Nghiên cứu sản xuất và tác dụng sinh học của chế phẩm nước thơm súc miệng dạng đậm đặc - Pdf 29

Bộ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
HOÀNG HỒNG HẢI
NGHIÊN cứu SẢN XUẤT VÀ TÁC DỤNG SINH HỌC
CỦA CHÊ PHẨM NƯỚC THƠM súc MIỆNG
DẠNG ĐẬM ĐẶC.
(KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược SỸ KHOÁ 1996 - 2001)
Người hướng dẫn : GVC NGUYỄN DUY THIỆP
GVC NGUYỄN LỆ PHI
Nơi thực hiện : Bộ MÔN HOÁ SINH
BỌ MÔN VI SINH HỌC
Thời gian thực hiện: Từ 3-5/2001
Hà nội, 5-2001 „
L C t y / A ịọ.o^x
ị ■' -' * ' " \ r • . »
I '•> ■■■, í' L ? : ị
JLỜ2 & ẤM ƠQi
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, Dược sỹ
Nguyễn Duy Thiệp, cô giáo Nguyễn Lệ Phi đã trực tiếp hướng dẫn và định
hướng cho em trên lĩnh vực nghiên cứu khoa học để hoàn thành bản luận văn
tốt nghiệp này.
Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy Chủ nhiệm Bộ môn,
PGS, TS Nguyễn Xuân Thắng đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình
nghiên cứu đề tà i.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô phòng Kiểm nghiêm Đông Dược,
Viện Kiểm Nghiệm Bộ Y Tế đã giúp đỡ em hoàn thành thực nghiệm.
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo và các cô kỹ thuật viên Bộ môn
Hoá Sinh và Bộ môn Vi Sinh Học đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt
quá trình thực hiện đề tài.
Nhân dịp này, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Đảng Uỷ Nhà
Trường , cùng toàn thể các thầy cô giáo, các phòng ban đã tận tình dìu dắt em

2.2. Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn 21
3. Thử sơ bộ trên lâm sàng 24
B KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 25
1. Nghiên cứu sản xuất chê phẩm "Nước thơm súc 25
miệng dạng đậm đặc"
1.1. Chất lượng thành phẩm 25
1.2. Độ trong 25
1.3. Thể tích 25
1.4. Định tính 25
1.5. Định lượng 28
1.6. Nghiên cứu độ ổn định của thuốc 28
2. Nghiên cứu tác dụng sinh học 29
2.1. Nghiên cứu tác dụng của dạng chế phẩm pha loãng 29
với màng hồng cầu
2.2. Nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn 30
3. Thử sơ bộ trên lâm sàng 32
PHẦN IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUÂT 35
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN I- ĐẶT VẤN ĐỂ
c on người là tài sản vô giá, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi
quốc gia.
Sức khỏe là vốn quý của con người. Việc chăm sóc sức khoẻ con người
chính là góp phần đắc lực trong việc phát triển kinh tế xã hội của mỗi đất
nước.
Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu là trách nhiệm của mọi cấp, mọi
ngành, mọi người và của toàn xã hội, trong đó ngành y tế là lực lượng chủ đạo
về chuyên môn kỹ thuật.
Chăm sóc sức khoẻ ban đầu phải từ nhận thức của mỗi người dân, hiểu
biết tự tạo ra, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của mình, gia đình mình và cho

2
II. TỔNG QUAN
díDác bệnh về răng miệng rất phổ biến trên thế giới và Việt Nam. Tỷ lệ
mắc bệnh cao.
Việc chăm sóc, phòng bệnh răng miệng cho cộng đồng đặc biệt là cho
trẻ em đã được nhiều nước trên thế giới và trong khu vực quan tâm.Tại Mỹ
người ta dùng íìuor để phòng bệnh sâu răng từ những năm của thập kỷ 40[30].
Từ đó cho đến nay, công tác chăm sóc, phòng bệnh răng miệng ngày càng
được quan tâm, phát triển và đã đem lại kết quả phòng bệnh to lớn cho nhân
loại.
Tại các nước công nghiệp phát triển như úc, Bắc Âu, Mỹ tình hình sâu
răng vĩnh viễn ở trẻ em trước đây rất trầm trọng. Năm 1969 trung bình mỗi trẻ
em trên 12 tuổi có 6,5 răng bị sâu vĩnh viễn ( DMFT > 6,5). Nhờ công tác
phòng bệnh với các nội dung như hướng dẫn vệ sinh răng miệng, sử dụng
fluor, dùng kỹ thuật trám bít hố rãnh răng cho trẻ em nên bệnh sâu răng ở các
nước này giảm xuống rất nhiều. Năm 1994 chỉ số DMFT ở trẻ em 12 tuổi đã ở
dưới mức 3 và năm 1999 có nhiều nơi đã ở dưới mức 1. Kết quả này đã được
xem là một trong các thành công lớn trong công tác phòng bệnh của thế
kỷ.[ll;30]
ở các nước trong khu vực, công tác chăm sóc , phòng bệnh răng miệng
cũng rất được chú trọng .Tại Malaysia đã có nhiều dự án đưa nguồn fluor vào
nguồn nước ăn cho cộng đồng, xây dựng các phòng chăm sóc răng miệng cố
định tại các trường tiểu học có cán bộ và trang thiết bị nha khoa để chăm sóc
thường xuyên cho trẻ em. Ngoài ra còn có các hoạt động hướng dẫn chăm sóc
răng miệng cho phụ nữ có thai và cho con bú, chương trình hướng dẫn chăm
sóc răng miệng tại nhà( home visit): sử dụng các biện pháp thường xuyên như
kem đánh răng, thuốc súc miệng
3
Tại Singapore, những năm của thập kỷ 60 chỉ số DMFT ở trẻ em 12 tuổi
là trên 3 thì đến tháng 4 năm 1999 chỉ số này đã được giảm xuống 0,4. [11 ]

như sau:
Men vi khuẩn : + glucid lên men
► Acid
Acid + răng

► Tiêu calci
Acid sinh ra từ sự lên men chất đường do vi khuẩn sẽ gây mất khoáng
của cấu trúc răng và gây sâu răng. Acid thấm qua mảng bám đến bề mặt răng
và làm hoà tan chất khoáng của hydroxy apatit. Trước khi có sự tạo lỗ sâu,
trên men răng xuất hiện một đốm trắng có bề mặt xốp chứa nhiều chất
khoáng. Tổn thương này có thể tái khoáng được bằng các dịch canxi hoá và
dịch miệng[15]. Sâu răng là một bệnh diễn biến theo một quá trình liên tiếp có
sự mất khoáng và tái tạo khoáng .
Sâu răng = Mất khoáng > Tái tạo khoáng .
Mảng bám cũng là nguyên nhân gây bệnh sâu răng và nha chu [6].
Gần đây người ta thấy rằng, mảng bám là do đám vi khuẩn dính vào nhau bởi
nước bọt và sau đó dính vào răng. Mảng bám răng dày là do vi khuẩn (liên cầu
khuẩn, các loại tụ cầu và một số vi khuẩn khác) và đường dextran. Vi khuẩn
chiếm 70% trọng lượng mảng bám răng. Nhiệt độ cơ thể thích hợp cho vi
khuẩn phát triển.
Từ khoảng ngày thứ 14 kể từ lúc có mảng bám răng thì calci đóng lại,
men vi khuẩn kết tủa pyprophosphat tạo thành cao răng gây sâu răng
Ngoài ra còn có ảnh hưởng của các yếu tố khác như vòng tròn chất nền
(substrate), nhấn mạnh vai trò của nước bọt (chất trung hoà - buffers) và pH
của dòng chảy môi trường xung quanh răng. pH vùng trao đổi quanh răng thấp
4,5^5 sẽ gây tổn thương dưới bề mặt, thiếu nước bọt hay nước bọt acid do
acid từ dạ dày tràn lên miệng làm giảm pH .[6]
5
Căn nguyên của sâu răng được thể hiện trong sơ đồ sau (9)
[Răng : độ tuổi, fluorid , dinh dưỡng , các vi tố (trace element ) ]

răng [12]. Nhiễm khuẩn răng miệng là cửa ngõ của vi khuẩn đi vào cơ thể
gây nên một số bệnh quan trọng khác: Một nghiên cứu mới đây ở Mỹ cho
thấy số tai biến mạch máu não không xuất huyết tăng gấp đôi ở những người
bị viêm hay nhiễm trùng nha chu. Trong vùng bị hư , kể cả răng bị hư, hình
thành một số chất tạo thuận lợi cho sự viêm nhiễm hay sự đông máu. Các chất
này được dòng máu chuyển đi đến não và tim và có thể gay tai biến ở đó.[7]
Ba yếu tố chính gây bệnh sâu răng là men răng, thực phẩm, vi khuẩn.
Muốn loại bỏ được bệnh sâu răng và các bệnh răng miệng khác, người ta
không thể giải quyết bằng phương pháp điều trị được vì con số bệnh nhân qúa
nhiều, đòi hỏi nhân lực chuyên môn lớn và rất tốn kém.
Chính vì vậy biện pháp phòng ngừa xoay quanh một trong ba mục tiêu sau
là phương hướng đúng đắn và hiệu qua. [30]
1. Tăng sức đề kháng của răng nhờ các loại Fluor
Fluor là một trong những nguyên tố vi lượng của men răng. Trước đây
người ta cho rằng fluor có tác dụng giảm sâu răng do sự hình thành các tinh
thể fluor apatit khiến cho răng đề kháng tốt hơn với vi khuẩn mảng bám.
7
Những năm gần đây, người ta đã chứng minh qua nghiên cứu, đó chỉ là một
trong những cơ chế tác dụng của fluor và có lẽ cũng không phải là cơ chế
chính. Fluor tham gia, hỗ trợ vào quy trình tái khoáng hoá là quy trình thay
thế khoáng chất bị mất bằng canxi và phosphat của nước bọt xảy ra ở pH trung
hoà . Từ lâu đã có những chứng cớ rất thuyết phục cho là fluor có ảnh hưởng
rất lớn đến quá trình mất khoáng và tái khoáng của mô cứng răng và cản trở
sự tạo acid của vi khuẩn gây sâu răng. Khi có sự hiện diện của fluor ,tổn
thương sâu men sẽ ngưng hoạt động và có sự hình thành một lớp cứng ở bề
mặt men [15] . Như vậy tái khoáng hoá ở giai đoạn sớm sẽ làm ngưng sự tiến
triển của sâu răng và làm lành thương .
Hơn nữa fluor ức chế sự phát triển của vi khuẩn sinh sâu răng
Tóm lại fluor có tác dụng qua các cơ chế sau[20;21;30]:
- Tăng sức đề kháng của men răng.

liệu tạo mùi thơm cho dung dịch. Là chất có tác dụng tại chỗ, bốc hơi rất
nhanh, cây có cảm giác tê mát, tác dụng sát trùng mạnh được dùng nhiều
trong các chế phẩm chữa bệnh răng hàm mặt.
Các loại tinh dầu Quế, Hồi cũng có tác dụng sát trùng, sát khuẩn và
được sử dụng để điều hương.Tinh dầu Quế còn có tác dụng kháng nấm rất tố t,
đặc biệt là trên Aspergilus và Candida albican.[13;16;17]
Borneol hay Borneo - Camphor có nhiều trong cây Đại bi (Blumea
balsamifera Asteraceae) hay còn gọi là long não hương có tác dụng chữa đau
cổ họng, cấm khẩu, đau răng[ 13; 16; 17]
Tinh dầu Đinh hương (Aetheroleum Caryophylli) được chiết xuất từ cây
Đinh hương có chứa 80- 85% Eugenola được dùng làm thuốc chữa cam răng,
9
có tác dụng sát trùng mạnh. Tinh dầu Đinh hương còn được dùng trong nha
khoa để làm thuốc tê, và để diệt tủy răng. [13; 16; 17].
Đây là những loại tinh dầu quý mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước và
con người Việt Nam. Với tinh thần tự lực cánh sinh, việc khai thác triệt để
nguồn dược liệu này đưa vào sản xuất, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong
nước, không bị phụ thuộc vào việc nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài, sẽ có
ý nghĩa lớn về chính trị, khoa học và kinh tế .
Nghiên cứu phối hợp các thành phần này trong một chế phẩm sẽ tạo nên
tác dụng hiệp đồng làm tăng tác dụng và hiệu quả điều trị của chế phẩm nước
súc miệng.
Trong phạm vi đề tà i, chúng tôi đi sâu vào cách phòng bệnh theo hướng
thứ ba.
4. Một sô công thức nước súc miệng dạng đậm đặc được sử dụng ở Việt Nam
( có sử dụng những thành phần như đã nêu trên ).
Chúng tôi xin giới thiệu một số công thức:
• Thuốc súc miệng BBM:[20]
Thành phần:
Natri borat

khoa .
• Hexapray:[3]
Thành phẩn:
Biclotymol
Alcol benzylic
Tinh dầu hồi
Alcol 95°
Chế phẩm: Thuốc phun họng dạng khí nén
Tác dụng: Kháng khuẩn, kháng viêm.
Đây là những cơ sở ban đầu giúp chúng tôi trong quá trình nghiên cứu xây
dựng công thức.
11
Việc tuyên truyền giáo dục cho mọi người dân biết rằng bệnh sâu răng
và các bệnh răng miệng khác là cần thiết, có thể phòng và tránh được để tự
mình sử dụng những biện pháp phòng bệnh cho chính mình, cho gia đình và
cho cả cộng đồng. Tất cả chúng ta đều biết mục tiêu “Sức khoẻ cho mọi
người ” không chỉ được thực hiện bằng phương pháp điều trị, đối với bất cứ
bệnh nào, sức khoẻ răng miệng cũng vậy. Chúng ta bắt buộc phải nghĩ đến
phòng bệnh .
Như vậy, cách phòng bệnh sâu răng, nha chu bằng nước súc miệng là
phương pháp mang tính cộng đồng cao, hiệu quả về mặt kinh tế, góp phần
đáng kể giảm bớt được tỉ lệ người mắc các bệnh răng miệng.
12
PHẦN III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ ư VÀ KÊT QUẢ
THỰC NGHIỆM
A. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cúu
1. NGHIÊN c ú u SẢN XUẤT CHẾ PHAM n ư ớ c t h ơ m sú c m iệ n g
DẠNG ĐẬM ĐẶC
Qua quá trình sàng lọc các công thức và nghiên cứu tác dụng của từng
hoạt chất. Chúng tôi đã xây dựng công thức “Nước thơm súc miệng dạng đậm

Không dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi.
1.3.4. Bảo quản:
Dùng xong vặn chặt nút lọ, để nơi khô ráo, thoáng, mát và tránh xa tầm
với của trẻ em.
1.4. Đặc điểm nguyên liệu
- Acid boric đạt TCVN 422 - 70, DĐVN I, tập I
Nguồn cung cấp: Công ty Dược phẩm Trung Ương I
- Menthol (Mentholum) đạt TCVN 708 - 70, DĐVN I, tập I
- Borneol (Borneo - Camphor) đạt TCVN - 70, DĐVN I, tập I
- Tinh dầu Quế (Aetherolum Cinamomi) đạt TCVN 892 - 70, DĐVNI, tập I
- Tinh dầu đinh hương (Aetherolum Caryophylli) đạt TCVN 887-70,
DĐVNI, tập I.
- Tinh dầu Hồi (Aetherolum Anisi Stellati) đạt TCVN 889 -70, DĐVN I,
tập I.
- Tá dược loại dược dụng
Các loại tá dược, tinh dầu được cung cấp bởi công ty Dược liệu Trung Ương I,
có phiếu kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn DĐVN. Nếu mua nguyên liệu từ các cơ
sở sản xuất (nông dân) thì phải tiến hành kiểm nghiệm từng nguyên liệu theo
TCDĐVN.
Những tinh dầu chưa đạt yêu cầu phải tinh chế lại như:
- Loại nước
- Kim loại nặng
- Xà phòng hoá tinh dầu
trước khi đưa vào sản xuất
14
1.5. Sơ đồ các giai đoạn sản xuất
Các tinh dầu
Acid boric/ cồn
M enthol
borneol

Bình Cassia 100 ml
5c
5c
10c
Bình nón, đũa thuỷ tinh, và các dụng cụ thuỷ tinh khác
1.7. Mô tả quy trình sản xuất
1.7.1. Chuẩn bị nguyên liệu
Chuẩn bị nguyên liệu : Menthol, Bomeol, tinh dầu Đinh hương, Quế, Hồi, tá
dược đạt tiêu chuẩn như đã nêu trong mục 1.4
1.7.2. Tiến hành pha chê
- Cân Menthol, Bomeol ( loại dược chất rắn) vào thùng pha chế có dung tích
thích hợp, đánh đều cho chảy. Sau đó đóng tiếp dần dần lần lượt các loại
tinh dầu Đinh hương, Quế, Hồi, trộn đều cho tan hoàn toàn.
- Cho cồn mùi vào hỗn hợp tinh dầu trên, trộn đều.
- Cân Acid boric, đong cồn. Hoà tan acid boric trong cồn. Cho từ từ cồn này
vào hỗn hợp tinh dầu trên, khuấy đều thu được hỗn hợp cồn - tinh dầu.
- Chuẩn bị dung dịch tá dược.
- Cho từ từ hỗn hợp cồn - tinh dầu vào dung dịch tá dược, khuấy đều ta thu
được hỗn hợp nước súc miệng.
- Lọc nước súc miệng qua 2 lớp vải phin hay vải dù, kiểm soát độ trong,
kiểm tra bán thành phẩm và đóng vào lọ.
1.7.3. Đóng gói
Hiện nay, đại bộ phận các đơn vị trong ngành đang dùng phương pháp
đóng gói thủ công, dùng áp suất thuỷ tĩnh để đóng nước súc miệng vào lọ.
Đóng gói xong đều phải qua các khâu kiểm soát kiểm nghiệm các tiêu chuẩn
chất lượng. Nếu đạt yêu cầu, xúc tiến hoàn chỉnh việc đóng gói, bao bì để xuất
xưởng.
Mỗi lọ đóng gói 20ml nước súc miệng. Từng lọ đựng trong hộp giấy và có toa
hướng dẫn sử dụng.
1.7.4. Nhãn: đúng quy chế

Ị ịAO.oV
17 I i :
ị o
ỉ 1
b. Định tính bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng[25]
♦♦♦ Lớp mỏng: Silicagen G (Viện Kiểm Nghiệm) hoạt hoá 120°c trong một
giờ, kích thước bản mỏng:,10 X 20cm, 5x 20cm.
*x* Dung môi khai triển : Benzen: Ethylacetat (95:5)
♦t* Thuốc hiện màu: Dung dịch vanilin sulfuric 2 phần trăm.
Dung dịch 2,4 dinitrophenyl hydrazin (TT) (2,4 DNPH)
*ĩ* Dung dịch mẫu đối chiếu:
+ Dung dịch menthol: 0,iml menthol hoà tan trong 5ml cloroform.
+ Dung dịch hồi: 0,1 ml tinh dầu hồi hoà tan trong 5ml cloroform.
+ Dung dịch tinh dầu đinh hương: 0,lml tinh dầu đinh hương hoà tan
trong 5 ml cloroform.
+ Dung dịch tinh dầu quế : 0,1 ml tinh dầu quế hoà tan trong 5ml
cloroform.
+ Dung dịch borneol: 0,lg bomeol hoà tan trong 5ml cloroform
❖ Dung dịch mẫu thử: 0,2ml chế phẩm thử hoà tan trong lml cloroform.
Triển khai sắc ký trên 2 bản. Để khô ở nhiệt độ phòng và phun thuốc hiện
màu:
Bản ỉ: Phun thuốc thử hiện màu vanilin trong acid sulfuric. Sấy khô bản
mỏng ở 110°c trong 5 phút.
Bản 2: Phun thuốc thử hiện màu 2,4 DNPH.
Kết quả mẫu thử có các vết cùng màu sắc và cùng Rf với mẫu đối chiếu.
1.9.5. Định lượng[l2b]:
ở đây , chúng tôi chỉ xác định hàm lượng tinh dầu toàn phần
Dùng pipet chính xác hút 5ml chế phẩm thử vào bình Cassia dung tích lOOml.
Cho vào bình 50ml nước muối bão hoà, lắc đều, thêm từ từ dung dịch nước
muối bão hoà để đẩy hỗn họ'p tinh dầu lên cổ bình và lắc nhẹ.

Heparin dùng trong y học
Máu người khoẻ mạnh
Nước cất
2.1.2. Dụng cụ
Máy ly tâm
Máy đo quang Trung quốc T22
Dụng cụ thuỷ tinh
2.1.3. Thuốc thử
Pha đệm nhược trương
Cân chính xác 3,21g NaCl và l,42g Na2HP04 ,thêm nước vừa đủ 1000ml nước
cất ta được 1 lít đệm nhược trương NaCl 55mM trong đệm phosphat lOmM,
pH=7.0.Điều chỉnh pH bằng NaOH IN và HC1 IN.
# Dung dịch thử: Hoà đều 4 giọt chế phẩm đậm đặc trong 30ml nước cất thu
được dung dịch thử.
V Nhũ dịch hồng cầu[18]:
Máu người khỏe mạnh đã được chống đông bằng heparin, ly tâm ở tốc
độ 3000 vòng/phút trong thời gian 30 phút. Loại bỏ huyết tương.
Rửa hồng cầu bằng nước muối sinh lý 9%0 3 lần để loại bỏ protein.
Sau mỗi lần rửa đều li tâm với tốc độ 3000 vòng/phút trong 15 phút. Hồng cầu
sau khi loại bỏ hết protein được tạo thành nhũ dịch bằng nước muối sinh lý
9%0. Chú v: Sau khi tạo thành nhũ dịch hồng cầu đem chia vào các lọ nhỏ,
bảo quản trong tủ lạnh. Trước khi dùng cẩn lắc đều (nếu có mùi thối phải bỏ
đi).
20
2.1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật xác định
nồng độ Hemoglobin giải phóng ra từ hồng cầu[3;28;30]: 0,2ml hỗn dịch
hồng cầu đã được xử lý ở trên, ủ trong môi trường nhược trương 4,6ml NaCl
55mM trong đệm phosphat lOmM pH = 7,0 với sự vắng mặt và có mặt chất
thử tác dụng ở các nồng độ khác nhau. Để yên hỗn hợp này ở nhiệt độ phòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status