Thực trạng lao động và một số giải pháp nâng cao thu nhập cho người lao động huyện Thanh Liêm - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Vấn đề lao động việc làm và thu nhập là một vấn đề luôn luôn mang
tính thời sự với bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ địa phương và với bất kỳ cá nhân
lao động nào…Trong điều kiện phát triển của nước ta hiện nay thì vấn đề việc
làm và thu nhập của lao động là vấn đề rất đáng quan tâm của toàn xã hội và
với thực tế nước ta đang trong quá trình Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước để đảm bảo được các mục tiêu phát triển mà xã hội đã đặt ra và giải
quyết các vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập và để thu hẹp khảng cách giữa
cách giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động thành thị và lao động nông
thôn là việc làm hết sức cần thiết. Với thực tế nước ta lao động nông nghiệp,
nông thôn còn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động của cả nước và đặc
biệt chất lượng lao động trong khu vực này còn rất thấp, từ đó dẫn tới thu
nhập còn thấp, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn…và trong
quá trình phát triển của Đất nước thì Đảng và Nhà nước ta đã có những chính
sách để đẩy mạnh việc phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta… Vì những
lý do trên em thấy vấn đề lao động, việc làm, thu nhập của người lao động
nông thôn là một vấn đề luôn mang tính thời sự và cần được nghiên cứu giải
quyết cho phù hợp với quá trình phát triển, vậy em xin chọn đề tài cho thực
tập tốt nghiệp của mình là “Thực trạng lao động và một số giải pháp nâng cao
thu nhập cho người lao động huyện Thanh Liêm” để hiểu thêm về vấn đề này.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu với mục đích tìm hiểu thực trạng lao động, việc
làm và thu nhập của lao động địa phương, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm
cải thiện tình hình thu nhập hiện nay cho lao động tại địa phương nghiên cứu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của xã hội. Chính vì vậy lao động được coi là hoạt động chủ yếu , là quyền và
nghĩa vụ của con người và chúng ta có thể nói rằng : lao động là vinh
quang .Theo thời gian lao động ngày càng phát triển theo hướng chuuyên môn
hoá và hợp tác hoá. Nhờ đó ,từ nhiều thế kỷ nay đã hình thành bộ môn khoa
học riêng gọi là khoa học lao động , từ đây chúng ta thấy được vai trò và vị trí
quân trọng của lao động .
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và góc độ phân tích, lao động được
phân loại thành :
- Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là sản
xuất ra sản phẩm bao gồm lao động công nghệ và lao động phụ trợ . Lao động
gián tiếp sản xuất là lao động quản lý và phục vụ quản lý để đảm bảo quá
trình liên tục có hiệu quả .
-Lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao
động không cần qua dào tạo , tập huấn chuyên môn hoặc nếu có cũng ở mức
thấp . Nó là sự hao phí sức lao động của người không có trình độ chuyên
môn, lao động không thành thạo còn lao động phức tạp là lao động của người
đã qua tập huấn chuyên môn .
- Lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động cụ thể là lao động
nhằm mục đích nhất định , lao động tạo ra giá trị sử dụng cần phải có những
loại lao động nhất định, sự phân biệt các loại lao động căn cứ vào phương
pháp lao động , công cụ lao động và kết quả lao động . Lao động trừu tượng là
lao động xã hội, tính chất xã hội biểu hiện ra quá trình trao đổi. Trong điều
kiện sản xuất hàng hoá dựa trên chế đọ tư hữu, mâu thuẫn giữa lao động trừu
tượng và lao động cụ thể phản ánh giữa lao động tư nhân và lao động xã
hội….
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

- Chất lượng nguồn lao động :Là phạm trù biểu hiện ở từng người lao
động nhưng có mối quan hệ tương tác trong phạm vi quốc gia, khu vực, vùng
lao động, lãnh thổ…trên các mặt như: trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn
nghề nghiệp, trình độ tổ chức cuộc sống, các yếu tố về tâm lý, tập quánphẩm
chất đạo đức, trình độ ý thức pháp luật…Như vậy chất lượng lao động chủ
yếu biểu hiện ở mặt trí lực và thể lực của người lao động .
1.1.2 Một số khái niệm về việc làm.
Khái niệm “việc làm” và việc xác định số người có “việc làm” là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định cơ chế, chính sách quản lý
nguồn nhân lực.
Trong cơ chế thị trường, quan niệm về “việc làm” và người có “việc
làm” khác căn bản với quan niệm trong cơ chế cũ. “Việc làm” là một phạm
trù tổng hợp, “việc làm” và lao động liên quan chặt chẽ với nhau nhưng
không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Theo Bộ Luật Lao động nước ta, khái niệm “việc làm” được xác định là
“mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị luật pháp ngăn cấm”
(Điều 13 - Bộ Luật Lao động). Như vậy không chỉ những người làm việc
trong các ngành của nền kinh tế quốc dân, mà nhiều người khác cũng được
coi là có việc làm, nếu họ gián tiếp góp phần tạo ra thu nhập.
“Việc làm đầy đủ” là sự thoả mãn đầy đủ nhu cầu về việc làm của các
thành viên có khả năng lao động, nói cách khác là mỗi người có khả năng lao
động, muốn làm việc đều có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn.
“Việc làm đầy đủ” mới chỉ đề cập về mặt số lượng, chưa tính đến yếu tố
nguyện vọng, năng khiếu, sở trường, tức là chưa tính đến yếu tố hợp lý của
việc làm.
“Thiếu việc làm” là tình trạng có việc làm nhưng thời gian làm việc
thấp hơn thời gian quy định và có nhu cầu làm thêm. Thiếu việc làm còn thể
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hiện nay, ở nước ta không chỉ có thất nghiệp tạm thời do thay đổi cơ cấu, mà
còn có thất nghiệp tiềm ẩn, thất nghiệp không hoàn toàn (do hiệu suất sử dụng
thời gian lao động còn thấp, nhất là ở nông thôn) chiếm tỷ trọng lớn cùng với
tỷ lệ tăng cao hàng năm của nguồn lao động càng làm cho tình hình thất
nghiệp càng thêm gay gắt. Thực tế đang đòi hỏi phải có chính sách, giải pháp
đồng bộ để hạn chế tỷ lệ người thất nghiệp.
1.2 Đặc điểm của lao động nông thôn.
Nước ta còn là một nước nông nghiệp chưa phát triển , quá trình đô thị
hoá trong giai đoạn này mới đang diễn ra mạnh, dân số ở các đô thị còn ít mà
vẫn tập chung chủ yếu ở khu vực nông thôn. Cụ thể năm 2008 tỷ lệ dân số đô
thị của nước ta mới đạt 27,9% (trương đương với khoảng 24 triệu người.) Còn
dân số sống ở khu vực nông thôn vẫn chiếm 72,1% dân số cả nước (tức là
khoảng 62,16 triệu người) trong khi trung bình của thế giới là khoảng 49%.
(số liệu lấy từ báo Dân số và đô thị). Như vậy chúng ta có thể thấy rằng dân
số ở khu vực nông thôn của chúng ta còn rất cao so với trung bình của thế
giới. Điều này cho thấy rằng lao đọng trong khu vực nông thôn của chúng ta
là khá lớn. Với nộng dung của chuyên đề tập chung nghiên cứu về lao động
của khu vực nông thôn nên trong phần này sẽ đề cập đến đặc điểm của lao
động nông thôn .
- Về số lượng nguồn nhân lực của nước ta khá dồi dào, cơ cấu dân số
trẻ. Dân số trong độ tuổi lao động là khoảng 52 triệu người. Trong đó dân số
ở khu vực nông thôn chiếm tới 72,1% như vậy dân số trong độ tuổi lao động
ở khu vực này khoảng 37,5 triệu người . Xét theo cơ cấu độ tuổi, lực lượng
lao động tuổi từ 15-34 tuổi chiếm 54,6% lực lượng lao động nông thôn. Đây
là lực lượng lao động trẻ, có khả năng tiếp thu, nắm bắt và sử dụng công nghệ
nhanh trong sản xuất nếu được đào tạo tốt. Tuy nhiên lao động trong nông
nghiệp lại chiếm tỷ trọng cao, chiếm tới 66% lao động nông thôn .
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN

.

+
+
Cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội nhằm đảm bảo
Cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội nhằm đảm bảo
về nhu cầu tiêu dùng cho con người trong cuộc sống hàng ngày đảm bảo cho
về nhu cầu tiêu dùng cho con người trong cuộc sống hàng ngày đảm bảo cho
sự tồn tại và khả năng tái sản xuất của con người.
sự tồn tại và khả năng tái sản xuất của con người.
+ Sản phẩm của lao động nông thôn không những chỉ được dùng
+ Sản phẩm của lao động nông thôn không những chỉ được dùng
để tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày mà nó còn đóng vai trò cung cấp
để tiêu dùng cho cuộc sống hàng ngày mà nó còn đóng vai trò cung cấp
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng, từ đây ta có thể nhận thấy lao động nông thôn không những lao động để
dùng, từ đây ta có thể nhận thấy lao động nông thôn không những lao động để
sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội mà còn là tiền đề của cho việc phát
sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội mà còn là tiền đề của cho việc phát
triển các ngành công nghiệp nhẹ và từ đó giúp cho quá trình tạo việc làm cho
triển các ngành công nghiệp nhẹ và từ đó giúp cho quá trình tạo việc làm cho
lao động trong xã hội và giải quyết việc làm đồng thời góp phần vào đẩy

SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và thu nhập tài chính (lãi do gửi tiết kiêmk, lãi do mua bán đầu tư chứng
khoán, thu từ các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác.
- Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhận
được do đã bỏ sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinh
doanh của các đơn vị kinh tế. thu nhập từ lao động của người lao động bao
gồm:
+ Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chất
như lương: Gồm tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp thưòng xuyên mang
tính chất cố định và tiền thưởng trong lương; Các khoản phụ cấp và thu nhập
khác của người lao động được tính vào chi phí sản xuất, vào giá thành của sản
phẩm như: phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, phụ cấp tiền điện
thoại cố định, phu cấp xăng xe, tiền công tác phí, ăn giữa ca (trường hợp thuê
dịch vụ ăn uống bên ngoài không tính vào yếu tố này), trợ cấp thuê nhà… và
các khoản phụ cấp thường xuyên, không thường xuyên khác cho người lao
động, bao gồm các hình thức trả bằng tiền, bằng hiện vật như: thực phẩm, đồ
uống, nhiên liệu, quần áo (trừ quần áo bảo hộ lao động).
+ Bảo hiểm xã hội trả thay lương: Là khoản Bảo hiểm xã hội được chi
trả cho người lao động của đơn vị kinh tế trong thời gian nghỉ ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động,... (theo chế độ qui định của Bảo hiểm xã hội hiện hành).
+ Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:
Là các khoản chi trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chi
phí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận
của chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấp
trên,...).
2.2 Tầm quan trọng của thu nhập và sự cần thiết phải nâng cao thu nhập.
Cơ quan Phát triển con người của Liên hợp quốc đã đưa ra một chỉ số

Bảng 1.1 Giá trị tối đa - tối thiểu của các chỉ tiêu.
Chỉ tiêu
Giá trị
tối đa
Giá trị
tối thiểu
Tuổi thọ (năm) 85 25
tỷ lệ người lớn biết chữ (%) 100 0
tỷ lệ nhập học (%) 100 0
GDP thực tế đầu người (PPPUSD) 40.000 100
I
IN
là chỉ số đo mức sống
Chỉ số thu nhập đựoc đưa vào HDI với vai trò là biến đại diện cho mức
sống thoả đáng. Cách tiếp cận này bị tri phối bởi thực tế là việc đạt được một
mức độ đáng kể về sự phát triển con người không nhất thiết cần tới một khoản
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
11
Giá trị thực tế - giá trị tối thiểu
Giá trị tối đa - giá trị tối thiểu
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thu nhập vô hạn và cũng cũng không chỉ đòi hỏi ở mức thu nhập cao. Để phản
ánh điều này, thu nhập thường được điều chỉnh trong tính toán HDI. Phương
pháp được sử dụng hiện nay là làm logarit của thu nhập.
I
IN
=
HDI nhận các giá trị biến thiên từ 0 đên 1. Trong thực tế giá trị của
HDI của một nước chỉ ra khoảng cách giữa các mức độ tiến bộ trong phát

trường với chất lượng tốt hơn, nói tóm lại xẽ có được những thứ gần với sự
mong muốn hơn, ngược lại những người có thu nhập thấp, những người
nghèo thậm chí là đói thì với thu nhập thấp đó họ có thể ăn không đủ no, mặc
không đủ ấm chú chưa nói gì đến việc được sử dụng các dịch vụ mà cần có
tiền mới có được…
Mặt khác, mức sống của dân cư bắt nguồn từ thu nhập. Thu nhập là
một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức sống của một gia đình
nông thôn. Tăng thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải thiện và nâng
cao mức sống, là cơ sở để tăng tích luỹ và tăng đàu tư cho quá trình sản xuất
tiếp theo. Tăng thu nhập cho mỗi người dân đồng nghĩa với việc thu nhập
bình quân đầu người mỗi khu vực tăng lên và từ đó thu nhập bình quân quốc
gia tăng lên, điều đó thể hiện sự tăng trưởng của mỗi vùng, mỗi quốc gia. Và
tăng thu nhập cho phép tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội nhằm đạt
được những mục tiêu đã được đặt ra. Và ngược lại nếu người dan có thu nhập
thấp, đời sống khó khăn xẽ là nguyên nhân để dẫn tới các vấn đề tệ nạn xã
hội, huỷ hoại môi trường sống. Gia đình có thu nhập con em họ không có điều
kiện được chăn sóc tốt nhất có thể và tương lai của chúng không được đảm
bảo từ đó xẽ gây hậu quả lâu dài…
Chính vì các lý do trên mà chúng ta thấy được việc nâng cao thu nhập
cho người có thu nhập thấp, chủ yếu là người lao động nông thôn là một điều
hết sức cần thiết và cũng góp phần giải quyết các vấn đề xã hội đối với mỗi cá
nhân và quốc gia.
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3.Những yếu tố ảnh hưởng tới lao động, việc làm và thu nhập.
3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến lao động.
3.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến số lượng lao động
Dưới góc độ của kinh tế học, lực lượng lao động phản ánh số lượng lao

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động.Dân số trong độ tuổi lao động phản
ánh khả năng lao độngcủnền kinh tế. Tuy nhiên không phảt tất cả những
người trong độ tuổi lao độngđều là những người tham gia vào lực lượng lao
động. Cung lao động sẽ phụ thuộc vào số lượng dân số trong độ tuổi tham gia
lực lượng lao độngvà được xem xét qua chỉ tiêu “tỷ lệ tham gia lực lượng lao
động của dân số trong độ tuổi lao động”. Theo khái niệm lực lượng lao động
thì “tỷ lệ tham gia lực lượng lao động” nói chung được hiểu là tỷ số phân trăm
giữa số người đủ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trên dân số đủ 15
tuổi trở lên.
Tỷ lệ tham gia lực lưọng lao động có thể khác nhau giữa các nhóm tuổi,
giữa nam và nữ. Yế tố tác động đến tỷ lệ tham gia lao độnglà yếu tố kinh tế,
xã hội và văn hoá. Những yếu tố này có thể tác động làm tăng tỷ lệ tham gia
lực lượng lao động nhưng cũng có thể là ngược lại.
3.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động.
Số lượng lao động mới phản ánh một mặt sự đóng góp của lao động
vào tăng trưởng kinh tế. mặt khác thể hiện sự đống góp của lao độngđược
đánh giá ở chát lượng của lao động, nó là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao
động, đến sự chuyển đổi cơ cấu việc làm theo trình đọ kỹ thuạtk sản xuất.
Chất lượng lao động được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ
thuật cũng như sức khoẻ của lao động. Điều này lại phụ thuộc vào hoạt động
giáo dục đào tạo và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ cho người lao động.
Vậy có thể nói chất lượng lao độngphụ thuộc vào các yếu tố:
Giáo dục và việc cải thiện chất lượng lao động. Giáo dục theo nghĩa
rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao kiến thức và kỹ
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
năng của con người trong suốt cả cuộc đời. Giáo dục phổ thông nhằm cung
cấp những kiến thức cơ bản nhất để phát triển năng lực cá nhân. Giáo dục

hiện đại hoá, trong các hoạt động kinh tế, sự phối hợp trong công việc giữa
các cá nhân trong cùng một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau có xu hướng
gia tăng và đặt ra yêu cầu cao. Điều này đòi hỏi người lao động phải có tác
phong công nghiệp, tinh thần tự chủ sáng tạo, thái độ hợp tác và tính kỷ luật
chặt chẽ.
3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm.
Sức cầu của thị trường và sự đầu tư: Số lượng việc làm trong nền kinh
tế phản ánh cầu lao động. Về lý thuyết, cầu lao động cho thấy số lượng lao
động mà các tổ chức, đơn vị kinh tế sẵn sàng thuê để tiến hành các hoạt động
kinh tế với mức tiền lương nhất định. Cầu lao động phụ thuộc chủ yếu vào
quy mô sản lượng và hệ số co giãn việc làm đối với sản lượng (đầu ra).
Lao động là yếu tố đầu vào cần thiết để sản xuất một lượng hàng hoá,
dịch vị nhất định. Điều này cũng có nghĩa là quy mô của sản xuất hàng hoá
dịch vụ sẽ quyết định lượng đầu vào được sử dụng để sản xuất từ đó tác đông
đến càu của lao động và làm cho số việc làm tăng lên hoặc giảm xuống. Tuy
nhiên trong nền kinh tế thị trường, đặc điểm của cầu lao động mang tính chất
thứ phát. Nó không chỉ xuất hiện do nhu cầu mở rộng quy mô của nền kinh tế,
của ngành mà chịu tác động của các yếu tố khác đặc biệt là yếu tố về vốn và
đầu tư và công nghệ sản xuất. Quan hệ giữa việc làm và đầu tư thường được
các nhà kinh tế xem xét qua chỉ tiêu mức đầu tư để tạo ra một việc làm mới.
Mức đầu tư cần thiết để tạo một việc làm mới còn có quan hệ với công nghệ
sản xuất. Những ngành có công nghệ sản xuất cao sẽ cần nhiều vốn hưn để
tạo một chỗ làm việc mới và ngược lại. ở các nước đang phát triển, trong giai
đoạn đầu do vốn khan hiếm, lao đọng dồi dào nhưng hạ chế về trình độ vì vậy
cần lựa chọn công nghệ sản xuất ít vốn và cần nhiều lao động, vì vậy lượng
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cầu lao động là lớn hơn nên sức ép về việc làm trong giai đoạn này là không

nhân tố như mức độ phát triển của nền kinh tế, mức sống của dân cư, tiền
lương trung bình trên thị trường lao động, chính sách lao động xã hội, chính
sách tiền lương, chính sách đãi ngộ..
Doanh nghiệp: gồm các nhân tố như khả năng tài chính của doanh
nghiệp, hiệu quả của các chính sách đầu tư và các dự án đầu tư, các chính
sách về thuế, thu nhập của doanh nghiệp…
Công việc: bao gồm mức độ phức tạp, quan trọng của công việc và
cung cầu lao động trên thị trường lao động, nghề nghiệp. Thông thường người
lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp được trả lương thấp hơn những
người làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, và dịch vụ do yêu cầu kỹ năng,
trình độ của ngành này thấp. Bản thân trong cùng một ngành nghề thì thu
nhập của người lao động phụ thuộc vào chuyên môn và kinh nghiệm công tác
của người lao động do những công việc phức tạp được trả lương cao hơn
những công việc đơn giản…
Người lao động: gồm những nhân tố liên quan mặt thể chất và giới tính
gồm: độ tuổi, tình trạng hôn nhân, sức khoẻ và chi tiêu bình quân đàu người.
Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng hiện tại (kiến thức, kỹ năng, phẩm chất
lao động), tiềm năng cá nhân trong tương lai, kiến thức tay nghề tích luỹ,
thâm niên nghề nghiệp, thời gian gắn bó với đơn vị, mức độ hoàn thành công
việc…
Nhóm yếu tố địa lý: vùng thành thị/ nông thôn. Thu nhập được trả cho
người lao động phải đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình của
người lao động. Do mức sống, mức chi tiêu ở các vùng khác nhau là khác
nhau. Bên cạnh sực khác biệt do yếu tố vùng miền lãnh thổ, mức sống và thu
nhập của người lao động còn phụ thuộc vàop khu vực sinh sống là thành thị
hay nông thôn. Người ở khu vực thành thị thường có thu nhập cao hơn lao
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Từ các cơ sở lý luận về lao động, việc làm và thu nhập ở trên có thể kết
luận rằng lao động nói chung và lao động của huyện Thanh Liêm nói riêng
cũng có các nhân tố tác động tới lao động, việc làm và thu nhập có thể nói đén
như: Tình hình phát triển chung của cả nước, tình hình phát triển của tỉnh, đặc
điểm kinh tế xã hội của địa phương, trình độ của người dân, người lao động
huyện Thanh Liêm. Đó là những yếu tố có ảnh hưởng đến việc làm, lao động
và thu nhập của người dân huyện Thanh Liêm.
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN
HUYỆN THANH LIÊM
1.Tình hình chung của Lao động nông thôn và thu nhập của người lao
động nông thôn ở Việt Nam.
1.1.Tình hình chung lao động ở nông thôn ở nước ta.
Trong khu vực nông thôn, tư liệu sản xuất chủ yếu của người lao động
là dất đai. Việc làm nông thôn phu thuộc nhiều vào đất canh tác, thiếu đất
canh tác ở mức độ nào đó đồng nghĩa với thiếu việc làm của lao động nông
thôn và đặc biệt là lao động nông nghiệp. Việclàm ở nông thôn hiện nay chủ
yếu được thể hiện dưới hình thức kinh tế hộ gia đình sản xuất nông nghiệp kết
hợp với nghề phụ hợac chuyển sang các hoạt động phi nông nghiệp nhưng
vẫn giữ lại đất được giao và đăng ký là lao động nông nghiệp.
Một phần vì dân số tăng nhanh, đất đai nói chung thì không thay đổi
mà còn phải chuyển đổi đẻ sử dụng cho các khu công nghiệp, khu dân cư cho
nên nông nghiệp hiện nay thiếu nhiều đát để canh tác, diên tích đát bình quân
một hộ nông dân là 4984m
2
, ở đồng bằng sông Cửu Long là 10149m

tạp, những tệ nạn hình thành khiến xã hội phải lo lắng và quan tâm.
Cơ cấu lao động nông thôn: Trong những năm vừa qua cơ cấu lao động
nông thôn biến động theo xu hướng chuyển dịch một bộ phận lao động nông
nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp, quá trình này phụ thuộc vào sự phát
triển chung của kinh tế cả nước, vào sự phát triển của khu vực phi nông
nghiệp ngay tại các vùng nông thôn, sự đầu tư ngay tại các vùng nông thôn,
đầu tư vào cơ sở hạ tầng của nông thôn ngày càng nhiều, và sự phát triển các
khu công nghiệp, cụm công nghiệp ngày càng nhiều và quy mô càng lớn.
Theo số liệu điều tra năm 2001 và 2006 về nông thôn, nôngnghiệp và nông
dân cho thấy hiện nay số hộ nông thôn cả nước tại thời điểm 01/07mỗi năm
như sau :
Bảng 2.1 Cơ cấu hộ nông thôn theo ngành năm 2001 và 2006.
01/07/2001 01/07/2006
Triệu hộ Tỷ trọng( %) Triệu hộ Tỷ trọng (%)
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng số hộ nông thôn 13.07 100 13.77 100
Số nông hộ, lâm nghiệp và
thủy sản
10.57 81.0 9.78 71.1
Số hộ công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ
2.50 19.0 3.99 28.9
(Nguồn: Tổng cục thống kê, trích từ số liệu điều tra nông thôn năm
2001 và 2006)
Mặc dù hộ nông thôn trong cả nước tăng nhưng tốc độ đã chậm hẳn lại
so với các thời ký trước. Cơ cấu ngành nghề ở khu vực nông thôn đã có sự
thay đổi nhanh theo hướng tích cực, giảm số lượng và tỷ trọng nhóm nông hộ

nông nghiệp có hoạt động phụ nông nghiệp chiếm 14,2%.
Trình độ học vấn và chuyên môn của lao động nông thôn: Trong công
cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn luôn chú trọng đến phát triển toàn diện
nền kinh tế, trong những năm qua nước ta đã đạt được nhiều bước đột phá
quan trọng và nhiều thành tựu to lớn. Khu vực nông thôn nước ta nơi chiếm
tới hơn 71% dân số và chiếm gần 40% lao động trong tổng số lao động của
toàn xã hội nhưng lao động ở đây vẫn đang trong tình trạng phát triển chậm
và trình độ còn thấp. Trong những năm trước về trình độ học vấn chuyên môn
ở nông thôn, đặc biệt là những vùng không phát triển nghề phụ mà chỉ thuần
nông thì tình trạng thừa lao động giản đơn không có tay nghề và trình độ
chuyên môn kỹ thuật là phổ biến.
Năm 2000 trong khu vực thành thị cứ 10 người tham gia hoạt động
kinh tế thì có 4 người đã tốt nghiệp trung học phổ thông, cao gấp hơng 3 lần
so với khu vực nông thôn, và tỷ lệ chưa biết chữ trong nông thôn lại cao gấp
hơn 6 lần so với khu vực thành thị. Tuy nhiên tỷ lệ lao động nông thôn đã tốt
nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chỉ chioếm 41,9%. thấp hơn so
với khu vực thành thị 19%. Đây cũng là một trở ngại lớn cho lao động nông
thôn khi học nghề tạic các cơ sở đào tạo tại các thành thị. Trình độ học vấn
chuyên môn của lao động nông thôn hoạt động phi nông nghiệp cũng rất thấp
khoảng 65% tốt nghiệp trung học cơ sở, 35% lao động trong các
SV: Lương Bá Thiện Lớp: KTPT 47B QN
25

Trích đoạn Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong vùng Phát triển du lich địa phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status