ hạn:
- Xác định kỳ hạn danh nghĩa của nguồn vốn và các nhân tố ảnh hởng.
- Xác định kỳ hạn thực của nguồn và các nhân tố ảnh hởng.
-
-
17
17
-
-
- Xem xét khả năng chuyển hoá kỳ hạn của nguồn.
5.1.4. Phân tích thanh khoản của nguồn vốn.
Đối với nhiều Ngân hàng phân tích tính thanh khoản của nguồn vốn đang
trở thành trọng tâm quản lí nguồn vốn. Tính thanh khoản của nguồn vốn đợc đo
bằng khả năng tìm kiếm nguồn vốn mới với chi phí và thời gian nhỏ nhất. Nhiều
ngân hàng lớn, do thực hiện chuyển hoá kỳ hạn của nguồn (nguồn với kỳ hạn ngắn
đợc chuyển sang đầu t hoặc cho vay với kỳ hạn dài hơn) và duy trì tỷ lệ dự trữ thấp
rất quan tâm tới khả năng tìm kiếm nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản
-
18
18
-
-
trong kỳ của Ngân hàng phải đảm bảo thoả mãn số lợng dự trữ bắt buộc mà một
ngân hàng phải duy trì trong kỳ đó.
Mức dự trữ
bắt buộc trong kỳ
=
Tỷ lệ dự trữ
bắt buộc
x
Số d binh quân của các nguồn
phải dự trữ bắt buộc trong kỳ
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc thờng do Quốc hội quy định, Ngân hàng Trung ơng
(Ngân hàng Nhà nớc) có thể thay đổi tỷ lệ này trong các thời kì khác nhau đối với
các nguồn khác nhau, hoặc có thể đợc phân biệt theo quy mô theo loại tiền, theo
vùng.
Các nguồn là đối tợng phải dự trữ bắt buộc cũng có thể bị thay đổi tuỳ theo
chính sách của Ngân hàng Nhà nớc, thông thờng đó là các nguồn tiền gửi. Các
nguồn tiền gửi ngắn hạn thờng phải tính dự trữ bắt buộc với tỷ lệ cao so với các
nguồn khác.
Hình thức biểu hiện của dự trữ bắt buộc cũng khác nhau tại nớc khác nhau,
tuỳ theo khả năng kiểm soát của Ngân hàng Nhà nớc. Tại Việt Nam, dự trữ bắt
buộc thể hiện ở khoản mục Tiền gửi của Ngân hàng thơng mại tại Ngân hàng
Nhà nớc.
Ví dụ các nguồn tiền gửi phải dự trữ bắt buộc bình quân tháng 1 là 200 tỷ
và tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 5% thì mức dự trữ bắt buộc phải có trong tháng 2: 200 x
5% = 10tỷ
chi trả, loại thứ hai chủ yếu đáp ứng yêu cầu sinh lợin. Loại thứ nhất trong chứng
khoán của các Chính phủ, các tổ chức tài chính hàng đầu trong nớc và quốc tế và
có thời gian dến lúc đào hạn ngắn. Loại thứ hai là của Chính phủ, các tổ chức tài
chính và các công th có thời gian đáo hạn tơng đối dài.
Công tác quản lý chứng khoán đòi hỏi phải thớng xuyên xếp hạng chứng
khoán tuỳ theo tính an toàn và thời gian còn lại của chungns. Ví dụ chứng khoán
côg ty có thời hạn 5 năm, song đã nắm giữ đợc 4 năm 8 tháng, tình hình tài chính
ủa công ty trả nợ tốt, thì có thể xếp vào chứng khoán thanh khoản. Chứng khoán
12 tháng song công ty phát hành đang lâm vào tình trạng khó khăn bất thờng, ít
khả năng cữu vãn thì cũng xếp vào chứng khoán kém thanh khoản. Nhiều Ngân
hàng phân chia nhỏ thang bậc của chứng khoán theo cách xếp loại của các tổ chức
t vấn tài chính quốc tế (theo chất lợng quốc gia, ngành, công ty phát hành chứng
khoán). Các chứng khoán cũng có thể đợc xếp loại theo mục đích nắm giữ chủ
yếu, nh chứng khoán nắm giữ nhằm mục đích kiểm soát công ty phát hành nắm
giữ chỉ nhằm mục đích thu lợi tức, nắm giữ nhằm mục đích thanh khoản (bán để
có thể chi trả), nhằm mục đích đầu cơ (kỳ vọng giá lên cao, bán để hởng chênh
lệch giá)... Ngân hàng có thể tổ chức phòng quản lý chứng khoán hoặc phòng
ngân quỹ sẽ quản lý các chứng khoán thanh khoản còn phòng chứng khoán ( hoặc
công ty chứng khoán) sẽ quản lý chứng khoán đầu t.
Để xếp loại chứng khoán, Ngân hàng phải thớng xuyên theo dõi, phân tích
và đánh giá tình hình tài chính của các công ty phát hành chứng khoán, sự biến
động tỷ giá, lãi suất thị trờng, giá bất động sản tình hình chính trị.. của mỗi quốc
gia, khu vực và toàn cầu.
Ngân hàng thờng xuyên xét một số chỉ tiêu liên quan đến danh mục chứng
khoán nh rủi ro và thu thập chứng từ chứng khoán, xu hớng vận động của giá
chứng khoán và nhân tổ ảnh hởng, tỷ lệ chứng khoán thanh khoản trên ngân quỹ
hoặc tiền gửi... các tỷ lệ này phản ánh chiến lợc quản lý chứng khoán của Ngân
hàng.
-
-
Ngân hàng thờng phân loại rủi ro tính dụng dựa trên thông kê kinh nghiệm
và phân tích các điều kiện thị trờng. Phân loại này cho phép nhà quản lý xác định
các tỷ lệ rủi ro liên quan tới từng nhóm khách hàng, các nguyên nhân rây ra rủi ro
và môi trờng rủi ro nảy sinh rủi ro. Phân loại cũng giúp nhà quản lý xác định các
phép đo rủi ro tín dụng một cách hợp lý và ngỡng rui ro mà Ngân hàng có thể
chấp nhận.
Nghiên cứu và tìm các giải pháp để hạn chế rủi ro phát sinh, giải quyết và
bù đắp tổn thất đã xảy ra là một trong những nội dung chính của quản lý tín dụng
xây dựng quy trình phân tích tín dung và phổ biến rộng rãi quy trình đó cho mọi
khách hàng sẽ góp phần làm cho khách hàng hiểu yêu cầu và nội dung công việc
của Ngân hàng khi tài trợ. Thiết lập các quỹ và các hợp đồng tài chính nhằm bù
-
-
21
21
-
-
đắp tổn thất xảy ra ràng buộc pháp lí giữa các Ngân hàng với khách hàng ( tài sản
thế chấp...) giữa Ngân hàng với cán bộ tín dụng... (khoán thu nhập gắn với chất l-
ợng tín dụng...)là biện pháp mà nhiều Ngân hàng đang hớng tới trong môi trờng
rủi ro đang ngày càng gia tăng.
Dự phòng là biện pháp nhiều Ngân hàng áp dụng để ớc lợng giá trị các
khoản cho vay có khả năng thu hôì. Dự phòng có thể đợc coi nnh tài sản đối ứng
khi Ngân hàng cho vay.
D nợ ròng = D nợ - Dự phòng tín dụng
Dự phòng tín dụng làm giảm vốn của chủ. Ngân hàng phải tính toán sao cho
thu nhập ròng sau thuế và trích lập dự phòng tổn thất đủ để tăng vốn của chủ sau khi
lập dự phòng tổn thất.
Các khoản nợ, nếu đợc xác định là nợ quá hạn, lãi tích luỹ trên tài khoán thu
lãi (lãi dự tính) phải bị loại bỏ thu lãi cho đến khi khoản thu lãi đợc thực hiện. Do
nhanh chóng, thuận tiện, hiệu quả nhất với các phơng tiện, công nghệ hiện đại nhất.Trong
suốt quá trình hoạt động Ngân hàng Công thơng Đống Đa luôn đạt tốc độ tăng trởng cao
và an toàn.
Ngân hàng Công thơng khu vực Đống Đa nằm trên một quận lớn của Thủ đô, giữa
các trung tâm kinh tế - văn hoá của cả nớc nên có rất nhiều thuận lợi cả về nhiều mặt song
cũng không tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt của các Ngân hàng quốc doanh khác, các
Ngân hàng cổ phần và các chi nhánh nớc ngoài tại Việt Nam cùng đóng trên địa bàn
quận.Tuy vậy trong những năm gần đây, Ngân hàng Công thơng khu vực Đống Đa đã chú
trọng và tìm mọi biện pháp nhằm thu hút và lôi kéo khách hàng là các doanh nghiệp Nhà
nớc về mở tài khoản tiền gửi và giao dịch với Ngân hàng Công thơng Đống Đa.
Quận Đống Đa là một quận có địa bàn rộng với tổng số 26 phờng và dân và dân số
khoảng 30 vạn ngơì, là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp chủ chốt của Trung ơng và địa
phơng. Bên cạnh đó, còn có nhiều công ty TNHH, các tổ chức sản xuất, các hợp tác xã
-
-
23
23
-
-
tiểu thủ công nghiệp và các hệ thống công thơng. Trên khu vực quận cũng có nhiều điểm
thơng mại lớn nên khách hàng của Ngân hàng Công thơng khu vực Đống Đa rất phong
phú, đa dạng. Với địa bàn rộng lớn, khách hàng đa dạng Ngân hàng Công thơng khu vực
Đống Đa có lợi thế rất lớn trong việc quan hệ giao dịch thờng xuyên với khách hàng.
Qua 10 năm đổi mới và trởng thành, từ chỗ mới chập chững bớc vào làm quen với
cơ chế thị trờng trong khi những ảnh hởng tiêu cực của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
vẫn còn đeo bám gây nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh, đến nay Ngân hàng
Công thơng khu vực Đống Đa đã từng bớc vơng lên khẳng định chỗ đứng vững chắc của
mình, ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động, đóng góp một phần không nhỏ vào sự
nghiệp phát triển kinh tế của Thủ đô. Đạt đợc kết quả nh vậy ngoài sự giúp chỉ bảo sát sao
của Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam, Banh Lãnh đạo Ngân hàng Công thơng Việt Nam, của
-
-
2. Phòng giao dịch tại phơng Cát Linh và Phờng Kim Liên.
Hệ thống nhận tiền gửi của khách hàng và 14 quỹ tiết kiệm tại 14 phờng.
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Công thơng khu vực Đông Đa hiện nay có 228 cán
bộ công nhân viên nhiệm vụ với 10 phòng ban nghiệp vụ.
Ban giám đốc gồm: 01 Giám đốc, 02 Phó giám đốc.
Các phòng nghiệp vụ gồm có:
1. Phòng kinh doanh đối nội.
2. Phòng kinh doanh đối ngoại.
3. Phòng kế toàn tài chính.
4. Phòng tiền tệ kho quỹ.
5. Phòng thông tin điện toán.
6. Phòng nguồn vốn.
7. Phòng giao dịch cát linh.
8. Phòng giao dịch Kim Liên.
9. Phòng kiểm soát.
10. Phòng tổ chức - hành chính.
Mô hình tổ chức nhân sự:
3.Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong thời gian gần đây:
Ngân hàng Công thơng Đống Đa là một Ngân hàng có danh số hoạt động
lớn trong hệ thống Ngân hàng Công thơng Việt Nam. Hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng Công thơng Đống Đa không ngừng phát triển cả về quy mô và chất l-
-
-
25
25
-
-
Ngân hàng công thương khu vực Đống Đa
số 41
Quỹ TK
số 42
Quỹ TK
số 43
Quỹ TK
số 46