NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÊNH LỆCH KIỂM TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH HÀ THỊ LAM
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÊNH LỆCH
KIỂM TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT VIỆT NAM:
XU HƯỚNG VÀ MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. H Chí Minh - Năm 2014
LI CAM OAN
Tôi xin cam oan ây là công trình nghiên cu ca riêng tôi. Các s liu, kt qu
nêu trong lun văn là trung thc và chưa tng ưc ai công b trong bt kỳ công trình
nào khác.
Các s liu, kt qu do trc tip tác gi thu thp, thng kê và x lý. Các ngun d
liu khác ưc tác gi s dng trong lun văn u có ghi ngun trích dn và xut x.

TP. H Chí Minh, ngày 15 tháng 06 năm 2014
Ngưi thc hin lun văn

Hà Thị Lam MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦ U 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

3
.1.2.1 Cơ cấu công ty và các biến liên quan đến HĐQT 22
3
.1.2.2 Biến công ty kiểm toán 25
3
.1.2.3 Biến tỷ số đòn bẩy tài chính 26
3
.1.2.4 Khả năng sinh lời trên Tài sản (ROA) 27
3
.1.2.5 Bin quy mô công ty 28
3
.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3
.2.1 Mu công ty nghiên cu 28
3
.2.2 Phương pháp nghiên cu 30
3
.2.2.1 Kim nh Chi - bình phương 31
3
.2.2.2 Kim nh phương sai (ANOVA) 32
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨ U 34
4.1 MÔ TẢ CHUNG VÈ MẪU ĐIỀ U TRA 34
4.1.1 Xu hưng iu chnh li nhun 34
4.1.2 Xu hưng iu chnh Tài sn 35
4.2 MÔ TẢ XU HƯỚNG ĐIỀU CHỈNH THEO ĐẶC ĐIỂM CỦ A DN 35
4.2.1 Đặc điểm kiêm nhiệm và công ty kiểm toán 35
4.2.2 Các đặc điểm về số lượng thành viên HĐQT, quy mô doanh nghiệp,
tỷ số nợ, khả năng sinh lợi (ROA) 38
4.3 KIỂM Đ Ị NH TƯƠNG QUAN 41

ACCA Association of Chartered Certified Accountants
Hiệp hội Kế toán công chứng Anh
BCTC Báo cáo tài chính
CEO Chief Executive Officer
Giám đốc điều hành
ĐHCĐ Đại hội cổ đông
FASB Financial Accounting Standards Board
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính
GDCK Giao dịch chứng khoán
HĐQT Hội đồng quản trị
HNX Hanoi Stock Exchange
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE Ho Chi Minh City Stock Exchange
Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
IASB International Accounting Standards Board
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế

KTV Kiểm toán viên
NH Ngân hàng
OTC Over-The-Counter Market
Thị trường cổ phiếu chưa niêm yết
ROA Return on total assets
Tỷ số lợi nhuận trên Tài sản
SEC Security and Exchange Commission
Ủy ban chứng khoán Hoa Kì
SFAC Statement of Financial Accounting Concepts

Chuẩn mực về Khái niệm kế toán báo cáo tài chính
SOX Sarbanes - Oxley
Đạo luật Sarbanes – Oxley

DANH MC PH LC
Phụ lục 01 : Phần trăm lợi nhuận
Phụ lục 02 : Phần trăm tài sản

1
LI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bản chất của kiểm toán báo cáo tài chính là sự kiểm tra từ bên ngoài được thực hiện
bởi các kiểm toán viên độc lập và có đầy đủ năng lực chuyên môn, chịu trách nhiệm về mặt
pháp lí và kinh tế đối với các nhận xét của mình về độ tin cậy của các báo cáo tài chính
được kiểm toán.
Mặc dù vậy, có thực sự kiểm toán báo cáo tài chính do các kiểm toán viên độc lập
mang lại chất lượng cao hơn cho báo cáo tài chính? Câu hỏi này được đặt ra từ lâu trong giới
học thuật và nhiều nghiên cứu đã được tiến hành. Kinney và Martin (1994) đã khảo sát
nhiều nghiên cứu về chênh lệch giữa số liệu kiểm toán và số liệu của đơn vị để chứng minh
rằng kiểm toán viên đã góp phần phát hiện một cách đáng kể các xu hướng báo cáo không
đúng số liệu của đơn vị. Các nghiên cứu khác tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng như công
ty kiểm toán (Chung và đồng nghiệp, 2003) hay hệ thống quản trị công ty (Ng và Tan,
2003).
Hoạt động kiểm toán độc lập đã phát triển hơn 20 năm tại Việt Nam và được xem là
đóng góp cho việc nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam,
đặc biệt là các công ty niêm yết. Mặc dù vậy, theo hiểu biết hạn chế của mình, tác giả chưa
tìm thấy các nghiên cứu về vấn đề này. Liệu rằng ở Việt Nam, các chênh lệch giữa báo cáo
tài chính đã kiểm toán và báo cáo tài chính chưa kiểm toán có đáng kể không? Có tồn tại sự
thổi phồng doanh thu, lợi nhuận, tài sản hoặc giấu bớt các khoản phải trả theo như các lý
thuyết hay không? Các nhân tố nào chi phối đáng kể đến sự khác biệt này: Hệ thống quản trị
công ty? Quy mô của công ty kiểm toán? Các đặc trưng về quy mô, đòn bẩy tài chính hoặc

công cụ hỗ trợ SPSS để đưa ra được thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu, qua đó phản ảnh xu
hướng và tác động của chênh lệch kiểm toán ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài
3
chính của các công ty được khảo sát. Mức độ tác động của chênh lệch kiểm toán được đo
bằng mức thay đổi của các chỉ tiêu so với số liệu chưa điều chỉnh.
Phân tích tương quan mối quan hệ giữa các biến độc lập với mức độ tác động đến chỉ
tiêu cơ bản nhất là lợi nhuận.
Bên cạnh đó, các báo cáo giải trình của những đơn vị có chênh lệch kiểm toán lớn được
tập hơp lại và phân tích cụ thể từng nguyên nhân, nhằm rút ra nhận xét chung về những chỉ
tiêu trên BCTC mà đơn vị thường có sai lệch, qua đó đưa ra được các đặc điểm và khuynh
hướng sai lệch mà người sử dụng BCTC cần quan tâm.
5. KT CU CA  TÀI NGHIÊN CU
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, chương này trình bày tóm tắt các nghiên cứu về
chênh lệch kiểm toán trước đây trên thế giới.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chênh lệch kiểm toán. Chương này sẽ trình bày các khái
niệm liên quan đến chênh lệch kiểm toán, lý thuyết thông tin hữu ích cho việc ra quyết định,
lý thuyết đại diện.
Chương 3 : Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp chọn mẫu
và các biến độc lập, biến phụ thuộc, phương pháp thống kê mô tả để mô tả những đặc tính
cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm, các phương pháp kiểm định
thống kê (kiểm định chi bình phương và kiểm định có tham số) để dự đoán mối liên hệ giữa
các nhân tố.
Chương 4 : Kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả mà nghiên cứu đạt được.
Chương 5: Giải pháp đề xuất nhằm giảm chênh lệch báo cáo tài chính, hạn chế của
nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo. Chương này tóm tắt nghiên cứu, các gợi ý từ kết
quả nghiên cứu, hạn chế của đề tài và chỉ ra các hướng nghiên cứu tiếp theo. 1.2 CÁC NGHIÊN CU V NHÂN T QUY MÔ CÔNG TY KIM TOÁN
Một loạt các nghiên cứu về quy mô công ty kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng kiểm
toán đã được thực hiện trong các năm qua. Đa số các nghiên cứu tập trung đến đặc điểm
công ty kiểm toán ở cấp quốc gia và cho đây là yếu tố quyết định cơ bản đến chất lượng
kiểm toán (Simunic và Stein 1987; Becker và cộng sự 1998; Francis và Krishnan 1999; Kim
và đồng nghiệp 2003; Choi và Doogar 2005). Những nghiên cứu này nhìn chung đều cho
rằng các công ty kiểm toán lớn với thương hiệu quốc tế (Big 4) có chất lượng làm việc cao
hơn và đưa ra những báo cáo kiểm toán có ý nghĩa hơn các công ty còn lại. Tuy nhiên,
Wallman (1996) và Francis (2004) lập luận thêm rằng việc đánh giá này cần phải tập trung
hơn vào cấp độ văn phòng riêng lẻ chứ không phải là toàn bộ công ty bởi vì hầu hết các
quyết định điều chỉnh kiểm toán đối với một khách hàng cụ thể được thực hiện trong một
văn phòng riêng lẻ.
1.3 CÁC NGHIÊN CU V NHÂN T THUC V HI NG QUN TR
R. Francis (2004) đã liên kết chất lượng kiểm toán với Hội đồng quản trị (HĐQT) và
các Ủy ban kiểm toán. Nghiên cứu này cho thấy rằng chất lượng kiểm toán sẽ cao hơn khi
Hội đồng và ủy ban kiểm toán độc lập hơn (nhiều thành viên bên ngoài hơn, hoặc không có
sự khiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT), (Hermalin và Weisbach 1991; Klein 1998;
và gần đây hơn của Hayes, Mehran và Scott 2004).
Các nghiên cứu tập trung vào HĐQT độc lập (tính bằng tỷ lệ phần trăm của thành viên
bên ngoài vào HĐQT), đều cho thấy rằng sự độc lập của HĐQT có mối tương quan ngược
chiều đến khả năng gian lận tài chính và việc thực thi các quy định của SEC (Beasley 1996;
Dechow và cộng sự 1996; Bhagat 2002). Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu thấy rằng
một HĐQT có số lượng thành viên lớn hơn thì cũng có chuyên môn lớn hơn một HĐQT với
ít thành viên (Dalton và cộng sự, 1999), và nó thường có hiệu quả hơn trong việc giám sát
chi phí dồn tích (Xie và đồng nghiệp 2003; Klein 2002 ). Điều này cũng có nghĩa rằng khi
Hội đồng độc lập hơn thì ít có sự chi phối thu nhập hơn, (Anderson và đồng nghiệp, 2004).
6

1.5 NGHIÊN CU V CÁC T S TÀI CHÍNH
Persons (1995) chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính ( tổng nợ phải trả/tổng tài sản); vòng quay
vốn (vốn/tổng tài sản lưu động và doanh thu/tổng tài sản); thành phần tài sản (Tài sản ngắn
hạn/tổng tài sản, các khoản phải thu/tổng tài sản, hàng tồn kho/tổng tài sản) và quy mô
doanh nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng gian lận trên BCTC của doanh
nghiệp. Hơn nữa, các doanh nghiệp gian lận có đòn bẩy tài chính cao hơn so với các doanh
nghiệp còn lại.
S. Persons cũng sử dụng biến khả năng sinh lời (lợi nhuận sau thuế /tổng tài sản, lợi
nhuận giữ lại/tổng tài sản) để nghiên cứu và cho kết quả rằng các doanh nghiệp gian lận
nhiều trên BCTC thì có lợi nhuận ít hơn so với các công ty không gian lận. Khi lợi nhuận
thấp thì nhà quản lí có động cơ cao hơn trong việc phóng đại thu nhập hoặc giấu bớt chi phí.
Đồng thời Kreutzfeldt và Wallace (1986) thấy rằng các công ty có vấn đề về khả năng sinh
lời có gian lận BCTC nhiều hơn so với các công ty khác.

8

2.1.1.2 Vai trò của báo cáo tài chính
Khuôn mẫu lý thuyết kế toán của Chuẩn mực BCTC quốc tế (IASB, 2010) có nêu rằng mục
tiêu của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và
những thay đổi tình hình tài chính của một doanh nghiệp cho nhiều đối tượng sử dụng trong
việc ra quyết định kinh tế. Một nội dung tương tự cũng được quy đinh trong Chuẩn mực kế
toán Việt Nam số 21 – Trình bày BCTC (Bộ Tài Chính, 2003). Đối với doanh nghiệp,
BCTC đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Thứ nhất, BCTC là công cụ hữu hiệu trong quá trình huy động vốn với chi phí tiết
kiệm từ các nguồn lực trong xã hội. Với vai trò là cơ sở xây dựng các thông tin về cấu trúc
tài chính, BCTC giúp các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận thông tin của doanh
nghiệp một cách dễ dàng. BCTC cho phép nhà đầu tư đánh giá triển vọng của doanh nghiệp
để đưa ra các quyết định đầu tư chắc chắn, ít rủi ro.
Thứ hai, các cổ đông hiện tại sử dụng BCTC để theo dõi tình hình quản lý vốn đầu
tư, phân tích thực trạng hoạt động của doanh nghiệp, phân bổ các nguồn lực của doanh
nghiệp một cách hợp lý và thực hiện các dự án đầu tư kinh doanh mang lại thành công cho
doanh nghiệp.
Thứ ba, BCTC còn là công cụ hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế cả
trong khu vực và quốc tế. Các công ty và các tập đoàn vẫn thường xem việc công khai, minh
bạch thông tin BCTC như một yếu tố quan trọng nhằm củng cố mối quan hệ với các nhà đầu
tư và chuyên gia phân tích tài chính trong và ngoài nước. Những nhà đầu tư nước ngoài luôn
đòi hỏi một BCTC được kiểm toán xác nhận về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà
họ dự định đầu tư. Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hoá đầu tư. Việc
10
thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài (cả trực tiếp và gián tiếp) đang được Nhà nước rất quan
tâm, cụ thể là đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam nhằm khuyến khính các nhà
đầu tư vào Việt Nam. Cuối cùng, BCTC còn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với
xã hội trong việc truyền đạt thông tin liên quan tới lợi ích cộng đồng.

Kiểm toán làm giảm bớt những ảnh hưởng tiêu cực của việc tách bạch quyền sở hữu
và quyền kiểm soát bằng cách làm giảm các thông tin bất cân xứng giữa người sử dụng báo
cáo tài chính và nhà quản lý doanh nghiệp (Jensen và Meckling, 1976). Do đó kiểm toán là
một cách để giảm rủi ro thông tin cho người sử dụng BCTC, giảm chi phí vốn cho các công
ty (Leuz và Verrecchia, 2005). Theo Nguyễn Văn Hương (2011), các doanh nghiệp khó tiếp
cận với vốn vay không phải vì tất cả đều có báo cáo tài chính sai lệch. Mà vấn đề là hậu quả
của việc đánh giá sai rủi ro tín dụng trước đây dẫn đến các ngân hàng thận trọng hơn đối với
các khoản cho vay mới. Điều này đã được minh chứng trong lý thuyết về thông tin bất cân
xứng, đó là người đi vay biết rõ tình trạng tài chính của mình hơn người cho vay, và để khắc
phục thông tin bất cân xứng này thì người cho vay (ngân hàng) luôn tìm biện pháp bảo về
minh bằng cách yêu cầu bên đi vay cung cấp BCTC được kiểm toán, và NH yêu cầu bên đi
vay phải có nhiều tài sản đảm bảo hơn và lãi vay cao hơn để hạn chế bớt rủi ro. BCTC sai
lệch làm gia tăng rủi ro cho vay, rủi ro tín dụng gia tăng sau đó lại được phản ánh vào mức
giá cao hơn đối với tín dụng. Chính vì thế các doanh nghiệp thiếu vốn lại càng không tiếp
cận được vốn.
Thứ hai, kiểm toán BCTC góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt
động tài chính kế toán. Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính đều bao gồm những
mối quan hệ đa dạng, luôn luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể.
Để hướng các nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các quan hệ trên không chỉ cần có
định hướng đúng và thực hiện tốt mà cần thường xuyên soát xem việc thực hiện để hướng
các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn. Hơn nữa, kiểm toán giúp tổ chức thực hiện tốt hoạt
12
động tài chính kế toán trên cơ sở những bài học thực tiễn soát xét và luôn uốn nắn thường
xuyên những lệch lạc trong quá trình thực hiện.
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Rõ ràng kiểm
toán không chỉ có chức năng xác minh mà còn có chức năng tư vấn. Các nhà quản lý không
thể kiểm soát hàng ngàn, hàng vạn nghiệp vụ tài chính kế toán đã xảy ra trong doanh nghiệp.

mẫu lý thuyết kế toán (Accounting conceptual framework). Nó nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản
của kế toán là cung cấp thông tin kế toán hữu ích và thích hợp cho các đối tượng sử dụng
trong việc ra quyết định. Xuất phát từ lý thuyết này, khuôn mẫu lý thuyết kế toán đưa ra các
giả định, nguyên tắc lập và trình bày BCTC. Trên cơ sở khuôn mẫu lý thuyết trên cùng với
yêu cầu của thực tế, các tổ chức lập quy xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán.
2.2.1.2 Vn dng vào vn  chênh lch kim toán
Các kiểm toán viên kiểm toán BCTC dựa trên các chuẩn mực kế toán, bao gồm cả
khuôn mẫu lý thuyết kế toán. Khi phát hiện các khác biệt với các chuẩn mực kế toán nói
trên, kiểm toán viên sẽ đề nghị đơn vị điều chỉnh nếu xét thấy chúng ảnh hưởng trọng yếu
đến người sử dụng BCTC. Điều này tạo ra các khoản chênh lệch kiểm toán. Như vậy, chênh
lệch kiểm toán phản ảnh đóng góp của kiểm toán viên trong vấn đề gia tăng tính hữu ích của
BCTC. Nó cũng cho thấy các nguy cơ tiềm ẩn trong BCTC khi chưa được kiểm toán.
2.2.2 Lý thuyt i din (y nhim)
2.2.2.1 Ni dung
Lý thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (principal) và bên được ủy nhiệm
(agent). Thông qua hợp đồng, bên được ủy nhiệm thực hiện một số công việc đại diện cho
bên ủy nhiệm. Trong hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lí, các cổ đông ủy nhiệm cho
nhà quản lí thay mình sử dụng vốn để kinh doanh.
Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên tối đa hóa lợi ích của mình, vấn đề là làm sao
cho bên được ủy nhiệm hành xử theo đúng theo hướng tối đa hóa lợi ích của bên ủy nhiệm.
14
Chi phí ủy nhiệm là chi phí chi trả cho sự xung đột lợi ích giữa hai bên bao gồm chi phí
giám sát, chi phí liên kết và chi phí khác.
Chi phí giám sát
Chi phí giám sát bao gồm chi phí kiểm tra, giám sát, kiểm toán, chi phí duy trì các hoạt
động kiểm soát và báo cáo để kiểm tra việc thực hiện của bên được ủy nhiệm. Chi phí này
được tính vào chi phí hoạt động của công ty, làm giảm lợi ích của bên ủy nhiệm. Để đảm

cạnh đó, nếu nhân viên cấp dưới kết nối với quản lý của mình bằng mối quan hệ mật thiết,
nhiều khả năng cấp dưới sẽ hành động phù hợp với mong muốn của người quản lý, dù điều
này có lợi hay bất lợi cho các chủ sở hữu (W.Vance và Alan Webb, 2011)
C.Jensen (2004) cho rằng, bất cứ khi nào tồn tại nhiều người cùng thực hiện một công
việc (chẳng hạn như cổ đông của một công ty và các nhà quản lý của công ty đó) thì tất
nhiên, các nhà quản lý sẽ luôn luôn không hành động vì lợi ích tốt nhất của các chủ sở hữu,
và ngược lại. Do đó những nỗ lực để quản lý các xung đột lợi ích của cả hai bên trong một
mối quan hệ tạo ra chi phí đại diện.
R. Francis (2004) nhấn mạnh rằng, trong các công ty cổ phần niêm yết công khai, việc
tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý làm cho kiểm toán độc lập bên ngoài đặc biệt
quan trọng đối với vấn đề quản trị và giám sát doanh nghiệp. Nghiên cứu này cũng đặt ra
câu hỏi, tại sao các công ty tự nguyện trả chi phí cao cho một công ty kiểm toán chất lượng
tốt thay vì chọn công ty kiểm toán nhỏ hơn với chi phí thấp ? Kết quả cho thấy, các doanh
nghiệp có chi phí đại diện cao hơn thì cũng có nhiều khả năng sử dụng các công ty kiểm
toán lớn (Francis và Wilson, 1988; DeFond; 1992 và Francis và đồng nghiệp, 1999).
Thêm vào đó lý thuyết đại diện cho thấy chủ sở hữu và các nhà quản lý có lợi ích xung
đột nhau dẫn đến vấn đề rủi ro đạo đức. Wallace (1980) lập luận rằng các nhà đầu tư bảo vệ
giá đầu tư của họ dẫn đến giá cổ phiếu giảm, hàm ý chi phí vốn sẽ phát sinh nhiều hơn.
Kiểm toán làm giảm bớt mức độ bảo vệ giá đó bằng cách thực hiện ba vai trò là giám sát,
16
cung cấp thông tin và đưa ra một bảo đảm về tính trung thực của thông tin (Wallace 1980).
Vai trò đầu tiên của kiểm toán là đảm bảo rằng các nguồn tài nguyên mà chủ sở hữu ủy thác
cho các nhà quản lý của mình được sử dụng tốt hơn. Jensen và Meckling (1976 ) cho rằng
một thành phần của chi phí đại diên chính là chi phí giám sát các nhà quản lý. Chow (1982)
tiến hành một nghiên cứu về các giao dịch công khai trong năm 1926, ông thấy rằng tỷ lệ
các công ty tham gia kiểm toán đang gia tăng do mức độ xung đột giữa các bên liên quan
của công ty.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status