B ộ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
KIỂM NGHIỆM MỘT s ố
D ư ợc LIỆU CÓ NHẦM LAN
BẰNG PHƯƠNG PHÁP HIEN VI
03 $ %r>
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHÓA 1996 - 2001)
Người hướng dẫn : TS. Qlạuụlễi <ViA Qkãn
PGS.TS Qtụuí/ễíi 3£ittĩ (^tín
Nơi thực hiện : Oìộ ỊHỖÌI dùọe liệu
• • • • •
Thời gian thực hiện : 2-5/2001
HÀ NỘI-5/2001 — r_
LC \X<K ýĩít.iẦ-í?ị
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xỉn bày tỏ lời cảm ơn
chân thành tới thầy:
TS. Nguyễn Viết Thân
PGS. TS Nguyễn Kim cẩn
đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghệp
này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các phòng ban đã
tận tình dạy bảo, giúp đỡ em trong những năm học qua.
Cuối cùng cho phép em được gửi lòng biết ơn tới gia đình, bạn
bè đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập.
Hà Nội ngày 20/5/2 001
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hương
MỤC LỤC
■ ■
Tài liệu tham khảo
32
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỂ
Ngày nay vói sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hầu hết các sản
phẩm đều có tiêu chuẩn chất lượng thường được công khai với tính cách là chỉ
tiêu, thông số kỹ thuật, và trong đó nhiều chỉ tiêu người tiêu dùng có thể dễ
dàng, trực tiếp "kiểm định" được. Thuốc chữa bệnh là một sản phẩm đặc biệt-
chỉ những cơ quan kiểm nghiệm vói trang thiết bị và cán bộ chuyên môn sâu
mới kiểm định được. Mặt khác, vì liên quan trực tiếp đến sinh mạng con người
nên về nguyên tắc, phải có tiêu chuẩn chất lượng toàn diện hơn, cao hơn và
phải được kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Nguyên tắc đó đã thực sự đi vào cuộc
sống đối với thuốc tân dược, nhưng còn quá nhiều bất cập đối với thuốc Đông
dược. Điều này có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Về mặt chủ quan, vấn đề chất lượng thuốc Đông dược hoàn toàn bị buông
lỏng, chưa được cơ quan quản lý nhà nước quan tâm một cách đầy đủ.
Chưa có các văn bản pháp lý qui định về thủ tục, chế độ kiểm soát buôn
bán trong nước và xuất nhập khẩu, cũng như các chế tài xử phạt các lỗi, tội
vi phạm.
+ Dược liệu trong nước tiêu thụ theo "tiêu chuẩn" cảm tính, kinh nghiệm
của người dùng là lang y hay nhà sản xuất và bệnh nhân. Số vị thuốc
không có TCCL chính thức (không ghi trong Dược điển, không có tiêu
chuẩn ngành) còn quá nhiều. Các chuyên luận dược điển số lượng ít mà
mỗi chuyên luận còn rất nhiều điều tranh cãi, chưa thoả đáng.
+ Thuốc Đông dược từ Trung quốc chiếm một tỷ lệ khá lớn. Chúng được
nhập không cần phép của cơ quan Y tế, hầu hết qua đường tiểu ngạch
từng lô hàng nhỏ, chất lượng không ai kiểm soát ngoài sự tự lựa chọn, tự
định đoạt của tư thương. Khâu tiêu thụ chỉ cần người mua (lang y và các
cơ sở sản xuất, kinh doanh Đông dược) tự chấp nhận. Không hề có cơ
quan, đơn vị, cá nhân nào chịu trách nhiệm "quản lý nhà nước" phân
định chân nguỵ, lại càng không có ai có quyền xử lý khi phát hiện có
Đối tượng nghiên cứu trong khóa luận này là một số dược liệu mang
tên:
1. Bối mẫu
2. Tam thất
3. Xương bồ
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Các mẫu nghiên cứu được quan sát kỹ đặc điểm hình thái bên ngoài,
nghiên cứu cấu tạo giải phẫu, bột của chúng. Với mỗi vị dược liệu tiến hành
theo các bước sau:
2.1 Thu mẫu và bảo quản:
Các mẫu dược liệu được mua ở các cửa hàng bán cho người bệnh và
cho các cơ sở sản xuất hoặc tại một số nơi trồng trọt, kinh doanh, chế biến
dược liệu, một số mẫu được sấy khô, bảo quản trong túi P.E, một phần thái
nhỏ nghiền bột, để trong lọ có nút kín.
2.2 Quan sát đặc điểm hình thái:
Dược liệu được quan sát bằng mắt thường về hình dạng kích thước,
màu sắc, thể chất.
2.3. Nghiên cứu cấu tạo giải phẫu:
❖ Vi phẫu:
Các bộ phận nghiên cứu được làm mềm trước (nếu cần thiết) bằng
nước hoặc cồn: nước : glycerin (1: 1 : 1), tuỳ tính chất từng dược
liệu.
3
Chọn một phần dược liệu có đặc điểm đặc trưng.
Tiến hành cắt bằng máy cắt mỏng cầm tay.
Sau đó các lát cắt được xử lý theo trình tự :
Tẩv sána:
Ngâm hoặc đun các lát cắt trong dung dịch cloramin 5 - 10% khoảng 2
- 5 phút từ lúc sôi, tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Rửa bằng nước cất nhiều lần đến hết cloramin.
Ảnh cây, dược liệu: Được chụp bằng máy ảnh thường, rửa ảnh, đưa
vào máy vi tính nhờ máy quét Scaner, xử lý bằng phần mềm chuyên
dụng, sau đó in ra giấy in thích hợp.
Ảnh vi phẫu, ảnh bột: Sử dụng kính hiển vi có video-camera để
chuyển trực tiếp hình ảnh của vi phẫu, của bột từ kính hiển vi vào
các file ảnh của máy vi tính với sự trợ giúp của một số phần mềm
thích hợp để hiệu chỉnh hình ảnh, sau đó in ra giấy in.
II. KẾT QUẢ THƯC NGHIÊM
1. BỐI MẪU
Dược điển Việt Nam II tập 2 quy định dược liệu dùng là thân hành đã
phơi hay sấy khô của hai cây Xuyên bối mẫu (Fritillaria roỵlei Hook.) và
Triết bối mẫu (Fridllaria verticillata Willd.), cùng họ Hành (Liliaceae).
Dự thảo Dược điển Việt Nam III (Phần thuốc cổ truyền) xếp Bối mẫu
thành hai chuyên luận riêng:
Triết bối mẫu là thân hành đã phơi hay sấy khô của cây Triết bối mẫu
(Fritillaria thunbergii Mig.), họ Hành (Liỉiaceae).
Xuyên bối mẫu là thân hành đã phơi hay sấy khô của cây Xuyên bối
mẫu (.Fritillaria cirrhosa D.Don), Ám tử bối mẫu (Fritillaria unibracteata
5
Hsiao et K.C.Hsia), Thoa sa bối mẫu (Fritillaria delavayi Franch.), Cam túc
bối mẫu (Fritillaria przewalskii Maxim.), họ Hành (Liliaceae).
Dược điển Trung Quốc ngoài những cây trên còn quy định Bối mẫu
chính phẩm được lấy từ các cây sau:
- Fritillaria ussuriensỉs Maxim. - Bình bối
- Fritillaria walujewii Regel. - Thiên sơn bối mẫu
- Fritillaria pallidiflora Schrenk. - Y bối mẫu
- Fritillaria hupehensis Hsiao et K.C.Hsia. - Hồ bắc bối mẫu. Loài
này phân bố và được sản xuất chủ yếu ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.
Chi Fritillaria hiện được biết có tới 80 loài [14] trong đó có khoảng 13
loài mang tên Bối mẫu [20]. Hiện ta vẫn phải nhập dược liệu này từ Trung
2-3,5 cm. Bên ngoài có màu trắng đến vàng nhạt. Bên trong có màu trắng
đến nâu nhạt. Hành phủ phấn trắng. Chất cứng, giòn, dễ gẫy, mặt gẫy có
màu trắng đến trắng ngà, nhiều tinh bột. Mùi nhẹ, vị hơi đắng [10].
Chu bối: Củ hình cầu dẹt, cao 1- 1,5 cm, đường kính 1- 2,5 cm bên
ngoài hơi trắng, hai vẩy ngoài dày hình thận dính vào nhau, có hai đến ba
vẩy nhỏ có vết rõ của thân khô co lại [10].
Triết bối phiến: Những lát thái từ vẩy ngoài vào trong củ Bối mẫu có
hình bầu dục hoặc hơi tròn, đường kính 1-2 cm. Mặt cạnh có màu vàng
nhạt. Mặt bẻ có màu trắng hồng, nhiều tinh bột [10].
Đặc điểm bột
7
Trắng ngà nhiều hạt tinh bột đơn, hình trái xoan hoặc bầu dục, đường
kính 6-56 Ịim rốn hơi nhọn, hình chữ V hoặc chữ Ư, phần cuối thu nhỏ
lại, đa số có vân rõ. Thỉnh thoảng thấy có hạt kép gồm có 2 phần hợp
thành. Tế bào biểu bì, hình nhiều cạnh hoặc hình chữ nhật, vách nếp lồi,
đôi khi trông rõ lỗ khí với 4 - 5 tế bào phụ. Tinh thể calci oxalat nhỏ, đa
số dạng hạt, một số ít hình thoi, hình vuông hoặc hình que. Đa số mạch
xoắn, đường kính tới 18 |im [10].
b. Xuyên bối mẫu
Đặc điểm bên ngoài
Tùng bối: Hình chuỳ hoặc hình cầu, cao 0,3 - 0,8 cm, đường kính 0,3 -
0,9 cm. Bên ngoài màu trắng ngà, 2 vẩy ngoài kích thước rất khác nhau.
Vẩy ngoài lớn hơn bao lấy vẩy trong nhỏ hơn, phần vẩy không bị bao bọc
có hình lưỡi liềm. Đỉnh thân hành kín, chồi hình cầu hơi thon, trong có 1
đến 2 vẩy nhỏ. Đầu tù hoặc hơi nhọn, đáy bằng, hơi lõm, ở giữa có chấm
tròn màu nâu xám, thỉnh thoảng thấy vết tích rễ sợi. Chất cứng, giòn, vết
bẻ trắng, có chất bột. Vị hơi đắng [10].
Thanh bối: Tròn dẹt, cao 0,4 -1,4 cm, đường kính 0,4 - 1,6 cm. Có hai
vẩy ngoài đồng dạng, bọc lấy nhau. Đỉnh mở ra, có chồi và 2 - 3 vẩy nhỏ
bên trong, có vết tích của thân, hình trụ, mảnh khảnh [10].
chúng tôi thu được nhiều mẫu khác nhau. Sau khi quan sát kỹ hình dạng,
kích thước của các mẫu dược liệu, chúng tôi tạm chia các mẫu dược liệu
theo 6 nhóm, mỗi nhóm mang tên thương phẩm thường dùng trên thị trường
(Ảnh 1).
Đặc điểm bên ngoài
9
Dược liệu là những củ hình cầu dẹt có đường kính 2 - 4 cm, cao 1 - 2,5
cm. Mặt ngoài và mặt trong đều có màu trắng ngà hai vẩy ngoài to, dày
ôm lấy nhau và ôm lấy vẩy nhỏ bên trong. Chất mềm, dễ bẻ, mặt bẻ
ngang có màu trắng, nhiều bột. Đôi khi còn lại vết tích của rễ.
Nhóm B (Triết bối mẩu):
Dược liệu là những củ hình cầu dẹt có đường kính 1,5 - 2,5 cm, cao 1 -
1,5 cm. Mặt ngoài có màu vàng nhạt hai vẩy ngoài hình thận ôm khít
nhau và bao quanh một số vẩy nhỏ bên trong. Chất cứng, dễ gãy, mặt bẻ
ngang có màu trắng ngà, nhiều tinh bột. Còn lại vết của rễ co lại.
Nhóm c (Xuyên bối mẫu):
Dược liệu là những củ hình cầu dẹt có đường kính 0,3 - 0,6 cm, cao 0,3 -
lcm. Bên ngoài màu trắng ngà hai vẩy giống nhau hoặc vẩy to ôm lấy
*»
vẩy nhỏ, bên trong còn lại vết tích của thân. Đỉnh mở hoặc hàn kín, đáy
thường lõm, còn vết tích của rễ.
Nhóm D (Xuyên bối mẫu-Triết bối mẫu):
Dược liệu là những củ hình cầu dẹt hoặc hình chuỳ có đỉnh mở hoặc khép
kín, đường kính 0,3 - 1 cm, cao 0,4 - 1 cm. Bên ngoài màu trắng ngà,
chất cứng, dễ bẻ, mặt bẻ ngang có màu trắng nhiều tinh bột. Đôi khi còn
vết tích của thân hình trụ, thanh mảnh.
Nhóm E (Xuyên bối mẫu-Triết bối mẫu)\
Dược liệu có hình chuỳ hoặc hình cầu cao 0,2 - 1 cm, đường kính từ 0,3
- 0,8 cm. Hai vẩy ngoài to nhỏ khác nhau màu trắng ngà ôm lấy nhau,
vẩy nhỏ có hình trứng hơi cong về một phía. Đỉnh thân hành hàn kín, bên
mm
Rốn hình chấm
Vân kẻ rõ
c (Ảnh5)
Đa số hình trứng,
số ít hình tròn hơi
méo
0,008 + 0,060
mm
Rốn hình chấm, hình
khe rách
Vân kẻ rõ
D (Ảnhổ)
Hình trứng
0,0104-0,040
mm
Rốn hình vạch
Vân mờ
E (Ảnh7)
Hình trứng
0,005-0,030
mm
Rốn hình khe mảnh
Vân mờ
G (Ảnh 8)
Hình trứng hoặc
hình tròn
0,004 4- 0,030
mm
Rốn hình vạch nhỏ
tam thất [8].
Chi Panax hiện được biết có khoảng 14 loài trồng và mọc hoang [2],
một số loài trong chi đã được phát hiện dùng để thay thế Tam thất như: Tam
thất hoang còn gọi Tam thất lá xẻ, Vũ diệp tam thất, Sâm vũ diệp (Panax
bipinnatifidus Seem = Panax japonicus C.A.Mey.var. bipinnatifidus (Seem)
C.Y.Wu et Feng ex c. Chow et all) cũng có thành phần hoá học chứa Saponin
[1].
Theo một số tài liệu có các loài sau thường hay được dùng để thay thế
hoặc giả mạo Tam thất:
14
- Thân rễ khô của cây Trúc tiết sâm (Panax japonicum C.A.Mey) họ Ngũ gia
bì (Araliaceae) [18].
- Thân rễ của cây Chu tử sâm hay còn gọi là Chu sâm, Thổ tam sâm, Ngật đáp
thất, Khấu tử thất (Panax japonicum C.A.Mey. var. major (Burk) C.Y.Wu et
K.M.Freng), họ (Araliaceae) [18].
- Thân rễ khô của cây Cúc diệp tam thất hay Cúc tam thất, Thổ tam thất, Thuỷ
tam thất {Gynus segetum (Lour.) Merr.), họ Cúc ị.Asteraceae). Cây được trồng
chủ yếu ở vùng Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Châu, Quảng Tây, Giang Tô
Trung quốc [18]. ở nước ta nhân dân một số nơi thường dùng rễ của cây Thổ
tam thất (Gynura pseudochina D.c = Cacalia bulhosa Lour), họ Cúc
(Asteraceae ), làm thuốc bổ cho phụ nữ mới sinh thay Tam thất. Ngoài ra vị
này còn dùng để chữa sốt [7].
- Toàn cây, thân rễ hoặc rễ của cây Thiên tam thất (Sedum aizoon L.), họ
Thuốc bỏng (Crassulaceae). Cây này có ở Giang Tô, Triết Giang [18].
- Thân rễ khô đã qua chế biến của cây Curcuma Kwangsiensis s.lee et
C.F.Liang ; Curcuma wenyujin Y.H.chen et C.Ling; Curcuma zedoaria
Rose, thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) [18].
- Thân đã qua chế biến của cây Bạch cập (,Bletilla striata (Thb.) Reichb f.) họ
Lan (Orchidaceae) [18].
- Cây Chu nha khô hay Đằng tam thất (Boussingaultia gracilis Miers var.
[11].
Tam thất có tác dụng chính là bồi bổ cơ thể, cầm máu, làm lưu thông
máu, chống ứ trệ, ngoài ra còn có tác dụng giảm đau, an thần, chống viêm,
chống ung thư [13].
16
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Chúng tôi tiến hành làm vi phẫu, soi bột vị thuốc Tam thất trên thị
trường (Tam thất bắc). Đồng thòi tiến hành tương tự với Tam thất gừng, Thổ
tam thất để bổ sung thêm một số tiêu chuẩn kiểm nghiệm phân biệt các vị
dược liệu này.
❖ Tam thất bắc
Đặc điểm bên ngoài:
Rễ củ có hình con quay hoặc hình trụ, dài 2- 4 cm, rộng 1-2,5 cm. Mặt
ngoài màu vàng tro, nhẵn bóng, có nhiều nếp nhăn dọc, trên thân củ có mang
những củ nhỏ và còn vết tích của rễ con sót lại (Ảnh 9). Mặt cắt ngang nhìn rõ
hìnhftỉajtoả tròn của mạch gô.
Đặc điểm vỉ phẫu:
Mặt cắt có hình chữ nhật. Từ ngoài vào trong có: Lớp bần cấu tạo bởi 4
-5 hàng tế bào hình chữ nhật. Mô mềm là những tế bào thành mỏng, các tế
bào bên ngoài bị ép bẹp. Libe rất phát triển kéo dài gần sát bần, rải rác trong
libe có các ống tiết xếp dọc từ ngoài vào trong. Tầng phát sinh libe-gỗ gồm vài
hàng tế bào xếp thành vòng tròn liên tục. Gỗ gồm những mạch gỗ xếp thành
hàng nằm trong mô mềm gỗ không hoá gỗ. Mô mềm ruột là những tế bào
hình nhiều cạnh, kích thước tương đối lớn xếp lộn xộn (Ánh 10).
Đặc điểm bột:
Bột có màu vàng nhạt, mùi đặc trưng, vị đắng sau ngọt.
Soi dưới kính hiển vi thấy: Hạt tinh bột hình tròn, đa số là hình khối
nhiều mặt, đường kính từ 0,005-0,017mm đứng riêng lẻ có khi kép 2,3,4
hoặc tập trung thành khối (3). Mảnh bần gồm nhiều tế bào hình chữ nhật có
màu nâu (1). Mảnh mô mềm là những tế bào hình đa giác đôi khi có mang các
Bột:
Bột có màu vàng nhạt, vị đắng, mùi thơm nhẹ. Quan sát dưới kính hiển
vi thấy: Hạt tinh bột đơn hình trứng to nhỏ không đều, kích thước từ 0,001-
0,015 mm, ở những hạt lớn nhìn rõ rốn hạt hình chấm hay hình vạch, vân tăng
trưởng đồng tâm (3). Mảnh mô mềm, mảnh mô mềm mang tinh bột (3). Túi
tiết tinh dầu hình trứng màu vàng nhạt (2). Mảnh mạch xoắn hay mạch vạch
(4). Sợi xếp thành từng bó hoặc nằm đơn lẻ (5). (Ảnh 16)
19
■ iTi jg I IT 'SC'i : » . /
*“”*11 " " , - - r_v ^ .V* -n-V
’' >Vy>s -
N*^C
c
£*’-210^ v<r * ^ *s t > y y vjy
VcD _ V
« M i r / '
4*ằ 1 1 .
ffW f
20