ĐẶT VẤN ĐỀ
Trĩ là một hệ thống đám rối tĩnh mạch sinh lý bình thường nằm ở vùng hậu môn
trực tràng, do một nguyên nhân cơ hội nào đấy làm cho tĩnh mạch trĩ sa giãn không hồi
phục, khi đó gọi là bệnh trĩ. Bệnh trĩ là một bệnh thường gặp, với tỷ lệ mắc cao trong
cộng đồng và là bệnh đứng hàng đầu trong các bệnh lý hậu môn trực tràng.
Hiện nay, có rất nhiều các phương pháp điều trị bao gồm: điều trị nội khoa, điều
trị bằng thủ thuật, điều trị bằng phẫu thuật. Nhưng vẫn tuân theo một nguyên tắc cơ bản
là ưu tiên điều trị bảo tồn, chỉ khi nào không thể điều trị bảo tồn được nữa, hoặc bệnh
trĩ có kèm theo các bệnh lý khác thuộc hậu môn trực tràng, thì mới điều trị kết hợp với
thủ thuật hoặc phẫu thuật. Từ lâu, y học cổ truyền đã có rất nhiều phương pháp để điều
trị bệnh trĩ như; dùng thuốc uống trong và thuốc dùng ngoài, kết hợp với thủ thuật v.v.
Bệnh viện y học cổ truyền Thái Bình từ lâu đã tiếp nhận và áp dụng nhiều phương
pháp điều trị bệnh này và đã thu được nhiều kết quả. Trong đó, Bệnh viện đã sử dụng
Bài “Lục vị gia vị” là bài thuốc nghiệm phương được xây dựng dựa trên bài thuốc
“Lục vị địa hoàng hoàn” và gia thêm một số vị thuốc. Bài thuốc có tác dụng bổ can
thận âm, lương huyết, chỉ huyết, trên bệnh nhân trĩ có tăng huyết áp. Nhằm tăng
cường tác dụng điều trị triệu chứng viêm và chảy máu là hai triệu chứng lâm sàng
thường gặp trong bệnh trĩ, dựa trên kết hợp giữa lý luận của y học cổ truyền và trên các
cơ sở nghiên cứu khoa học về tác dụng dược lý của các vị thuốc theo y học hiện đại,
bài thuốc “Lục vị gia vị” trong nghiên cứu này được gia thêm các vị thuốc là Hòe hoa,
Xích thược, Hoàng bá, Chỉ xác, Mạch môn, Kinh giới sao đen là những vị thuốc có tác
dụng lương huyết, chỉ huyết, chống viêm để làm tăng hiệu quả trong điều trị trĩ nội độ
I, II xuất huyết có kết quả rất khả quan, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu đánh giá một
cách khoa học, đầy đủ về hiệu quả tác dụng của bài thuốc. Chính vì vậy, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài “Bước đầu đánh giá tác dụng bài thuốc “Lục vị gia vị” trong
điều trị bệnh trĩ nội độ I, II xuất huyết” với 2 mục tiêu sau:
- Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Lục vị gia vị” điều trị bệnh trĩ nội độ I,
II xuất huyết
- Khảo sát tác dụng không mong muốn của bài thuốc.
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
- Phần nông: phần nông ở sâu hơn và ở phía ngoài hơn so với phần dưới da.
Phần nông là phần to nhất của cơ thắt ngoài. Phần này xuất phát từ sau chạy ra
trước, vòng quanh hai bên hậu môn, có một số sợi bám vào trung tâm cân đáy chậu
[18], [20].
- Phần sâu: nằm trên phần nông. Các thớ cơ của phần này hoà lẫn với các thớ
cơ của cơ nâng hậu môn [18], [20], hai bó này duy trì góc hậu môn trực tràng và có
chức năng đặc biệt trong tự chủ hậu môn.
* Cơ thắt trong: thuộc hệ cơ trơn, là phần dày lên của lớp cơ vòng hậu môn.
Cấu trúc hình ống dẹt, cao 4- 5 cm, dày 3- 6 mm, màu trắng ngà, co bóp tự động
[18], [20].
* Cơ nâng hậu môn: gồm hai phần là phần thắt và phần nâng.
- Phần thắt: xoè giống hình cái quạt gồm 3 bó (bó mu bám ở mặt sau xương
mu, bó ngồi bám ở gai hông, bó chậu bám vào cân cơ bịt trong), cả 3 bó đều tụm lại
chạy ở hai bên trực tràng, tới sau hậu môn đính với nhau, đính vào xương cụt hình
thành phên đan hậu môn- xương cụt [18], [20].
- Phần nâng: chỉ bám vào xương mu, ở phía trên phần thắt, bám tận bằng hai
bó ở phía trước và phía bên hậu môn. Hai bó ở hai bên đan vào nhau ở phía trước
của hậu môn. Bó bên của hai bên đan vào lớp cơ của thành trực tràng và bám vào
bó sâu của cơ thắt ngoài.
3
* Cơ dọc dài phức hợp: Tạo bởi các thớ cơ dọc của lớp cơ thành trực tràng.
Dải cơ dọc này chạy giữa cơ thắt trong và cơ thắt ngoài, xuống phía dưới toả thành
hình nan quạt và tận cùng ở phần thấp của cơ thắt trong tạo nên các dây chằng Parks
cố định niêm mạc hậu môn vào mặt trong cơ thắt trong [18], [20], [47].
Lớp niêm mạc hậu môn: Lòng ống hậu môn được phủ bởi lớp biểu mô có 3
lớp từ trong ra ngoài, bắt đầu bằng lớp tế bào trụ đơn tiếp đến biểu mô vuông tầng,
lát tầng và kết thúc là biểu mô giả da ở đoạn cuối cùng của ống hậu môn. Bên cạnh
sự chuyển tiếp cấu trúc là sự thay đổi về chức năng sinh lý quan trọng trong lòng
ống hậu môn.
Đường lược: là mốc quan trọng trong phẫu thuật hậu môn trực tràng, cách rìa
* Tĩnh mạch: gồm đám rối tĩnh mạch trĩ trong và đám rối tĩnh mạch trĩ ngoài.
- Đám rối tĩnh mạch trĩ trong: máu từ đám rối tĩnh mạch trĩ trong được dẫn
về tĩnh mạch trực tràng trên, đổ về tĩnh mạch mạc treo tràng dưới (hệ cửa). Khi đám
rối tĩnh mạch trĩ trong giãn tạo nên trĩ nội.
5
- Đám rối tĩnh mạch trĩ ngoài: máu từ đám rối TM trĩ ngoài đổ vào tĩnh mạch
trực tràng giữa và dưới rồi đổ vào tĩnh mạch hạ vị (hệ chủ). Đám rối tĩnh mạch trĩ
ngoài giãn tạo ra trĩ ngoại. Hai đám rối này được phân cách nhau bởi dây chằng
Parks, khi dây chằng này thoái hoá mất độ bền chắc sẽ chùng ra, hai đám rối sát liền
nhau, trĩ nội sẽ liên kết với trĩ ngoại tạo nên trĩ hỗn hợp. Khi trĩ hỗn hợp to ra có thể
không nằm riêng rẽ nữa mà liên kết nhau tạo nên trĩ vòng [18], [28].
- Các nối thông động - tĩnh mạch: Durett cho thấy có sự thông thương giữa
động - tĩnh mạch ở lớp dưới niêm mạc của ống hậu môn và máu ở trĩ là máu động
mạch nên tác giả đưa ra lý thuyết thông động tĩnh mạch góp phần gây bệnh [47].
Thần kinh: Hậu môn trực tràng được chi phối bởi thần kinh sống và thần
kinh thực vật [18], [55], [60], [80]. Hoạt động bài tiết phân thực hiện được tự chủ
thông qua sự chi phối của hai hệ thần kinh này.
* Thần kinh sống: hệ thần kinh sống có dây thần kinh hậu môn, tách từ dây
cùng III và dây cùng IV. Dây này vận động cơ thắt hậu môn và cảm giác vùng
quanh lỗ hậu môn, phẫu thuật làm tổn thương dây này sẽ gây nên mất tự chủ khi
đại tiện.
* Thần kinh thực vật: hệ thần kinh thực vật có các sợi thần kinh tách từ
đám rối hạ vị. Các dây giao cảm từ các hạch giao cảm thắt lưng. Các sợi phó
giao cảm xuất phát từ hai nguồn. Các sợi tận cùng của dây thần kinh X đi qua
đám rối mạc treo tràng dưới, qua dây cùng trước và dây hạ vị đi xuống. Các
nhánh này vận động và chỉ huy việc tiết dịch trực tràng. Các dây cùng tách ra từ
đoạn cùng của tuỷ sống và mượn đường đi của rễ trước thần kinh cùng II, III, IV
tới đám rối hạ vị chi phối cho các tạng niệu dục, điều này giải thích cho việc rối
loạn tiểu tiện ở các bệnh nhân có phẫu thuật ở vùng hậu môn trực tràng do sự chi
phối của thần kinh thực vật [94], [104].
được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng. Về
phương thức điều trị, trĩ bệnh và trĩ triệu chứng rất khác nhau.
* Ngoài ra còn một số nguyên nhân như: Ho mạn tính, rặn đái do u phì đại
tiền liệt tuyến, làm công việc nặng nhọc…
1.1.1.3. Cơ chế bệnh sinh
Có nhiều thuyết cắt nghĩa bệnh trĩ nhưng có 2 thuyết được nhiều người công
nhận [7], [21], [28], [35], [40], [54], [61], [90], để giải thích cơ chế bệnh sinh của
bệnh trĩ là thuyết cơ học và thuyết huyết động học.
7
Thuyết cơ học:
Các đám rối tĩnh mạch trĩ nằm ở lớp dưới niêm mạc được giữ nguyên tại chỗ
bởi các giải sợi cơ trun đàn hồi, lúc đầu các sợi này chắc, nhưng từ tuổi 20, có hiện
tượng thoái hóa keo, chúng nhẽo dần và chùng ra. Vì thế, trên lâm sàng ít thấy trĩ ở
trẻ em.
Khi đã có thoái hóa keo cộng thêm tình trạng tăng áp lực ổ bụng do táo bón
lâu ngày hay có rối loạn nhu động ruột trong viêm đại tràng, ruột bị kích thích dẫn
đến các đám tĩnh mạch sa dần xuống dưới và ra ngoài lỗ hậu môn, các huyết quản
sẽ dãn ra,căng phồng lên tạo thành búi trĩ.
Thuyết huyết động học:
Thuyết huyết động học cho rằng trong lớp dưới niêm mạc ở phần thấp của
bóng trực tràng và ở ống hậu môn có rất nhiều khoang mạch. Vách các khoang
mạch này chỗ dầy, chỗ mỏng tạo thành các hang. Ở vùng này có sự thông nối giữa
động mạch và tĩnh mạch. Chảy máu trong bệnh trĩ do rối loạn tuần hoàn tại chỗ của
chính các mạch máu đó.
Nhận xét trên lâm sàng cho thấy máu chảy ra từ bệnh trĩ có màu đỏ tươi với
hàm lượng Oxy cao.
8
1.1.1.4. Bản chất của trĩ
Kết quả các công trình nghiên cứu về mạch máu và mô học cho thấy trĩ là
một cấu trúc mạng mạch bình thường được nhiều tác giả công nhận [17],[52],[80].
quần lót. Chất tiết có thể gây ngứa và làm chảy máu do gãi.
Thăm và soi hậu môn
* Thăm khám: Nhìn có thể thấy trĩ ngoại (da thừa), sa búi trĩ - niêm mạc
hậu môn.
* Thăm trực tràng là động tác bắt buộc đối với bệnh nhân trĩ. Thăm trực
tràng bằng ngón tay trỏ để kiểm tra khả năng co thắt của cơ thắt vòng hậu môn,
xác định tổn thương của búi trĩ xem có hiện tượng tắc mạch không. Xác định tổn
thương đi cùng với bệnh trĩ như áp xe, rò hậu môn, nứt kẽ hậu môn, ung thư hậu
môn trực tràng
Soi trực tràng để đánh giá tổn thương của bệnh trĩ, qua soi hậu môn trực
tràng để phân độ trĩ nội và cho phép đánh giá các tổn thương khác như nứt kẽ, polip
hậu môn, viêm loét trực tràng và đặc biệt là phát hiện ra ung thư trực tràng về đại
thể. Những tổn thương viêm loét, ung thư trực tràng nhiều khi dễ nhầm với bệnh trĩ
do chúng cũng có biểu hiện đại tiện ra máu [35], [16], [80].
1.2.2. Phân loại trĩ theo YHHĐ
Giải phẫu bệnh học: Lấy đường lược làm mốc người ta phân chia ra:
* Trĩ nội: nằm ở dưới niêm mạc, phía trên đường lược, từ khoang cạnh hậu
môn dưới niêm mạc xuất phát từ đám rối trĩ trong. Lúc đầu búi trĩ còn nhỏ, nằm trên
đường lược, càng về sau to dần ra, các mô nâng đỡ và dây chằng Park chùng ra thì
thấy búi trĩ sa xuống dưới và ra ngoài lỗ hậu môn.
* Trĩ ngoại: được hình thành do giãn quá mức đám rối tĩnh mạch trĩ ngoài
nằm dưới đường lược và bao bọc bởi da.
* Trĩ hỗn hợp: trĩ nội nằm trong ống hậu môn, trĩ ngoại nằm ngoài ống hậu
môn ngăn cách nhau bởi rãnh liên trĩ, khi dây chằng Park bị thoái hóa keo, nhão ra,
trĩ nội và trĩ ngoại hợp với nhau tạo thành trĩ hỗn hợp ( rãnh liên trĩ bị xóa).
* Trĩ vòng: thường có 3 búi trĩ chính ở 3 vị trí phải trước, phải sau và trái
ngang. Khi các búi trĩ chính này to dần lên, giữa các búi trĩ chính lại xuất hiện các
10
búi trĩ phụ làm cho chúng liên kết với nhau tạo thành vòng tròn trĩ chiếm hầu hết
hoặc toàn bộ hoặc chu vi ống hậu môn.
* Trong Trung Y ngoại khoa học giảng nghĩa tóm tắt có các loại nguyên
nhân sau:
- Nguyên nhân về ăn uống: Ăn quá nóng, no đói thất thường, ăn đồ ăn sống
lạnh, uống nhiều rượu, ăn béo ngậy, ăn quá cay.
- Nguyên nhân khởi cư: Đứng lâu, ngồi lâu, vác nặng đi xa, phòng sự quá độ.
- Nguyên nghân khác: Ỉa chảy mạn, táo bón kéo dài, thể chất quá suy yếu,
mang thai nhiều lần [133].
* Các nguyên nhân trên có thể làm khí huyết hành lung tung, kinh lạc giao
cắt dẫn đến huyết ứ, trọc khí hạ trú hậu môn gây nên trĩ.
- Sau mắc các bệnh làm rối loạn chức năng của các tạng phủ như can, tâm,
tỳ, thận (can khắc tỳ, can tâm thận âm hư, tâm tỳ hư…) gây khí hư, huyết ứ làm
trung khí hư hạ hãm sinh ra trĩ.
* Trong Trung Quốc truyền thống Y học đề cập đến nguyên nhân gây ra trĩ
nội và trĩ ngoại:
- Nguyên nhân gây trĩ nội: Ăn uống không điều độ, đứng ngồi lâu, vác nặng,
đi xa mang thai nhiều lần, có thể làm nội sinh táo nhiệt hạ xuống đại tràng, kinh lạc
bị giao cắt tuần hoàn trở ngại uất tích thành trĩ.
- Nguyên nhân gây trĩ ngoại: Thấp nhiệt hạ chú, đi lị nhiều lần hoặc nứt hậu
môn độc tà xâm nhập, làm vận hành khí huyết bị trở ngại, kinh mạch bị tắc gây nên;
nhiệt làm tổn thương huyết lạc, ứ kết không tan gây nên [129].
* Hiện tượng chảy máu từ búi trĩ có thể do:
- Hạ trĩ thể khí huyết hư, trong đó do Tỳ hư không thống nhiếp huyết làm
huyết vọng hành, gây xuất huyết.
- Hạ trĩ thể huyết nhiệt và thấp nhiệt: do nhiệt bức huyết vong hành, gây
xuất huyết.
- Hạ trĩ do sang thương, phân táo kết rặn nhiều gây xuất huyết [67].
1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TRĨ
1.4.1 Các phương pháp điều trị trĩ theo y học hiện đại.
12
Mục tiêu chính của điều trị trĩ là giảm thiểu các triệu chứng gây khó chịu và
- Bài 1: Hoạt huyết địa hoàng thang gia giảm, gồm Sinh địa 20g, Đương quy
12g, Địa du 12g, Hoè hoa sao đen 12g, Hoàng cầm 12g, Kinh giới sao đen 12g,
Xích thược 12g.
Sắc uống ngày 1 thang, uống 10 thang.
- Bài 2: Gồm các vị:
Hoè hoa sao đen 10g, Kinh giới sao đen 16g, Huyền sâm 12g, cỏ nhọ nồi sao
đen 16g, Trắc bách diệp sao đen 16g [2], [32].
Sắc uống ngày 1 thang, uống 10 thang.
- Bài 3: Chè trĩ số 9 của Viện Y học cổ truyền Việt Nam gồm: Trần bì, Mộc
hương, Hậu phác, Huyết giác, Hòe hoa sao, Cỏ nhọ nồi, Uất kim, Tô mộc, Lá móng
tay, Ý dĩ, Đại hoàng, Cam thảo có tác dụng: thanh nhiệt, nhuận táo, hoạt huyết,
hành khí, chỉ huyết [3], [75].
Trĩ nội thể thấp nhiệt (trĩ có bội nhiễm hoặc do viêm nhiễm gây nên): búi
trĩ sưng đỏ, loét nát, chảy mủ hoặc nước vàng, ngồi khó, có thể sốt, đại tiện táo,
nước tiểu vàng. Phép điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết chỉ thống. Những bài
thuốc thường dùng:
- Bài 1: Hoè hoàn tán gia vị, gồm:
Hoè hoa 12g, Cam thảo 4g, Hoàng bá 12g, Địa du 12g, Sinh địa 16g, Kim
ngân 16g, Trắc bá diệp sao đen 12g, Xích thược 8g, Chỉ xác 8g, Kinh giới sao 16g,
Chi tử sao 12g, Hoàng cầm 12g.
Sắc uống ngày 1 thang, uống 10 thang.
- Bài 2: Chỉ thống thang gia giảm, gồm:
Hoàng bá 12g, Đương quy 12g, Hoàng liên 12g, Trạch tả 12g, Đào nhân 8g,
Sinh địa 16g, Xích thược 12g, Đại hoàng 6g.
Sắc uống ngày 1 thang, uống 10 thang.
- Bài 3: Chè trĩ số 8, của Viện Y học cổ truyền Việt Nam (gồm các vị: thổ
hoàng liên, rau má, kim ngân hoa, lá vông, kim tiền thảo, cỏ nhọ nồi, cam thảo
nam) có tác dụng thanh nhiệt lương huyết [3].
Trĩ nội thể nhiệt độc: trĩ ứ huyết lâu ngày nhiệt xâm phạm (giai đoạn đầu
của viêm nhiễm). Búi trĩ sưng nóng đỏ, đau rát hậu môn chảy ra máu tươi, chảy
15
dùng gạc vaselin che băng lại. Chú ý bảo lưu da giữa các búi trĩ, làm vài cầu da để
tránh hẹp hậu môn. Thường sau 3 - 4 tuần vết mổ lành [7].
Trong nước:
Ở Việt Nam từ năm 1957, Viện Nghiên cứu đông y nay là Bệnh viện y học
cổ truyền Trung Ương đã thừa kế kinh nghiệm về y dược học cổ truyền kết hợp với
các phương pháp phẫu thuật của y học hiện đại để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh trĩ.
Phác đồ điều trị kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong mổ thắt trĩ đã được
hình thành trong những năm 70-80 của thế kỷ XX tại Viện Nghiên cứu Đông y:
- Trước mổ thắt trĩ: dùng thuốc tiêu viêm và thông lợi đại tràng của y
học cổ truyền.
- Chuẩn bị trước mổ: như y học hiện đại.
- Mổ: Châm tê 30 phút, Thuốc tiền mê trước 15 phút, gây tê tại chỗ liều
hạn chế, mổ theo phương pháp cải tiến.
- Sau mổ: Chế độ ăn nhuận tràng, không gây táo bón; uống thuốc hành
huyết tiêu ứ thông lợi đại tràng (cao tiêu viêm, chè trĩ số 8 hoặc chè trĩ số 9, thuốc
bổ âm). Nếu cần, cho kháng sinh (y học hiện đại). Điện châm để giảm đau và chữa
bí tiểu tiện [75], [76].
- Tạ Văn Sang (2001) dùng kem “Bạch đồng nữ” điều trị cho bệnh nhân
sau mổ trĩ đạt kết quả tốt [61]
- Hà Thị Nga (2004), Hoàng Thị Ngọc (2004) dùng thuốc Bột ngâm trĩ
điều trị vết thương cho bệnh nhân sau mổ trĩ với kết quả tốt 87% [46], [48].
- Đỗ Quốc Hương (2005) dùng chè tan TVS kết hợp với thủ thuật thắt trĩ
trên bệnh nhân trĩ nội độ II, III cho kết quả tốt [26]
1.4.2.2 Phương pháp không dùng thuốc:
Chủ yếu dùng cho trĩ nội [38]. Chia các thể:
Trĩ nội thể huyết ứ: Châm các huyệt Trường cường, Bách hội, Thứ liêu,
Tiểu trường du, Đại trường du, Túc tam lý, Tam âm giao, Thừa sơn, Hợp cốc,
Thượng cự hư.
16
17
1. Hoài sơn: là rễ cây củ mài (Dioscorea persimilis) họ Củ từ (Dioscoraceae).
Tên khoa học: Rhiroma Dioscoreae
Tính vị: ngọt, bình. Vào kinh tỳ, vị, phế, thận.
Tác dụng: bổ vị tỳ, bổ phế âm.
2. Chỉ xác: Thuộc họ cam quýt (Rutaceae).
Tên khoa học: Citrus aurantium L.
Tính vị: Đắng, chua, tính hơi hàn. Vào 2 kinh tỳ, vị.
Tác dụng: Phá khí, giáng đàm, tiêu thực.
3. Xích thược: Họ hoa lương ( Ranunculaceae).
Tên khoa học: Paeonia Liacliflora pall.
Tính vị: Đắng, hơi hàn. Vào 2 kinh can và tỳ.
Tác dụng:
+ Hoạt huyết, khứ ứ, phối hợp với đào nhân để giảm đau khi huyết ứ
sưng đau.
+ Giải độc, điều trị các bệnh mụn nhọt sưng đau.
4. Hòe hoa: Thuộc họ cánh bướm (Papilionaceae).
Tên khoa học: Sophora japonica L.
Tính vị: Đắng, ngọt, bình. Vào 2 kinh tâm, can.
Tác dụng: Lương huyết, thanh nhiệt, chỉ huyết.
5. Sơn thù: Thuộc họ sơn thù (Cornaceae)
Tên khoa học: Cornus officinalis Sieb.
Tính vị: Chua, sáp, ấm. Vào 2 kinh can, thận.
Tác dụng: Bổ can thận, cố tinh, sáp niệu.
6. Phục linh: Thuộc họ Nấm lỗ (Polyporaceae)
Tên khoa học: Poria cocos Wolf.
Tính vị: Ngọt, bình. Vào kinh tâm, tỳ, phế, thận.
Tác dụng: lợi niệu thẩm thấp, kiện tỳ, an thần.
7. Trạch tả: Thuộc họ trạch tả (Alismataceae).
Tên khoa học: Alisma plantago – aquatica.
- Dạng bào chế: thuốc thang đóng túi, thể tích 200ml/túi
- Nơi sản xuất: Khoa Dược Bệnh viện YHCT Thái Bình.
19
- Cách dùng: 200ml/lần x 2 lần/ngày, mỗi lần lấy 1 túi ngâm trong 1 bát
nước sôi để 10 phút rồi uống sau khi ăn no.
2.1.3. Thuốc đối chứng
Viên Daflon 500mg do hãng Les Laboratoires Servier (France) sản xuất dưới
dạng viên bao.
Cách dùng: Viên Daflon 500mg, điều trị trong 14 ngày
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
Tất cả bệnh nhân không phân biệt tuổi, giới, nghề nghiệp, chỗ ở, được chẩn
đoán đợt cấp trĩ nội độ I, II tình nguyện tham gia nghiên cứu.
- Địa điểm: Nhận bệnh nhân tại bệnh viện YHCT Thái Bình.
- Thời gian: từ tháng 6/2014 – tháng 12/2014.
2.2.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân:
- Bệnh nhân ung thư
- Bệnh nhân có mắc các bệnh cấp tính hoặc mạn tính nặng khác (viêm cầu
thận cấp, xơ gan mất bù )
- Bệnh nhân không tuân thủ theo các chế độ điều trị đã được phổ biến hoặc
tự động dùng phối hợp với các thuốc khác.
- Bệnh nhân mới dùng thuốc điều trị trĩ khác dưới 7 ngày.
- Bệnh nhân dị ứng với các thành phần của thuốc
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng so sánh kết quả trước và sau
điều trị.
2.3.1. Phương pháp chọn mẫu.
Nghiên cứu: Chọn ngẫu nhiên 60 bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp trĩ nội
độ I,II và chia làm 2 nhóm (Mỗi nhóm 30 bệnh nhân).
2.3.2 Các bước tiến hành nghiên cứu.
Nặng : Ngày thay quần lót trên 3 lần
- Táo bón: chia 3 mức độ
Nhẹ : 2 ngày đi ngoài 1 lần.
Vừa : 3 ngày đi ngoài 1 lần.
Nặng : > 3 ngày đi ngoài 1 lần
* Theo dõi trên cận lâm sàng:
21
- XN Huyết học:
CTM: Hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu
Thời gian máu chảy
Thời gian máu đông
- XN sinh hóa máu
XN chức phận gan: AST (GOT), ALT (GPT)
XN chức năng thận: Creatinin, Ure
XN tổng phân tích nước tiểu
- Soi hậu môn: Quan sát màu sắc, vị trí búi trĩ, phân độ trĩ.
Đánh giá kết quả cận lâm sàng: So sánh kết quả trước và sau khi điều trị.
Tác dụng không mong muốn của thuốc: Sau khi uống thuốc bệnh nhân có các
biểu hiện sau: Mệt, khó chịu, nôn hoặc buồn nôn, đau đầu, đau bụng, ỉa lỏng, tăng
huyết áp,ngứa, mẩn đỏ
2.3.4. Đánh giá kết quả: Sau 14 ngày điều trị đánh giá kết quả theo 3 mức độ:
+ A : tốt (2 điểm)
+ B : trung bình (1 điểm)
+ C : kém (0 điểm)
* Về tác dụng cầm máu:
A: Hết chảy máu trong 7 ngày uống thuốc đầu tiên. 2 điểm
B : Hết chảy máu trong 7 ngày uống thuốc tiếp theo. 1 điểm
C : Không hết chảy máu sau 14 ngày điều trị. 0 điểm
* Về tác dụng làm thu nhỏ búi trĩ:
A : Sau đợt điều trị búi trĩ mất đi hoặc thu nhỏ tới 2 độ. 2 điểm
chứng nặng phải ngừng thuốc.
2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý bằng chương trình Epi- Info 6.04 của Tổ chức Y tế thế giới.
Sử dụng 2 thuật toán:
-
So sánh trước sau, sử dụng test ghép cặp
-
So sánh 2 tỷ lệ sử dụng thuật toán χ
2
-
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê khi p > 0,05.
(p > 0.05) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
(p < 0,05) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
23
nd
dx
t
/
σ
=
Ci
CiOi
k
i
2
1
2
)(
X
−
Bảng 3.13 Kết quả chung sau điều trị của nhóm nghiên cứu theo YHCT
Bảng 3.14: Kết quả nghiên cứu sự thay đổi huyết áp trước và sau điều trị
của nhóm BN điều trị “Lục vị gia vị”
3.3. Tác dụng không mong muốn của bài thuốc “ Lục vị gia vị” trên lâm sàng
và một số chỉ số cận lâm sàng.
Bảng 3.15. Tác dụng không mong muốn của “ Lục vị gia vị” biểu hiện
trên yếu tố máu đông, máu chảy, số lượng tiểu cầu.
Bảng 3.16. Tác dụng không mong muốn của “ Lục vị gia vị” biểu hiện
trên một số chỉ số huyết học.
Bảng 3.17. Tác dụng không mong muốn của “ Lục vị gia vị” biểu hiện
trên một số chỉ số sinh hóa máu.
Bảng 3.18. Tác dụng không mong muốn của “ Lục vị gia vị” biểu hiện
trên một số thành phần trong nước tiểu.
25