LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở
các nước đang phát triển” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội
dung trích dẫn đều có ghi nguồn gốc và các kết quả trình bày trong luận văn
chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây. Nếu phát
hiện có bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm trước Hội đồng.
TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Bùi Thị Phương Thùy
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Tóm tắt 1
1. Giới thiệu 1
2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây 4
2.1. Lý thuyết nền 4
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm 7
REM: Random effects models.
TRADE: Thương mại.
WDI: World Bank’s World Development Indicators. DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm 12
Bảng 3.1: Giá trị trung bình các biến nghiên cứu trong thời kỳ 1997-2012 23
Bảng 3.2: Tóm tắt về các biến trong mô hình 25
Bảng 4.1: Hệ số tương quan giữa các biến 31
Bảng 4.2: Kết quả hồi quy với tín dụng trong nước cung cấp bởi hệ thống
ngân hàng 32
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi và tương quan chuỗi 33
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy với tín dụng trong nước cho khu vực tư 36
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định phương sai không đổi và tương quan chuỗi 36
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy với cung tiền M2 38
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định phương sai không đổi và tương quan chuỗi 39
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 4.1: Phản ứng của tăng trưởng kinh tế trước cú sốc DCPS 42
Hình 4.2: Phản ứng của tăng trưởng kinh tế trước cú sốc GDS 43
Hình 4.3: Phản ứng của tăng trưởng kinh tế trước cú sốc của TRADE 45
tích lũy sẽ tạo nên tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, việc sàng lọc và hỗ trợ
cho các dự án hiệu quả thông qua một hệ thống tài chính hoạt động tốt sẽ làm
gia tăng hiệu quả sử dụng vốn từ đó góp phần đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế.
2
Ý thức được tầm quan trọng cũng như vai trò của phát triển tài chính đối
với tăng trưởng kinh tế, trong các thập kỷ gần đây đã có nhiều nghiên cứu
thực hiện về vấn đề này. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cho các nước và
các khu vực khác nhau đưa ra các quan điểm khác nhau về vai trò của phát
triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Mối quan hệ cũng như vai trò của
phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế vẫn là một vấn đề gây nhiều
tranh luận. Hiểu rõ tác động cũng như vai trò của phát triển tài chính đối với
tăng trưởng sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có những định hướng rõ
ràng hơn trong chính sách phát triển của quốc gia và khu vực. Do đó, tôi chọn
đề tài “Phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát
triển” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Bài nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định vai trò của phát
triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Đồng thời xác định các yếu tố quan
trọng đại diện cho phát triển tài chính trong việc giải thích tăng trưởng kinh tế
ở các nước đang phát triển.
Sử dụng phương pháp hồi quy bảng thông qua ba mô hình pooled
regression, fix effects model (FEM) và random effects model (REM), bài
nghiên cứu tiến hành ước tính các hệ số hồi quy và lựa chọn một mô hình hồi
quy hiệu quả nhất để xác định vai trò của phát triển tài chính đối với tăng
trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1997 đến
2012 thông qua các câu hỏi nghiên cứu sau:
+ Phát triển tài chính có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các
nước đang phát triển hay không?
+ Các yếu tố nào đóng vai trò quan trọng đại diện cho phát triển tài
chính trong việc giải thích tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển?
cũng góp phần vào quá trình tăng trưởng kinh tế. Các trung gian tài chính
thực hiện sàng lọc rủi ro làm giảm thiểu những tác động của thông tin, làm
giảm chi phí giao dịch, ảnh hưởng của những quyết định đầu tư trong nâng
cao năng suất hoạt động thông qua đánh giá doanh nghiệp tiềm năng và tài trợ
cho những doanh nghiệp có triển vọng. Quan điểm trung gian tài chính có vai
trò quan trọng trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế được ủng hộ bởi
nghiên cứu của Levine (1997), McKinnon (1973) và Shaw (1973).
Đánh giá được tầm quan trọng của phát triển tài chính đối với tăng
trưởng kinh tế, các nhà nghiên cứu trước đây đã đưa ra nhiều nghiên cứu về
5
vai trò của phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Lập luận của các
bài nghiên cứu chủ yếu dựa trên nền tảng các mô hình tăng trưởng như: mô
hình tăng trưởng cổ điển, mô hình tăng trưởng tân cổ điển và mô hình tăng
trưởng nội sinh. Mô hình tăng trưởng cổ điển Harrod-Domar cho một nền
kinh tế đóng cho thấy tỷ lệ tiết kiệm quốc gia và vốn-sản lượng quốc gia kích
thích mức tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc dân. Và sự mở rộng nguồn
vốn mới thông qua đầu tư chỉ thực hiện được khi nền kinh tế tiết kiệm được
một phần thu nhập quốc dân. Sự đầu tư thông qua nguồn tiết kiệm này sẽ dẫn
đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mô hình Harrod-Domar vẫn có những
điểm hạn chế nhất định. Do dựa vào giả định hệ số cố định cho nên mô hình
thiếu tính linh hoạt, không chính xác khi xác định trong một khoảng thời gian
dài và khi các doanh nghiệp thay đổi các yếu tố đầu vào trong quá trình sản
xuất thực tế. Phát triển dựa trên mô hình Harrod-Domar, Solow (1956) giới
thiệu một mô hình tăng trưởng mới – Mô hình tăng trưởng Solow (Tân cổ
điển). Trong mô hình tăng trưởng Solow, các tỷ số vốn-sản xuất và vốn-lao
động thay đổi theo nguồn vốn và lao động của nền kinh tế và quá trình sản
xuất. Cũng như mô hình Harrod-Domar, mô hình tăng trưởng Solow cũng
nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết kiệm và vốn đầu tư trong việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Và đóng góp gần đây nhất cho lý thuyết tăng trưởng kinh
bằng duy nhất giữa độ sâu tài chính, tăng trưởng và các biến phụ thuộc. Mối
quan hệ đồng liên kết duy nhất này ngụ ý rằng chỉ có quan hệ nhân quả một
chiều từ độ sâu tài chính đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, một số nhà
nghiên cứu khác cho rằng tăng trưởng kinh tế tạo ra nhu cầu ngày càng cao
đối với các dịch vụ tài chính từ đó tạo ra một sự mở rộng và phát triển trong
lĩnh vực tài chính. Quan điểm này được hỗ trợ bởi Gurley and Shaw (1967),
Goldsmith (1969).
7 2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm
Bên cạnh các nghiên cứu lý thuyết còn tồn tại nhiều nghiên cứu thực
nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Waheed and Younus (2010) đã sử dụng số liệu xuyên quốc gia để phân tích
tác động của phát triển tài chính khu vực và hiệu quả của tài chính khu vực
đến tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển và đang phát triển. Bài nghiên
cứu dùng hai chỉ số tỷ lệ cung tiền M2 so với GDP và tỷ lệ tín dụng tư nhân
so với GDP làm thước đo cho tài chính khu vực và hiệu quả của tài chính khu
vực được đo lường thông qua chỉ số chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi
suất cho vay. Qua phân tích tác giả cho thấy ở các nước đang phát triển hai
chỉ số đại diện cho tài chính khu vực là tỷ lệ cung tiền M2 so với GDP và tỷ
lệ tín dụng tư nhân so với GDP có tác động tích cực và có ý nghĩa thông kê
cao. Từ đây cho thấy tài chính khu vực có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế ở các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, yếu tố đo lường cho tác động của
hiệu quả khu vực tài chính đối với tăng trưởng kinh tế là chỉ số chênh lệch lãi
suất tiền gửi và tiền vay cũng có tác động dương và có ý nghĩa thống kê.
Tương tự như kết quả ở các nước đang phát triển, kết quả hồi quy cũng cho
thấy các chỉ số đo lường cho tài chính khu vực ở các nước phát triển cũng có
tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, chỉ số đại diện cho hiệu quả
tài chính khu vực lại không có ý nghĩa thống kê. Đối với kết quả hồi quy cho
FDI và phát triển tài chính khu vực đến tăng trưởng kinh tế cho một mẫu 44
nước ở khu vực châu Á và châu Đại dương dựa trên phương pháp fix effect -
estimate và random effect - estimate. Qua kết quả hồi quy, tác giả kết luận
rằng FDI có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Về tác động của phát triển
tài chính khu vực đến tăng trưởng kinh tế, không phụ thuộc vào chỉ số sử
9
dụng là khả năng thanh khoản (được đo lường bằng tỷ lệ M3 so với GDP và
có thể thay tế bằng M2 khi M3 không có giá trị) hay tỷ lệ tín dụng tư nhân so
với GDP, kết quả đều thể hiện một tác động nghịch chiều với tăng trưởng
kinh tế và có ý nghĩa thống kê ở cả hai phương pháp ước lượng. Khi xét tác
động của biến tương tác giữa FDI và phát triển tài chính khu vực đối với tăng
trưởng kinh tế, các kết quả kiểm định đều thể hiện một hệ số tác động dương
đối với tăng trưởng ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Hay
nói cách khác, phát triển tài chính khu vực làm tăng đóng góp của FDI trong
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong khu vực và có vai trò quan trọng như nhau
ở các nước phát triển và đang phát triển.
Nyamongo et al (2012) sử dụng dữ liệu bảng của 36 nước châu Phi cho
thời kỳ 1980-2009 để nghiên cứu vai trò của kiều hối và phát triển tài chính
đối với tăng trưởng kinh tế thông qua ước lượng sử dụng mô hình pooled
regression, mô hình FEM và mô hình REM. Mô hình nghiên cứu với biến phụ
thuộc là tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân đầu người – thước đo tăng trưởng
kinh tế. Các biến giải thích bao gồm kiều hối, tính bất ổn của kiều hối và chỉ
số phát triển tài chính được đo lường thông qua tỷ lệ cung tiền M2 so với
GDP và tỷ lệ tín dụng cho khu vực tư so với GDP. Kết quả của nghiên cứu
cho thấy kiều hối có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kiều hối như là
một nguồn lực quan trọng của tăng trưởng đối với các nước Châu Phi trong
thời kỳ nghiên cứu. Mặt khác, tính bất ổn của kiều hối có ảnh hưởng trái
chiều đối với tăng trưởng ở các nước Châu Phi và kiều hối là một yếu tố bổ
sung cho phát triển tài chính. Về vai trò của phát triển tài chính, kết quả
đo lường bằng xuất khẩu cộng nhập khẩu, chi tiêu chính phủ và tỷ lệ lạm phát
để đại diện cho phát triển tài chính và quy mô khu vực. Ngoài ra, tác giả còn
11
nghiên cứu tác động của GDP thực bình quân đầu người ban đầu của mỗi
nước đối với tăng trưởng kinh tế. Kết quả hồi quy cho từng nhóm nước và
toàn mẫu cho thấy rằng mức GDP thực bình quân đầu người ban đầu thấp liên
kết với một mức tăng trưởng kinh tế cao và có ý nghĩa thống kê cho hầu hết
các nhóm nước đang phát triển, ngoại trừ các nước Mỹ Latin và vùng
Caribbean. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thương mại có tác động thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích tăng
trưởng kinh tế. Trong khi đó, chi tiêu chính phủ và lạm phát làm suy giảm
tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn tìm thấy mối quan hệ
thuận chiều giữa tổng tiết kiệm trong nước và tăng trưởng kinh tế. Và cả hai
nhân tố đo lường phát triển tài chính là tín dụng trong nước cung cấp bởi hệ
thống ngân hàng và tín dụng trong nước cho khu vực tư đều có tác động thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Như vậy, qua các kết quả kiểm định, tác giả đưa ra
kết luận trong ngắn hạn tồn tại một mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa phát
triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các khu vực, và ở hai khu vực
nghèo nhất thì chỉ có mối quan hệ một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến phát
triển tài chính.
12
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm
Tác giả Năm
Đề tài nghiên cứu
Phương pháp và mục tiêu
nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
phát triển và đang phát triển.
Phát triển tài chính khu vực là
tác động chủ yếu thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và hiệu
quả của tài chính khu vực là
một tiềm lực quan trọng cho
hiệu quả tăng trưởng kinh tế
trong dài hạn của các nước.
13
Tác giả Năm
Đề tài nghiên cứu
Phương pháp và mục tiêu
nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Chee and Nair 2010 The Impact of FDI and
Financial sector developtment
on Economic growth:
Empirical evidence from Asia
and Oceania.
Sử dụng mô hình FEM và
REM để phân tích tác động
của đầu tư trực tiếp nước
ngoài và phát triển tài chính
khu vực đến tăng trưởng kinh
tế dựa trên dữ liệu bảng.
Phát triển tài chính khu vực
làm tăng đóng góp của FDI
đến việc thúc đẩy tăng trưởng
Mohapatra
2012 Financial Development and
Economic Growth: Evidence
from Indian Economy.
Sử dụng mô hình vector tự hồi
quy để kiểm định mối quan hệ
giữa phát triển tài chính và
tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ.
Kết quả nghiên cứu ủng hộ
quan điểm có mối quan hệ một
chiều từ phát triển tài chính
đến tăng trưởng kinh tế.
Nyamongo et al 2012 Remittances, financial
development and economic
growth in Africa.
Sử dụng mô hình pooled
regression, FEM và REM để
nghiên cứu vai trò của kiều
hối và phát triển tài chính đối
với tăng trưởng kinh tế dựa
trên dữ liệu bảng.
Kiều hối là một nguồn lực
quan trọng cho tăng trưởng
kinh tế ở Châu Phi trong thời
kỳ nghiên cứu. Và phát triển
tài chính có tác động thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
đóng vai trò quan trọng và góp
phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế ở các nước Địa Trung
Hải.
16
3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
3.1. Phương pháp nghiên cứu
3.1.1. Các biến nghiên cứu
Dựa vào các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây, bài nghiên
cứu sử dụng tốc độ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người để đại diện
cho tăng trưởng kinh tế (GROWTH). Bên cạnh đó, để đo lường phát triển tài
chính và quy mô khu vực tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế bài
nghiên cứu sử sụng các nhân tố đại diện là tín dụng trong nước được cung cấp
bởi hệ thống ngân hàng, tín dụng trong nước cho khu vực tư, cung tiền M2,
tổng tiết kiệm trong nước, thương mại được đo lường bằng tổng xuất khẩu và
nhập khẩu, chi tiêu chính phủ và tỷ lệ lạm phát. Việc lựa chọn các nhân tố đại
diện cho phát triển tài chính nêu trên tương đồng với nghiên cứu của Hassan
et al (2011).
Hai yếu tố tín dụng trong nước cung cấp bởi hệ thống ngân hàng và tín
dụng trong nước cho khu vực tư được đưa vào mô hình nghiên cứu nhằm mục
đích kiểm định tác động của phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế. Việc
lựa chọn này có thể được lý giải là do mức độ phát triển tài chính chủ yếu
được thể hiện thông qua mức độ phát triển của hệ thống tài chính. Thêm vào
đó, hệ thống tài chính thực hiện chức năng làm cầu nối giữa tiết kiệm và đầu
tư chủ yếu thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng và các thể chế tài
chính trung gian. Việc phân bổ nguồn vốn tín dụng được hình thành từ nguồn
tiết kiệm đến các thành phần kinh tế sẽ góp phần gia tăng đầu tư trong nền
kinh tế. Thông qua đầu tư, nguồn vốn được tích lũy từ đó dẫn đến tăng trưởng
kinh tế. Kết quả nghiên cứu của Hassan et al (2011) chỉ ra rằng tín dụng trong
khẩu của hàng hóa dịch vụ có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng
vai trò quan trọng trong giải thích tăng trưởng kinh tế.
18
Đối với chi tiêu chính phủ, yếu tố này có thể có tác động tích cực hoặc
tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Khi chi tiêu chính phủ được dùng để cung
cấp các dịch vụ công cho nền kinh tế nhằm bổ sung cho khu vực đầu tư tư
nhân sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, việc chi tiêu cao của khu vực công sẽ làm suy yếu hiệu quả phân
bổ nguồn lực hay tạo ra sự lấn át đối với các khu vực kinh tế hiệu quả hơn sẽ
tạo ra một tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu thực
nghiệm của Hassan et al (2011) đối với các nước đang phát triển cho thấy tỷ
lệ chi tiêu chính phủ so với GDP cao sẽ tạo nên rào cản đối với tăng trưởng
kinh tế.
Bên cạnh đó, để kiểm soát những biến động về giá, nhân tố lạm phát
được đưa vào mô hình nghiên cứu. Qua kết quả của các bài nghiên cứu thực
nghiệm đều cho thấy lạm phát có tác động nghịch chiều với tăng trưởng kinh
tế. Quan điểm này được ủng hộ bởi Christopoulos and Tsionas (2004), Hassan
et al (2011).
Ngoài ra, bài nghiên cứu còn xem xét tác động của GDP thực bình quân
đầu người ban đầu đối với tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu của Barro
(1997) chỉ ra rằng GDP thực bình quân trên đầu người ban đầu thấp được liên
kết với một mức tăng trưởng cao hơn. Điều này có nghĩa là ở những nước có
GDP thực bình quân đầu người thấp sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn
so với những nước có mức GDP thực bình quân đầu người cao hơn. Quan
điểm này cũng được khẳng định trong nghiên cứu thực nghiệm của Hassan et
al (2011).
19
,
+
,
(1)
Trong đó:
GROWTH: là tốc độ tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng tốc độ
tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người.
,
: là log của GDP thực bình quân đầu người và đại diện cho
GDP bình quân đầu người ban đầu.
,
: đại diện cho độ sâu và phát triển tài chính. Đo lường bởi các
biến:
o DCBS: tín dụng trong nước được cung cấp bởi hệ thống ngân
hàng.
o DCPS: tín dụng trong nước cho khu vực tư.
o M2: cung tiền.
GDS: tổng tiết kiệm trong nước.
TRADE: thương mại bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu.
GOV: chi tiêu chính phủ.
INF: tỷ lệ lạm phát.
3.1.3. Phương pháp hồi quy
Mô hình nghiên cứu trong bài sử dụng dữ liệu bảng cho 30 nước đang
phát triển trong thời gian từ năm 1997-2012 được ước tính theo ba phương
pháp: pooled regression, FEM và REM nhằm lựa chọn một phương pháp ước
lượng hiệu quả nhất để kiểm định vai trò của phát triển tài chính đối với tăng
trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Phương pháp ước lượng pooled
− β
. Trong
giới hạn ma trận đồng biến đơn giản được tính bằng Var(β
) – Var(β
), với β
là ước tính của FEM và β
là ước tính của REM.