1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 Lý luận cơ bản về tín dụng
1.1.1 Khái niệm và bản chất của tín dụng ngân hàng
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân
hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung:
Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử
dụng.
Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn.
Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
1.1.1.2 Bản chất của tín dụng ngân hàng
Trong quan hệ tín dụng ngân hàng người cho vay chỉ nhượng lại quyền sử dụng
vốn cho người đi vay trong một thời hạn nhất định. Do người đi vay không có quyền
sở hữu số vốn ấy nên phải hoàn trả lại cho người cho vay khi đến thời hạn đã thoả
thuận. Việc hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà vốn tín dụng còn
được tăng thêm dưới hình thức lợi tức. Ở đây, quá trình vận động mang tính chất hoàn
trả của tín dụng là biểu hiện đặc trưng nhất của sự khác biệt giữa quan hệ tín dụng và
các mối quan hệ kinh tế khác.
1.1.2 Chức năng, phân loại và vai trò của tín dụng ngân hàng
1.1.2.1 Chức năng của tín dụng ngân hàng
* Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả
Thông qua chức năng này tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn vốn
tạm thời thừa từ các cá nhân, tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho những doanh
nghiệp, Nhà nước hay cá nhân đang gặp thiếu hụt về vốn.
Trên thực tế vận dụng chức năng này của tín dụng được thể hiện thông qua hoạt
động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Đây là loại hình tín dụng gián
tiếp của xã hội, nghĩa là quá trình tập trung và phân phối vốn phải trải qua các tổ chức
trung gian. Ngoài ra, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, chức năng của tín
toán và tiết kiệm đáng kể lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông.
Trong điều kiện hệ thống ngân hàng phát triển thì song song với quá trình tổ
chức nghiệp vụ tín dụng sẽ là việc mở rộng nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt.
3
Điều này cũng giảm nhu cầu về tiền mặt trong lưu thông đồng thời giảm những chi phí
lưu thông khác như chi phí in ấn giấy bạc, vận chuyển tiền …
1.1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
* Dựa vào mục đích của tín dụng – Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có
thể phân chia thành các loại sau:
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp là loại cho vay ngắn
hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại, dịch vụ.
Cho vay tiêu dùng cá nhân là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn thực hiện các khoản cho vay
để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân
bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu
Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu kinh
doanh xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập
khẩu.
* Dựa vào thời hạn tín dụng – Theo tiêu thức này tín dụng có thể phân chia
thành các loại sau:
Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn được một năm. Mục đích của loại
cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.
Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm . Mục đích của
loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho
vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.
* Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng – Theo tiêu thức này, tín dụng có
thể được phân chia thành các loại sau:
Lượng tiền dôi thừa này nếu không được huy động và sử dụng kịp thời có thể gây ảnh
hưởng xấu đến tình trạng lưu thông tiền tệ dẫn đến mất cân đối trong quan hệ hàng –
tiền và hệ thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi. Do đó, trong nền
kinh tế bị lạm phát, tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu
nhất để làm giảm lạm phát.
Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội
Hoạt động tín dụng không chỉ đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp mà còn
phục vụ cho các tầng lớp dân cư. Trong nền kinh tế, ngoài các ngân hàng còn có hệ
5
thống những tổ chức tín dụng sẵn sàng cung cấp vốn vay cho các cá nhân để phát triển
kinh tế gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh hoạt, … Bên cạnh đó, còn phát triển
những loại hình như Ngân hàng chính sách xã hội, quỹ xoá đói giảm nghèo, Nhà nước
còn thực hiện những chính sách ưu đãi nhằm mục đích cải thiện từng bước đời sống
của nhân dân, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, qua đó, góp phần ổn định
trật tự, xã hội.
1.2 Lý luận cơ bản về cầm cố tài sản
1.2.1 Khái niệm cầm cố tài sản
Căn cứ vào Luật dân sự, Cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài
sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự.
1.2.2 Các bên trong cầm cố tài sản
1.2.2.1 Bên cầm cố tài sản
* Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản:
Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thoả thuận.
Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu
có; trong trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền huỷ hợp đồng
cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thờng thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận
quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.
Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản
cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng
hoặc ghi trong hợp đồng chính.
1.2.4 Đối tượng của cầm cố tài sản
Tài sản thực (vật có thực) như xe cộ, máy móc, hàng hoá, vàng, tàu biển, máy
bay, các loại khác.
Tiền gồm tiền mặt, tiền trên tài khoản.
Giấy tờ có giá (giấy tờ trị giá được bằng tiền) như cổ phiếu, trái phiếu, hối
phiếu …
Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi
nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác.
Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố.
7
Căn cứ vào tính chất quản lý, tài sản cầm cố được chia ra làm hai loại: có đăng
ký quyền sở hữu và không đăng ký quyền sở hữu. Đối với tài sản không đăng ký
quyền sở hữu, tài sản cầm cố phải được chuyển giao cho bên cầm cố, ngược lại đối với
tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì tài sản có thể do bên cầm cố, bên nhận cầm cố
hoặc bên thứ ba giữ theo thoả thuận của bên nhận cầm cố và bên cầm cố.
1.2.5 Phân loại cầm cố
1.2.5.1 Cầm cố pháp lý và cầm cố công bằng
Cầm cố pháp lý là hình thức cầm cố mà trong đó người đi vay (người cầm cố)
thoả thuận chuyển quyền sở hữu cho ngân hàng khi không thực hiện được nghĩa vụ trả
nợ. Theo hình thức này, khi người đi vay không thanh toán được nợ ngân hàng được
quyền bán tài sản hoặc cho thuê với tư cách là người chủ sở hữu mà không cần thực
hiện các thủ tục tố tụng để nhờ sự can thiệp của toà án.
Cầm cố công bằng (cầm cố thông thường) là hình thức cầm cố mà trong đó ngân
hàng chỉ nắm giữ giấy chứng nhận sở hữu tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất để đảm bảo món vay. Khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ theo hợp
đồng, việc xử lý tài sản phải dựa trên cơ sở thoả thuận giữa người cho vay và người đi
vay hoặc phải nhờ đến sự can thiệp của toà án, nếu có tranh chấp.
1.2.5.2 Cầm cố thứ nhất và cầm cố thứ hai
bán tài sản cầm cố.
Thanh toán tiền bán tài sản cầm cố: Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để
thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và
các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa
vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc,
lãi, tiền phạt, tiền bồi thờng thiệt hại nếu có; nếu tiền bán còn thừa thì phải trả lại cho
bên cầm cố; nếu tiền bán còn thiếu thì bên cầm cố phải trả tiếp phần còn thiếu đó.
1.2.6.1 Các trường hợp xử lý
Đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi
phạm nghĩa vụ theo thoả thuận theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
Pháp luật quy định tài sản đảm bảo phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ khác.
Các trường hợp khác do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định.
9
1.2.6.2 Nguyên tắc xử lý
Trong trường hợp tài sản được dùng để đảm bảo thực hiện một nghĩa vụ thì việc
xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận giữa các bên, nếu không có thoả thuận
thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp tài sản được dùng để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ thì
việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận giữa bên bảo đảm và các bên cùng
nhận bảo đảm, nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì tài sản được
bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan, công
khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch
bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với quy định.
Người xử lý tài sản bảo đảm là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận
bảo đảm uỷ quyền, trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm có thoả thuận
khác.
bảo đảm trong một thời gian hợp lý. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do, thời hạn
thực hiện việc thu giữ tài sản bảo đảm, quyền và nghĩa vụ các bên.
Không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo
đức xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm.
Trong trường hợp người giữ tài sản bảo đảm là người thứ ba thì bên bảo đảm có
trách nhiệm phối hợp với người xử lý tài sản bảo đảm thực hiện việc thu giữ tài sản
bảo đảm.
Bên bảo đảm hoặc người thứ ba giữ tài sản bảo đảm phải chịu các chi phí hợp lý,
cần thiết cho việc thu giữ tài sản bảo đảm, trong trường hợp không giao tài sản để xử
lý hoặc có hành vi cản trở việc thu giữ hợp pháp tài sản bảo đảm mà gây thiệt hại cho
bên nhận bảo đảm thì phải bồi thường.
Trong quá trình tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, nếu bên giữ tài sản bảo đảm
có dấu hiệu chống đối, cản trở, gây mất an ninh, trật tự nơi công cộng hoặc có hành vi
vi phạm pháp luật khác thì người xử lý tài sản bảo đảm có quyền yêu cầu Uỷ ban nhân
dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm,
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình áp dụng các biện pháp theo
quy định của pháp luật để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo đảm cho người xử lý tài sản
thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm.
11
1.2.6.7 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm trong thời gian chờ xử lý
tài sản bảo đảm
Trong thời gian chờ xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm được khai thác, sử
dụng tài sản bảo đảm hoặc cho phép bên bảo đảm hoặc uỷ quyền cho người thứ ba
khai thác, sử dụng tài sản bảo đảm theo đúng tính năng và công dụng của tài sản. Việc
cho phép hoặc uỷ quyền khai thác, phương thức khai thác và việc xử lý hoa lợi, lợi tức
thu được phải được lập thành văn bản.
Hoa lợi, lợi tức thu được phải được hạch toán riêng, trừ trường hợp có thoả thuận
khác. Sau khi trừ các chi phí cần thiết cho việc khai thác, sử dụng tài sản, số tiền còn
lại được dùng để thanh toán cho bên nhận bảo đảm.
1.2.6.8 Xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp bảo đảm thực
Việc cầm cố tài sản được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm
khác.
Tài sản cầm cố đã được xử lý.
Theo thoả thuận giữa các bên.
1.3 Cầm cố tài sản trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng
Những loại tài sản cầm cố thông dụng để bảo đảm cho nợ vay ngân hàng như
sau:
1.3.1 Cầm cố hàng hoá
Hình thức bảo đảm hàng hoá có ưu thế bảo đảm bằng bất động sản, vì các lý do
sau đây:
Khi khách hàng không thanh toán được nợ đúng hạn, ngân hàng có thể bán
được hàng hoá một cách dễ dàng hơn so với bán bất động sản.
Giúp cho các doanh nghiệp thực hiện dự trữ vật tư hàng hoá theo chu kỳ và thời
vụ nhằm ổn định sản xuất và đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Để phát huy được các ưu thế trên đây khi cầm cố hàng hoác ngân hàng cần quan
tâm 3 vấn đề chính sau đây:
* Điều kiện cầm cố hàng hoá
Hàng hoá có giá trị ổn định.
Hàng hoá dễ tiêu thụ trong hiện tại và tương lai.
Hàng hoá được phép lưu thông và khách hàng được phép kinh doanh loại hàng
hoá đó.
13
Hàng hoá cầm cố thông dụng bao gồm: hàng hoá mới mua hoặc nhập khẩu như
nguyên liệu, nhiên liệu dùng cho sản xuất, kinh doanh, hàng hoá sản xuất chờ tiêu thụ
hoặc xuất khẩu: máy móc, thiết bị, xe cộ mới hoặc đang sử dụng.
* Quản lý hàng hoá cầm cố
Việc quản lý hàng hoá cầm cố được thực hiện theo các cách sau:
Quản lý tại kho ngân hàng: cách thức quản lý này bảo đảm nắm chắc hàng hoá
cầm cố, nhưng tốn kém về cơ sở vật chất và quản lý. Trên thực tế ít ngân hàng áp dụng
phương thức quản lý này.
Cho vay cầm cố bằng chứng khoán là một nghiệp vụ cho vay đơn giản, khách
hàng chuyển giao chứng khoán cho ngân hàng để nhận tiền vay. Khi đáo hạn khách
hàng trả nợ cho ngân hàng và nhận lại các chứng khoán đã cầm cố.
Các loại chứng khoán cầm cố:
Công trái.
Tín phiếu kho bạc.
Trái phiếu đô thị.
Cổ phiếu.
Trái phiếu công ty.
Các loại giấy nợ khác.
1.3.3 Bảo đảm bằng tiền gửi
Tiền gửi dùng làm bảo đảm cho khoản ứng trước của ngân hàng chủ yếu là tiền
gửi có kỳ hạn và tiết kiệm kể cả chứng chỉ tiền gửi, còn đối với tiền gửi thanh toán thì
dùng làm bảo đảm cho ngân hàng phải được chuyển sang một tài khoản một tài khoản
phong toả.
Tiền gửi là tài sản là tài sản bảo đảm an toàn và ít tốn kém, vì lý do:
Không cần phải địng giá.
Chi phí phát sinh trong việc quản lý tài sản bảo đảm không đáng kể.
Việc xử lý tài sản để thu hồi nợ tương đối đơn giản.
1.3.4 Bảo đảm bằng vàng
Bảo đảm bằng vàng là hình thức bảo đảm trong cho vay đối với cá nhân. Vàng
dùng làm tài sản bảo đảm được ký gửi và bảo quản tại ngân hàng. Phần lớn các ngân
hàng thương mại Việt Nam đều có nghiệp vụ kinh doanh vàng, đây là một thuận lợi
cho việc phân kim và định giá vàng, làm cơ sở xác định mức cho vay.
15
1.3.5 Bảo đảm bằng các khoản phải thu
Các khoản nợ của người thứ ba đối với khách hàng vay vốn được coi là tài sản
bảo đảm cho các khoản vay ngắn hạn.
Việc thực hiện bằng các khoản phải thu được thực hiện bằng hai cách:
Bảo đảm không thông báo: Các khoản phải thu dùng làm bảo đảm chỉ có sự
và cách xử lý khi người đóng bảo hiểm vi phạm hợp đồng. Dựa vào hai cơ sở trên đây
để ngân hàng quyết định chấp nhận hợp đồng bảo hiểm làm bảo đảm, định giá trị bảo
đảm và thủ tục bảo đảm.
Chương 1 trình bày những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng, cầm cố tài sản
và cầm cố tài sản trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng là cơ sở cho việc phân
tích thực trạng cấp tín dụng cầm cố hạt nhựa tại Ngân hàng TMCP Á Châu – chi
nhánh Ông Ích Khiêm ở chương 2.
17
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SẢN PHẨM CHO VAY CẦM CỐ LÔ HÀNG
HẠT NHỰA TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU
CHI NHÁNH ÔNG ÍCH KHIÊM
2.1 Giới thiệu sơ lược về ngân hàng TMCP Á Châu và chi nhánh Ông Ích
Khiêm
2.1.1 Giới thiệu ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Á Châu
Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh về Ngân hàng thương mại (NHTM), hợp tác xã
tín dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990, đã tạo dựng một
khung pháp lý cho hoạt động NHTM tại Việt Nam. Trong bối cảnh đó, ngân hàng
TMCP Á Châu (ACB) đã được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân
hàng Nhà nước cấp ngày 24/04/1993, Giấy phép số 533/GP-UB do Uỷ ban Nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993. Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi
vào hoạt động.
Tên gọi : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Tên giao dịch quốc tế : Asia Commercial Bank
Tên viết tắt : ACB
Trụ sở chính : 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP. Hồ Chí
Minh
Website : www.acb.com.vn
Vốn điều lệ : 2.053.106.520.000 VND
%
Tổng tài sản
44.650,00
85.392,00
40.742,00
91,20%
Huy động khách hàng
29.395,00
55.283,00
25.888,00
88,18%
Tổng dư nợ tín dụng
17.365,00
31.974,00
14.609,00
84,13%
Thu dịch vụ
173,00
343,00
170,00
98,27%
Lợi nhuận trước thuế
687,00
2.127,00
1.440,00
209,61%
Nguồn: Báo cáo thường niên 2007 của Ngân hàng TMCP Á Châu.
ACB có nguồn vốn ổn định phục vụ cho hoạt động kinh doanh trong thời gian tới
từ việc phát hành trái phiếu trung dài hạn trị giá 4.170 tỷ đồng. Với lãi suất thấp và
không chịu dự trữ bắt buộc, trái phiếu phát hành qua hai đợt năm 2007 đã đáp ứng
chuyển đổi (đã thực hiện trong tháng 02/2008).
Ngoài ra, ACB còn thực hiện các chương trình và dự án trọng điểm, bao gồm:
Triển khai mô hình bán hàng trực tiếp toàn hệ thống.
20
Chuyển đổi cơ cấu tổ chức theo hướng tách bạch vai trò kinh doanh với vận
hành và tăng cường hệ thống kiểm tra kiểm soát.
Giới thiệu thêm các sản phẩm phục vụ nhu cầu tiết kiệm, vay vốn, và đầu tư của
khách hàng.
Tăng trưởng mạng lưới cả về số lượng chi nhánh, phòng giao dịch và địa bàn
hoạt động.
Do môi trường kinh doanh của năm 2008 thay đổi nhanh như dự báo, ACB nhận
thức được yêu cầu linh hoạt trong xây dựng các chương trình hành động ngắn hạn phù
hợp với diễn biến của thị trường, quyết liệt trong việc triển khai các dự án trọng điểm
và tận dụng tốt cơ hội.
Với nỗ lực chung của tập thể ACB, 2008 sẽ là năm kết thúc một cách trọn vẹn
chương trình hành động 5 năm 2004-2008, đồng thời tạo tiền đề thực hiện chiến lược
kinh doanh 2008-2010 đầy tham vọng mà ACB đã đặt ra với tầm nhìn đến 2015.
2.1.2 Giới thiệu ngân hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Ông Ích Khiêm
2.1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng TMCP Á Châu – chi
nhánh Ông Ích Khiêm
Chi nhánh Ông Ích Khiêm được thành lập theo quyết định số 1493/NHNN –
HCM 02 ngày 11/07/2005 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 25/11/2005. Chi
nhánh toạ lạc tại số 132 Ông Ích Khiêm, phường 5, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.
Số lượng nhân viên lúc mới đi vào hoạt động là 25 nhân viên, cùng với quá trình hoạt
động và phát triển số lượng nhân viên đã tăng, số nhân viên hiện nay là 40. Đa số nhân
viên tại Chi nhánh trẻ, năng động và nhiệt tình trong công việc.
Cho đến nay, Chi nhánh đã hoạt động được hơn 2 năm và đã đạt được nhiều
thành tựu như danh hiệu Chi nhánh đạt thành tích Giỏi hai năm liên tục 2006, 2007 và
nằm trong Top 20 trên 121 chi nhánh, phòng giao dịch của hệ thống Ngân hàng Á
Châu.
NHÂN
BỘ PHẬN
TÍN
DỤNG
DOANH
NGHIỆP
BỘ PHẬN
DỊCH VỤ
TÍN
DỤNG BỘ PHẬN
PHÁP LÝ
CHỨNG
TỪ
BỘ
PHẬN
HÀNH
CHÍNH
BỘ
PHẬN
GIAO
DỊCH
BỘ
PHẬN
TTQT
BỘ
PHẬN
2.1.2.3.2 Tình hình huy động vốn
Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả, phát triển và
bền vững thì ngân hàng phải có một nguồn vốn đủ mạnh và ổn định để đáp ứng kịp
thời các nhu cầu vay vốn của khách hàng cùng với việc mở rộng hoạt động đầu tư của
23
ngân hàng. Do đó, công tác huy động vốn luôn được xem là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của Ngân hàng Á Châu nói chung và chi nhánh Ông Ích Khiêm nói riêng.
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp tình hình huy động tại Chi nhánh Ông Ích Khiêm
năm 2006-2007
Đơn vị tính: Triệu đồng
STT
Chỉ tiêu
Năm 2006
Năm 2007
2007/2006
Doanh số
Tỷ
trọng
(%)
Doanh
số
Tỷ
trọng
(%)
+/-
%
1
Khách hàng
cá nhân, DNTN
245.299
khoản tiền gửi thanh toán và ký quỹ. Trong khi, đối với khách hàng là cá nhân thì số
dư tài khoản của của họ chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm nên số dư này luôn được duy trì
cao và ngày càng tăng.
Huy động từ khách hàng cá nhân và doanh nghiêp tư nhân năm 2007 tăng
270.901 triệu đồng so với năm 2006 (tăng 110,44%), chủ yếu là do số dư Tiền gửi tiết
kiệm tăng cao, số dư Tiền gửi thanh toán còn tương đối thấp chưa đạt mức kế hoạch
đặt ra và tỷ trọng tiền gửi của doanh nghiệp tư nhân còn thấp.
Huy động doanh nghiệp năm 2007 tăng 64.744 triệu đồng so với năm 2006
(tăng 149,33%). Do nguồn tiền gửi của khách hàng doanh nghiệp có tính ổn định
không cao. Đồng thời, do cơ cấu nợ vay hiện tại của chi nhánh là doanh nghiệp vừa và
nhỏ có nhu cầu vay cao nên số dư duy trì trên tài khoản của khách hàng không nhiều.
24
Nhìn chung, tình hình huy động vốn của chi nhánh vẫn tăng đều qua các kỳ
hoạt động, cụ thể năm 2007 tăng 335.944 triệu đồng so với năm 2006 (tăng 116,5%).
Sau hơn hai năm hoạt động, chịu sự cạnh tranh của rất nhiều chi nhánh khác
trong cùng hệ thống Ngân hàng Á Châu cũng như sự cạnh tranh gay gắt của các chi
nhánh thuộc những ngân hàng TMCP khác hoạt động trong cùng địa bàn với số lượng
ngày càng nhiều; bên cạnh còn có những yếu tố khách quan khác như vị trí của chi
nhánh nằm trong hẻm không được thuận lợi, khách hàng trên địa bàn quận 11 đa số là
người Hoa chủ yếu giao dịch tiền mặt, ít giao dịch tài khoản, hiểu biết về các sản phẩm
ngân hàng không nhiều cùng khuynh hướng duy trì quan hệ ổn định, lâu dài với các
ngân hàng đã giao dịch lâu năm và người Hoa cũng rất cẩn thận, thường so sánh lãi
suất giữa các ngân hàng nhưng Chi nhánh Ông Ích Khiêm vẫn thu hút được một lượng
tiền huy động tương đối lớn. Kết quả đạt được cho thấy, chi nhánh tuy còn rất non trẻ
nhưng đã bắt kịp đà phát triển chung của ACB. Đó là nỗ lực không ngừng của lãnh
đạo cùng toàn thể nhân viên tại Chi nhánh Ông Ích Khiêm, luôn có những kế hoạch,
chính sách hoạt động đúng đắn, phù hợp, luôn thể hiện sự năng động, nhiệt tình, chu
đáo và luôn tạo nên sự khác biệt, ấn tượng tốt đẹp với khách hàng đến giao dịch tại chi
nhánh.
2.1.2.3.3 Hoạt động tín dụng
90.869
51%
254.000
62%
163.131
179,52%
2
Khách hàng
doanh nghiệp
88.400
49%
156.500
38%
68.100
77,04%
Tổng cho vay
179.269
100%
410.500
100%
231.231
128,99%
Nguồn: Kết quả hoạt động tín dụng của Chi nhánh Ông Ích Khiêm năm 2006-2007.
Tỷ trọng giữa hai đối tượng khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp tư nhân và
khách hàng doanh nghiệp mà chi nhánh hiện đang cung cấp dịch vụ tín dụng là tương
đối cân bằng, tỷ lệ năm 2006 là 49% và 51%, sang năm 2007 tỷ lệ này có sự thay đổi
là 38% và 62%. Sự thay đổi tỷ lệ này là vì dư nợ của đối tượng khách hàng doanh
nghiệp giảm sút do tình hình nguồn vốn của họ vào cuối năm có biến động nên giảm
dư nợ vay đáng kể, nên sự thể hiện này có phần không chính xác. Nhưng ta có thể thấy
được qua số liệu của năm 2006, tỷ trọng phân phối giữa khách hàng cá nhân, doanh