BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------- ----------
CAO THỊ NGUYỆT QUẾ
KIỀU HỐI, PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
---------- ----------
CAO THỊ NGUYỆT QUẾ
KIỀU HỐI, PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH VÀ TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
1.3. Các kênh chuyển tiền của kiều hối ...................................................... 7
1.4. Khuynh hướng kiều hối trên thế giới ................................................... 9
2. Tổng quan những nghiên cứu trước đây ............................................ 16
3. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 33
3.1. Mô hình nghiên cứu ........................................................................... 33
3.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................... 35
3.3. Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................. 37
3.3.1. Mẫu nghiên cứu............................................................................ 37
3.3.2. Nguồn dữ liệu ............................................................................... 39
4. Nội dung và các kết quả nghiên cứu.................................................... 44
4.1. Kết quả nghiên cứu ............................................................................ 44
4.1.1. Thống kê mô tả ............................................................................ 44
4.1.2. Kết quả nghiên cứu chính ............................................................ 46
5. Kết luận ...................................................................................................60
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cụm viết tắt
Tên đầy đủ tiếng Anh
Tên đầy đủ tiếng Việt
GMM
Generalized Method of
Moments
Phương pháp hồi quy hai
bước
World Bank
Ngân hàng thế giới
United Nations
Conference on Trade and
Development
Hội nghị liên hiệp quốc
tế về thương mại và phát
triển
WB
UNCTAD
triển kinh tế
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Ước tính kiều hối và tỷ lệ kiều hối trên GDP ở các nước đang phát
triển ................................................................................................... 15
Bảng 2: Tên các biến sử dụng trong mô hình của Guiliano và Ruiz-Arranz
(2006) .............................................................................................. 21
Bảng 3: Tên biến và cách tính toán các biến của Nyamongo, Misati,
Kipyegon và Ndirangu (2012) ........................................................ 30
Bảng 4: Danh sách các quốc gia trong mẫu nghiên cứu............................... 37
Bảng 5: Tên biến và nguồn thu thập dữ liệu ................................................ 39
phát triển tài chính đến tăng trưởng kinh tế của 27 nước đang phát triển
trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2011. Đề tài sử dụng dữ liệu bảng và
phương pháp moment tổng quát (GMM). Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
gồm hai vấn đề như sau. Thứ nhất kiều hối tác động như thế nào đến tăng
trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển trong suốt thời kỳ nghiên cứu.
Thứ hai phân tích mối quan hệ giữa kiều hối và phát triển tài chính. Các kết
quả chính đạt được của luận văn như sau. Thứ nhất, kiều hối không đóng
vai trò là một nguồn quan trọng đến tăng trưởng kinh tế trong mẫu nghiên
cứu. Thứ hai, kiều hối có vai trò bổ sung cho phát triển tài chính.
2
1. GIỚI THIỆU
Kiều hối của lao động xuất khẩu chuyển về quê hương họ đã tăng lên
trở thành một trong những dòng tài chính lớn nhất đến các nước đang phát
triển, thường được ẩn chứa dưới các nguồn truyền thống như nguồn viện
trợ phát triển chính thức và dòng vốn tư nhân (World Bank (2003, 2004);
Aggarwal (2010), Giuliano & Ruiz –Arranz (2009)). Các bằng chứng thêm
vào đó chỉ ra rằng trong năm 2012, dòng kiều hối trên toàn thế giới được
ước lượng là 529 tỷ USD, trong đó 401 tỷ USD được chuyển về các nước
đang phát triển, tăng 5,3% so với năm 2011 (World Bank, 2013), một
lượng lớn vượt xa nguồn viện trợ phát triển chính thức.
Ngoài ra, lượng kiều hối trong năm 2009 lớn gấp 3 lần số tiền viện
trợ phát triển chính thức (ODA) cũng như xấp xỉ đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) đến các nước đang phát triển (World Bank, 2011).
Và chỉ trong năm 2007, hơn 300 tỷ USD kiều hối của lao động xuất
khẩu được chuyển trên toàn cầu theo kênh chính thức và khoảng nghìn tỷ
USD được chuyển qua kênh phi chính thức (Barajas, Chami, Fullenkamp,
quản trị doanh nghiệp, thương mại, đa dạng hoá và quản lý rủi ro, huy động
và sự hợp nhất các nguồn tiết kiệm, và dễ dàng trao đổi hàng hoá và dịch
vụ. Những chức năng này của tài chính có khuynh hướng mang lại quyết
định tiết kiệm và đầu tư và cải tiến về công nghệ và sau cùng là góp phần
tăng trưởng kinh tế (Misati, (2007), Misati & Nyamingo, (2011)).
Tuy nhiên, theo một hướng khác, kiều hối lại có tác động tiêu cực
đến tăng trưởng vẫn tồn tại trong lý thuyết. Những kiến nghị về tác động
4
tiêu cực của kiều hối đến tăng trưởng bao gồm, thứ nhất, kiều hối xảy ra
trong bối cảnh bất cân xứng thông tin giữa người chuyển và người nhận
kiều hối. Trong trường hợp này những người chuyển tiền thiếu sự kiểm
soát trong việc sử dụng nguồn này của người nhận, vì vậy, người nhận có
thể không dùng các quỹ tiền nhận được cho các dự án đầu tư hoặc hiệu quả
như dự định ban đầu. Thứ hai, bởi vì kiều hối là sự chuyển tiền lớn về gia
đình để tiêu dùng bên cạnh đầu tư, những người tiếp nhận có thể coi như
nguồn quỹ nhận được như là sự thay thế cho thu nhập của người lao động
và tăng lên các hoạt động nhàn rỗi, tác động ngược chiều tới năng suất lao
động và tăng trưởng kinh tế (Chami, Fullenkamp & Jahjah, 2003). Thứ ba,
trong khi kiều hối tăng cường dòng ngoại tệ, kết quả làm tăng tỷ giá hối
đoái có thể làm xói mòn tính cạnh tranh cho các quốc gia phụ thuộc vào
lĩnh vực thương mại (Amuedo-Dorantes & Pozo, 2004)
5
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Căn cứ vào tầm quan trọng gắn liền kiều hối ở các quốc gia đang
phát triển và theo bằng chứng thực nghiệm cũng như trong lý thuyết quan
sống ở nước sở tại là một hay nhiều hơn một năm, họ được đánh giá là cư
trú, không đề cập tình trạng không cư trú. Nếu người di cư sống ở nước sở
tại ít hơn một năm, toàn bộ thu nhập của họ ở nước sở tại được phân loại
như là tiền lương của người lao động.
Mặc dù tình trạng cư trú được hướng dẫn rõ ràng, nhưng nguyên tắc
này thường không được áp dụng bởi các nguyên nhân khác nhau. Nhiều
quốc gia tập hợp dữ liệu dựa trên quyền công dân của lao động di cư hơn là
tình trạng cư trú của họ. Hơn nữa, dữ liệu được chỉ ra toàn bộ hoặc là tiền
lương của người lao động hoặc là kiều hối của lao động xuất khẩu mặc dù
chúng được chia làm hai loại. Khoảng cách giữa hai cách phân loại này
xuất hiện hoàn toàn tuỳ ý, phụ thuộc vào sự ưa thích, thuận tiện, và luật
thuế hoặc dữ liệu sẵn có của mỗi quốc gia.
Sự chuyển tiền của người di cư là tài sản thực của người di cư được
chuyển giao từ một quốc gia này sang một quốc gia khác trong thời gian di
cư (thời gian ít nhất một năm). Bởi vì một số lượng lớn lao động tạm thời
tăng lên, tầm quan trọng của sự chuyển tiền di cư có thể tăng lên.
7
1.3 Các kênh chuyển tiền của kiều hối
Việc chuyển tiền này có thể thông qua kênh chính thức và phi chính
thức. Kênh chính thức liên quan sự chuyển khoản thông qua sử dụng hệ
thống ngân hàng và các tổ chức chuyển tiền. Kênh chuyển kiều hối chính
thức bao gồm các công ty kiều hối, các ngân hàng thương mại được phép
làm dịch vụ chuyển tiền quốc tế, các công ty chuyển tiền, công ty bưu
chính. Kênh phi chính thức liên quan đến việc chuyển tiền kiều hối chủ yếu
bằng tiền mặt hoặc một cách chuyển tiền do kiều bào trực tiếp mang về
hoặc nhờ các thành viên trong gia đình, bạn bè, người thân mang về, tiền và
hàng hoá được đưa đến người nhận bởi người cư trú trong chuyến viếng
9
1.4 Khuynh hướng kiều hối trên thế giới
Hình 1: Kiều hối và các nguồn vốn khác đến các nước đang phát
triển
Nguồn: Migration and development Brief 20, World Bank 2013
10
Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (2013), tổng nguồn kiều hối
toàn cầu trong năm 2012 ước đạt 529 tỷ USD. Lượng kiều hối chính thức
đến các nước đang phát triển được ước lượng là 401 tỷ USD trong năm
2012, chiếm 75,8% trong tổng lượng kiều hối và tăng 5,3% so với năm
2011. Hình 1 thể hiện dòng kiều hối và các nguồn vốn khác đến các nước
đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2012. Điều này cho thấy
quy mô kiều hối đến các nước đang phát triển là rất lớn và có chiều hướng
gia tăng theo thời gian. Trong những năm từ 1990 đến 1999, dòng kiều hối
có tăng nhưng với mức độ không đáng kể. Từ năm 2000 đến nay, dòng
kiều hối chuyển về các nước đang phát triển tăng nhanh vượt trội so với
khoảng thời gian trước. Và tốc độ tăng trưởng của kiều hối xấp xỉ với đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hơn nữa kiều hối cũng là một nguồn chính
vượt xa nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng như nợ tư nhân
và danh mục vốn chủ sở hữu.
11
Hình 2: Các nước nhận kiều hối nhiều nhất trong năm 2012
La Tinh, Caribe, Đông Á và Thái Bình Dương tăng lên một cách nhanh
chóng hơn trung bình của các nước đang phát triển nói chung (Gupta và
cộng sự, 2007).
Lần đầu tiên kể từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, năm 2011 dòng
kiều hối đổ về tất cả các khu vực đang phát triển đều tăng, trong đó khu
vực Nam Á tăng nhanh nhất tới với 17,6%, khu vực Đông Âu và Trung Á
với 13,5%, khu vực Đông Á và Thái Bình Dương tăng 12,3%, khu vực Mỹ
Latinh và Caribe 7,3%, khu vực Trung Đông và Bắc Phi tăng 6.1%, khu
vực miền Nam sa mạc Sahara tăng 4,9%. Bảng 1 thể hiện lượng kiều hối và
tỷ lệ kiều hối trên GDP ở các nước đang phát triển và chia ra thành từng
khu vực.
15
Bảng 1 : Ước tính kiều hối và tỷ lệ kiều hối trên GDP ở các nước đang
phát triển
Nguồn: Migration and development Brief 20, World Bank 2013
16
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY.
Adam (2004) nghiên cứu về kiều hối và đói nghèo ở
Guatemala.
Chami, Fullenkamp, và Jahjah (2003) nghiên cứu về
nguồn kiều hối của lao động xuất khẩu có phải là nguồn vốn cho sự
phát triển không?
Các tác giả sử dụng dữ liệu kiều hối tổng hợp cho mẫu gồm 83 quốc
gia trong khoảng thời gian từ 1970 đến 1998. Nghiên cứu này sử dụng dữ
liệu bảng, hồi quy tốc độ tăng trưởng GDP thực trên đầu người dựa trên tỷ
lệ kiều hối của lao động xuất khẩu trên GDP, tỷ lệ đầu tư trên GDP, tỷ lệ
lạm phát, biến giả miền và tỷ lệ dòng tư bản thực trên GDP.
Nhìn chung, Chami và cộng sự (2003) đã khám phá rằng, tỷ lệ đầu tư
trên GDP và tỷ lệ dòng tư bản thực trên GDP là tương quan dương đến sự
tăng trưởng nhưng tỷ lệ kiều hối trên GDP là không có ý nghĩa thống kê và
có tương quan âm đến sự tăng trưởng. Tuy nhiên, khi thay đổi tỷ số này
bằng việc thêm vào sự thay thế mức độ của biến là sự thay đổi hàng năm
của tỷ lệ GDP. Và hệ số hồi quy của tỷ lệ kiều hối trên GDP là âm và có ý
nghĩa thống kê đến sự tăng trưởng.
Giải thích cho vấn đề nội sinh là nguyên nhân chính của kiều hối
cũng bị ảnh hưởng bởi chính nó, các tác giả sử dụng biến công cụ và tiến
hành hồi quy hai bước với biến công cụ này. Ở đây, hai sự thay đổi trong tỷ
lệ kiều hối trên GDP đều cho thấy mối quan hệ tương quan âm đến sự tăng
trưởng.