LUẬN VĂN THẠC SĨ KIỀU HỐI, PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN. - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
  
CAO THỊ NGUYỆT QUẾ KIỀU HỐI, PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ



Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Kiều hối, phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển” là công trình nghiên cứu của riêng
tôi.
Các thông tin dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và các
kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trình
nghiên cứu nào trước đây. Nếu phát hiện có bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu
toàn bộ trách nhiệm trước Hội đồng.

TP.HCM, tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cụm viết tắt
Tên đầy đủ tiếng Anh
Tên đầy đủ tiếng Việt
GMM
Generalized Method of
Moments
Phương pháp Moment
tổng quát
IMF
International Monetary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
OECD
Organization for
Economic Co-operation
and Development
Tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế
OLS
Ordinary Least Square
Phương pháp bình
phương bé nhất
TSLS
Two Stage Least Square

Bảng 8: Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát
triển 46
Bảng 9: Kiểm định biến công cụ 48
Bảng 10: Tác động của tỷ lệ mở rộng cung tiền trên GDP đến tăng trưởng
kinh tế ở các nước đang phát triển 49
Bảng 11: Kiểm định biến công cụ. 51
Bảng 12: Tác động của tỷ lệ tín dụng nội địa trên GDP đến tăng trưởng kinh
tế ở các nước đang phát triển 52
Bảng 13: Kiểm định biến công cụ 53
Bảng 14: Tác động của kiều hối và phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh
tế ở các nước đang phát triển 55
Bảng 15: Kiểm định biến công cụ 58

DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Kiều hối và các nguồn vốn khác đến các nước đang phát triển 9
Hình 2: Các nước nhận kiều hối nhiều nhất trong năm 2012 11
Hình 3: Mười quốc gia có tỷ lệ kiều hối trên GDP lớn nhất năm 2011 13

1

TÓM TẮT
Theo các nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm thì kiều hối của lao
động xuất khẩu, dòng tiền nhận được từ lao động di cư ra nước ngoài, đã
trở thành nguồn tài chính bên ngoài lớn thứ hai cho các nước đang phát
triển trong những năm gần đây. Đề tài nghiên cứu vai trò của kiều hối và
phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế của 27 nước đang phát triển
trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2011. Đề tài sử dụng dữ liệu bảng và
phương pháp moment tổng quát (GMM). Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
gồm hai vấn đề như sau. Thứ nhất kiều hối tác động như thế nào đến tăng
trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển trong suốt thời kỳ nghiên cứu.

Gapen, & Montiel, 2009).
Theo lý thuyết, kiều hối được chuyển theo kênh chính thức và kênh
phi chính thức (World Bank, 2011). Theo Nyamongo và Misati, (2011),
kiều hối chuyển theo kênh chính thức tác động đến sự phát triển trong lĩnh
vực tài chính. Đặc biệt điều này xảy ra khi người nhận kiều hối mở tài
khoản tại ngân hàng thương mại. Thêm vào đó, khi những người nhận tiền
đến ngân hàng họ có thể thu thập thông tin về việc tồn tại các sản phẩm cho
vay của ngân hàng mà họ có thể tận dụng. Nếu tác động này của kiều hối
3

đến lĩnh vực tài chính là có ý nghĩa thì sự phát triển tài chính được kỳ vọng
là cao hơn.
Nhưng theo lý thuyết, sự phát triển tài chính cũng liên kết với đầu tư
tư nhân và tăng trưởng kinh tế (Deodat, (2011); Mindaca, (2009), Misati &
Nyamongo, (2010, 2011); Sufian & Siridopoulos, (2010)). Trên đây là tổng
hợp các bằng chứng lý thuyết cho thấy phát triển tài chính cũng đóng vai
trò quan trọng đến tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu về lý thuyết trước
đó cũng ủng hộ vai trò của phát triển tài chính là Schumpeter (1911), và
gần đây là Hicks (1969). Theo Schumpeter (1911), các giao dịch được cung
cấp bởi các trung gian tài chính là quan trọng cho sự đổi mới và phát triển.
Ông còn chỉ ra rằng các tổ chức tài chính có thể khuyến khích sự đổi mới
và tăng trưởng bởi sự nhận biết và cấp vốn cho đầu tư sản xuất. Quan điểm
tương tự được đưa ra bởi Hicks (1969) đã tìm được vai trò lịch sử của hệ
thống tài chính trong cuộc công nghiệp hoá đầu tiên ở Anh.
Các bằng chứng thêm nữa như Aggarwal và cộng sự (2010) đã chỉ ra
rằng ở đâu có mức độ phát triển tài chính cao hơn thì kiều hối có xu hướng
tác động biên thấp hơn đến tăng trưởng. Điều này, bởi lẽ phát triển tài
chính có khuynh hướng liên kết với thông tin sản xuất về các dự án đầu tư
có thể có và phân bổ nguồn vốn, giám sát các hãng và có ảnh hưởng đến
quản trị doanh nghiệp, thương mại, đa dạng hoá và quản lý rủi ro, huy động

5

1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Căn cứ vào tầm quan trọng gắn liền kiều hối ở các quốc gia đang
phát triển và theo bằng chứng thực nghiệm cũng như trong lý thuyết quan
điểm không rõ ràng tác động của kiều hối đến mối quan hệ phát triển tài
chính và tăng trưởng, thì mối liên kết này đáng để xem xét. Vì vậy đề tài
này đưa ra các đóng góp theo sau:
Phần lớn các nghiên cứu trong lý thuyết khuynh hướng tiến hành
nghiên cứu bảng trong phạm vi toàn cầu nhưng chưa nổi bật lên ở các quốc
gia đang phát triển. Với nghiên cứu cụ thể là các nước đang phát triển sẽ
chỉ ra có hay không đóng góp của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế ở các
quốc gia này. Thứ hai, phần lý thuyết về tăng trưởng kinh tế với khuôn khổ
dữ liệu bảng là rất lớn, trong những năm gần đây có sự liên kết với phát
triển tài chính. Tuy nhiên, không phải phần lớn thấy được vai trò của kiều
hối nhằm tăng cường phát triển tài chính. Thứ ba, nghiên cứu này là mới
bao gồm các dữ liệu mới trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm
2011.
Phần còn lại của luận văn được sắp xếp như sau: lĩnh vực kế đến là
đưa ra các dòng kiều hối, các kênh chuyển tiền của kiều hối và khuynh
hướng kiều hối trên thế giới. Phần thứ hai, cung cấp phần tổng quan các
nghiên cứu trước đây. Trong phần thứ ba, luận văn sẽ phát thảo phương
pháp sử dụng trong nghiên cứu này. Phần thứ tư báo cáo kết quả nghiên
cứu trong khi phần 5 là kết luận và những hạn chế của đề tài. 6

1.2 Các dòng kiều hối
Theo Wordbank (2011) kiều hối của những người di cư được định

chính. Kênh phi chính thức liên quan đến việc chuyển tiền kiều hối chủ yếu
bằng tiền mặt hoặc một cách chuyển tiền do kiều bào trực tiếp mang về
hoặc nhờ các thành viên trong gia đình, bạn bè, người thân mang về, tiền và
hàng hoá được đưa đến người nhận bởi người cư trú trong chuyến viếng
thăm quê hương (Nyamongo, Misati, Kipyegon và Ndirangu (2012)).
Như đã chỉ ra ở lý thuyết, hệ thống chuyển tiền theo kênh phi chính
thức thì hấp dẫn nhiều dân nhập cư bởi vì thứ nhất dễ tiếp cận do không
cần phải mở tài khoản tại ngân hàng và không có tính phức tạp. Thứ hai có
thể che giấu được danh tính bởi không có nguồn gốc nhận diện được yêu
cầu. Thứ ba, rẻ bởi vì chi phí của giao dịch là thấp hơn kênh chính thức.
Thứ tư, nhanh và an toàn bởi vì nó dựa trên kênh thiết lập thông tin phi
chính thức, từ nội bộ những người thân và bạn bè.
Tuy nhiên, kênh phi chính thức có hậu quả sau, thứ nhất, nó gây cản
trở trong việc tập hợp các dữ liệu có giá trị bởi chính phủ về bản chất và
quy mô của kiều hối. Thứ hai, tăng lên các rủi ro của việc sử dụng sai mục
đích của kiều hối cho các hoạt động rửa tiền và các hoạt động tài chính
phạm pháp, những chính sách khủng bố. Điều này có thể mâu thuẫn với
việc chống rửa tiền và pháp luật về chống khủng bố tài chính ở nhiều quốc
gia trên thế giới. Thứ ba, kênh chuyển tiền phi chính thức sẽ làm thu nhỏ sự
phát triển tài chính.
8

Từ các vấn đề nêu trên, một thách thức đặt ra trong việc ước lượng
gần chính xác cường độ của kiều hối. Bởi vì kênh chuyển tiền phi chính
thức của kiều hối sẽ không tập hợp được dữ liệu. Mặc khác, mức độ kiều
hối được chuyển qua kênh phi chính thức rất lớn, có thể cao hơn nhiều so
với kênh chính thức. Hơn nữa ngay cả khi tất cả số kiều hối chuyển theo
kênh chính thức thì độ tin cậy của dữ liệu vẫn có vấn đề (Barajas, Chami,
Fullenkamp, và Garg (2010)). Và số liệu được lấy từ Ngân hàng thế giới
vẫn là nguồn tin cậy nhất và thường là dữ liệu được sử dụng trong kiều hối

gia tăng theo thời gian. Trong những năm từ 1990 đến 1999, dòng kiều hối
có tăng nhưng với mức độ không đáng kể. Từ năm 2000 đến nay, dòng
kiều hối chuyển về các nước đang phát triển tăng nhanh vượt trội so với
khoảng thời gian trước. Và tốc độ tăng trưởng của kiều hối xấp xỉ với đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hơn nữa kiều hối cũng là một nguồn chính
vượt xa nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng như nợ tư nhân
và danh mục vốn chủ sở hữu. 11

Hình 2: Các nước nhận kiều hối nhiều nhất trong năm 2012

Nguồn: Migration and development Brief 20, World Bank 2013

12

Ấn Độ, Trung Quốc, Philippine và Mexico vẫn là những nước nhận kiều
hối nhiều nhất. Các nước nhận nhiều kiều hối khác theo thứ tự là Nigeria,
Ai Cập, Bangladesh, Pakistan, Nigeria, Ai Cập, Việt Nam và Libanon. Đa
số các quốc gia nhận lượng kiều hối lớn trên thế giới là những quốc gia
đang phát triển. Hình 2 thể hiện 10 quốc gia có lượng kiều hối nhiều nhất
trong năm 2012.


La Tinh, Caribe, Đông Á và Thái Bình Dương tăng lên một cách nhanh
chóng hơn trung bình của các nước đang phát triển nói chung (Gupta và
cộng sự, 2007).
Lần đầu tiên kể từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, năm 2011 dòng
kiều hối đổ về tất cả các khu vực đang phát triển đều tăng, trong đó khu
vực Nam Á tăng nhanh nhất tới với 17,6%, khu vực Đông Âu và Trung Á
với 13,5%, khu vực Đông Á và Thái Bình Dương tăng 12,3%, khu vực Mỹ
Latinh và Caribe 7,3%, khu vực Trung Đông và Bắc Phi tăng 6.1%, khu
vực miền Nam sa mạc Sahara tăng 4,9%. Bảng 1 thể hiện lượng kiều hối và
tỷ lệ kiều hối trên GDP ở các nước đang phát triển và chia ra thành từng
khu vực.
15

Bảng 1 : Ước tính kiều hối và tỷ lệ kiều hối trên GDP ở các nước đang
phát triển

Nguồn: Migration and development Brief 20, World Bank 2013
16

2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY.
 Adam (2004) nghiên cứu về kiều hối và đói nghèo ở
Guatemala.
Ông sử dụng dữ liệu về kiều hối của một mẫu gồm 7276 hộ gia đình
ở thành thị và nông thôn Guatemala trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 12
năm 2000 dựa trên dữ liệu về kiều hối nội bộ (từ Guatemala), kiều hối quốc
tế (từ Mỹ) và đói nghèo trong nước này.
Tác giả đo lường tác động của kiều hối đến việc giảm đói nghèo

lạm phát, biến giả miền và tỷ lệ dòng tư bản thực trên GDP.
Nhìn chung, Chami và cộng sự (2003) đã khám phá rằng, tỷ lệ đầu tư
trên GDP và tỷ lệ dòng tư bản thực trên GDP là tương quan dương đến sự
tăng trưởng nhưng tỷ lệ kiều hối trên GDP là không có ý nghĩa thống kê và
có tương quan âm đến sự tăng trưởng. Tuy nhiên, khi thay đổi tỷ số này
bằng việc thêm vào sự thay thế mức độ của biến là sự thay đổi hàng năm
của tỷ lệ GDP. Và hệ số hồi quy của tỷ lệ kiều hối trên GDP là âm và có ý
nghĩa thống kê đến sự tăng trưởng.
Giải thích cho vấn đề nội sinh là nguyên nhân chính của kiều hối
cũng bị ảnh hưởng bởi chính nó, các tác giả sử dụng biến công cụ và tiến
hành hồi quy hai bước với biến công cụ này. Ở đây, hai sự thay đổi trong tỷ
lệ kiều hối trên GDP đều cho thấy mối quan hệ tương quan âm đến sự tăng
trưởng.

Trích đoạn Kết quả nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status