PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI (M&A) NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM PHẠM NGỌC THUẬN PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ
MUA LẠI (M&A) NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.34.02.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


PHẠM NGỌC THUẬN MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SÁP NHẬP, MUA LẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI 4
1.1.Khái niệm sáp nhập và mua lại ( M&A) ngân hàng 4
1.2. Nguyên tắc M&A . 5
1.2.1.Sự khác nhau giữa sáp nhập và mua lại 5
1.2.2.Vấn đề định giá trong M&A . 6
1.3.Các hình thức sáp nhập và mua lại 9

2.1.1.Quản lý của Nhà nước về mua bán, sáp nhập trong lĩnh vực Ngân hàng 39
2.1.1.1 Quan điểm của Nhà nước về M&A Ngân Hàng 39
2.1.1.2. Các luật điều chỉnh chung cho hoạt động sáp nhập và mua lại 40
2.1.1.3. Các văn bản quy định hoạt động hoạt động sáp nhập và mua lại trong lĩnh
vực ngân hàng 41
2.2.2. Thực trạng hoạt động sáp nhập, mua lại của các ngân hàng thương mại cổ
phần ở Việt Nam trong thời gian qua 42
2.2.2.1.Giai đoạn 1997-2005 42
2.2.2.2 Giai đoạn từ năm 2005 tới nay 45
2.2.Đánh giá hoạt động M&A trong ngành Ngân Hàng 53
2.2.1.Những kết quả đạt được 53
2.2.1.1.Giúp các ngân hàng nhỏ tránh khỏi sự sụp đổ 53
2.2.1.2.Góp phần củng cố,sắp xếp lại ngành ngân hàng 54
2.2.1.3.Giúp lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính của hệ thống ngân
hàng ở Việt Nam 54
2.2.1.4. Nhận được sự hỗ trợ về công nghệ, quản lý từ tập đoàn tài chính nước
ngoài…………………………………………………………………………………54
2.2.1.5.Hình thành các tập đoàn tài chính 55
2.3.2.Những tồn tại 55
2.2.2.1.Những tồn tại về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động M&A hiện
hành…………………………………………………………………………… 55
2.2.2.2.Hạn chế trong việc định giá 57
2.2.2.3.Thiếu các tổ chức trung gian 58
2.2.2.4. Nguồn nhân sự chưa đáp ứng 59
2.2.2.5.Yếu tố tâm lý 59
2.2.2.6.Văn hóa không tương thích 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62

3.3.2.3.Nâng cao vai trò của NHNN Việt Nam trong định hướng và xây dựng lộ
trình hoạt động M&A ngân hàng 82
3.3.2.4.Xây dựng kênh kiểm soát, thanh tra thông tin trong hoạt động M&A. 84
3.3.3.Một số đề xuất, kiến nghị khác 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 87
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
STT Nguyên văn tiếng Anh và tiếng Việt Chữ viết tắt
1 Capital asset pricing model: Mô hình định giá tài sản vốn CAPM
2 Merger& Acquisition: sáp nhập, mua lại M&A
3 Leveraged Buyout: Đòn bẩy tài chính LBO
4 Price to Earnings: hệ số giá trên thu nhập một cổ phần. P/E
5 Weight Average Cost of Capital WACC
6 World Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới WTO
7 United Overseas Bank: Ngân hàng của Singapo UOB
8 Ngân hàng nhà nước NHNN
9 Ngân hàng thương mại NHTM
10 Ngân hàng thương mại cổ phần NHTMCP
11 Tổ chức tín dụng TCTD

1 Biểu đồ 1.1: Hoạt động M&A trên thế giới giai đoạn 2000-2010 27
2 Biểu đố 1.2: Hoạt động M&A tài chính ngân hàng Châu Âu 31 1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những tháng đầu năm 2008 thị trường tài chính-ngân hàng trên thế giới nói chung và
Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Hàng loạt các
ngân hàng lớn trên thế giới phá sản. Thị trường chứng khoán sụt giảm trầm trọng bất
chấp sự can thiệp từ phía nhà nước. Tại Việt Nam, thị trường tài chính chứng kiến một
năm đầy biến động. Tính thanh khoản thị trường thấp, lãi suất thị trường liên tục biến
động do cuộc chạy đua tìm kiếm nguồn vốn huy động đã tạo nên mức lãi suất kỉ lục tại
thị trường Việt Nam cá biệt có ngân hàng đẩy mức lãi suất lên 20%. Dẫn đến hiện
tượng dịch chuyển nguồn vốn từ ngân hàng này sang phía ngân hàng khác mà không
tạo nên sự tăng trưởng đáng kể số dư tiền gửi tại các ngân hàng. Có thể nhận thấy áp
lực thực sự trong năm 2009 và đầu năm 2010. Liệu các ngân hàng thương mại Việt

Mitsubishi Tokyo Financial Group mua lại UFJ Holding vào năm 2005, JP Morgan
Chase mua Bank One năm 2004 sáp nhập hợp nhất mua lại ngân hàng trên thế giới
đang diễn ra liên tục cho thấy đây không phải một hiện tượng ngẫu nhiên mà là một xu
hướng trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và toàn cầu hoá. Các ngân hàng đã tìm
được những lợi ích đáng kể từ sự sáp nhập. Ngân hàng hiện đại đòi hỏi qui mô lớn tiềm
lực mạnh mới đủ năng lực cạnh tranh, phát triển sản phẩm dịch vụ mới, nâng cao tính
tiện ích của các sản phẩm tài chính, cắt giảm chi phí kinh doanh, nâng cao hiệu quả
hoạt động. các ngân hàng nhỏ và yếu không đủ tiềm lực để đổi mới sẽ mất dần thị phần
dễ dàng tụt hậu trong mội trường cạnh tranh quyết liệt. Dẫn đến hệ quả tất yếu là bị các
ngân hàng lớn thâu tóm, sáp nhập. Các ngân hàng thương mại lớn hoặc trung bình
muốn gia tăng thị phần, tiềm lực cạnh tranh không còn cách nào hiệu quả hơn là liên
kết với nhau để trở thành một tập đoàn tài chính vững mạnh nhờ vào sự cộng lực. Đó là
lý do tại sao tác giả chọn đề tài : “ Phát triển hoạt động sáp nhập, mua lại (M&A)
Ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
3

2. Mục tiêu, nội dung, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất làm rõ các khái niệm về sáp nhập, mua lại, hợp nhất các phương thức thực
hiện thương vụ M&A ngân hàng, các lợi ích và hạn chế của hoạt động này, Thứ hai
nghiên cứu các hoạt động sáp nhập, mua lại trên thế giới và rút ra kinh nghiệm cho
hoạt động sáp nhập, mua lại tại Việt Nam. Sau đó tiến hành tìm hiểu thực trạng hoạt
động sáp nhập, mua lại ngân hàng Thương mại tại Việt Nam. Qua đó rút ra những kết
quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế của hoạt động sáp nhập, mua lại tại Việt
Nam. Cuối cùng theo các kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra một số giải pháp giúp đỡ
các ngân hàng TMCP Việt Nam thực hiện thành công thương vụ sáp nhập, mua lại .
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tương và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề sáp nhập, mua lại ngân
hàng thương mại tại Việt Nam.
2.3. Phương pháp nghiên cứu

M&A được xem là hành vi tập trung kinh tế thuộc nhóm các hành vi hạn chế cạnh
tranh.
Hiện nay tại Việt Nam có nhiều tài liệu bàn về sáp nhập và mua lại, tuy cách thức
trình bày có khác nhau nhưng về nội dung thì các tài liệu khá thống nhất (xem phụ lục
1). Tóm lại có thể hiểu như sau:
Sáp nhập là hình thức kết hợp của hai hay nhiều tổ chức để lập nên một tổ chức duy
nhất có quy mô lớn hơn. Nói theo quan điểm sở hữu thì sáp nhập là khái niệm để chỉ
một công ty tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với một công ty khác thông qua
thâu tóm toàn bộ hoặc một tỷ lệ cổ phần hoặc tài sản công ty mục tiêu đủ để có thể
khống chế toàn bộ các quyết định của công ty đó. Tỷ lệ này có thể khác nhau tùy thuộc
quy định cụ thể trong Luật của từng nước. Kết quả của sự sáp nhập này là một công ty
sống sót ( công ty sáp nhập), vẫn giữ được tên và đặc thù của mình; công ty còn lại
5

ngưng tồn tại hoặc trở thành công ty con của công ty sáp nhập. Trong khi đó hợp nhất
công ty là khái niệm hai hay một số công ty cùng thỏa thuận chia sẽ tài sản, thị phần,
thương hiệu với nhau để hình thành một công ty hoàn toàn mới (có thể gộp tên hai
công ty cũ), trong khi đó chấm dứt sự tồn tại của các công ty cũ. Mua lại là hành động
trở thành chủ sở hữu của một tài sản nhất định. Công ty mua lại gọi là công ty đi mua
(Acquirer), công ty được mua gọi là công ty mục tiêu (Target). Trong trường hợp mua
lại công ty, công ty mục tiêu trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty mua lại.
Trong hoạt động mua lại, công ty có thể chọn một trong các cách tiến hành mua lại
như sau:
- Mua lại cổ phiếu: công ty mua lại có thể dùng tiền để mua lại các cố phiếu biểu
quyết, cổ phần, hoặc các chứng khoán của công ty mục tiêu. Khoản tiền này được chia
cho các cố đông của công ty mục tiêu.
- Mua lại tài sản: một công ty có thể mua lại tất cả hoặc phần lớn tài sản công ty
mục tiêu, trong một số trường hợp trên thực tế công ty mục tiêu sẽ chấm dứt hoặc
động.
Về bản chất thì sáp nhập, hợp nhất, mua lại là khác biệt, tuy nhiên nếu xét về tác

ra giá trị công ty, cộng lại sau đó lấy tài sản trừ đi các khoản nợ để tính ra giá trị sổ
sách của vốn cổ đông. Phương pháp này có điểm hạn chế là chưa tính đến yếu tố thu
nhập của công ty được tạo ra từ tài sản. Với đặc điểm như vậy phương pháp này không
áp dụng được cho những công ty hoạt động chủ yếu là phân phối sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ. Tuy nhiên, đây là phương pháp phù hợp với các công ty sản xuất hoặc các
công ty quản lý tài sản vì chức năng hoạt động chính của chúng ta là quản lý các tài sản
tạo ra thu nhập . Đối với ngân hàng và các tổ chức tài chính, phương pháp đánh giá tài
sản tỏ ra rất hữu ích. Chẳng hạn đối với ngành Ngân hàng tài sản chủ yếu là các tài sản
tài chính và đặc trưng của tài sản tài chính là được định giá lại trên thị trường nên tài
sản của Ngân hàng có sự thay đổi.
7

1.2.2.2.Định giá dựa trên giá trị thị trường
Các tỷ số thường được sử dụng là:
+ Tỷ số P/E (price to Earnings): Tỷ lệ P/E chỉ ra rằng thị trường chấp nhận trả giá
gấp bao nhiêu lần thu nhập của một chứng khoán. Có nghĩa là lượng vốn hóa của một
doanh nghiệp gấp bao nhiêu lần so với thu nhập của nó. Phần thu nhập này có thể phân
phối hoặc giữ lại, nó tạo ra một giá trị thặng dư trong tương lai đối với doanh nghiệp.
Theo quan điểm này, tỷ lệ P/E là một công cụ hết sức quý giá, bởi vì trong nền kinh tế
thường diễn ra hoạt động đầu tư một lượng vốn để đổi lấy hy vọng vào những khoản
lợi nhuận hoặc giá trị thặng dư tương lai. Việc biết được giá trị lượng vốn bỏ ra để có
được những khoản thu nhập liên tục là điều hết sức quan trọng. Như vậy, bên mua có
thể so sánh mức P/E trung bình của cổ phiếu trong ngành để xác định mức chào mua
một cách hợp lý.
P/E= thị giá cổ phiếu / thu nhập cố phiếu.
+ Tỷ giá P/S (Price to share)=Giá mua/doanh số
+ Tỷ số EPS ( Earning Per Share)= lợi nhuận ròng/ Số cổ phiếu đang lưu hành.
Ngoài ra còn có thể sử dụng các tỷ số khác như: Giá thị trường trên giá trị sổ sách,
lợi nhuận trước lãi, thuế và khấu hao…
1.2.2.3.Định giá dự trên thu nhập ( Incom based method)

- Ri là suất sinh lợi kỳ vọng của một danh mục tài sản i bất kỳ
- Rf là lợi nhuận phi rủi ro
- Rm là lợi nhuận kỳ vọng của danh mục thị trường
- βi là hệ số beta thị trường của danh mục tài sản i.
Như vậy giá trị doanh nghiệp: Ngoài ra khi tính dòng ngân lưu tự do người ta có thể sử dụng tỷ số giá mua trên
dòng tiền để quyết định có thực hiện M&A hay không. Theo kinh nghiệm của một số
nước trên thế giới, trong một giao dịch M&A tỷ số giá mua trên dòng tiền thường dao
động từ 6 đến 7. Nếu tỷ số này lên đến 8 hoặc 9 thì giao dịch mua lại được coi là mắc,
khi tỷ số này vượt quá 10 thì không nên mua công ty.
Tuy có nhiều phương pháp định giá nhưng không có một phương thức định giá đại
trà nào phù hợp cho mọi trường hợp M&A, vì mỗi một doanh nghiệp mục tiêu đều có
WACC= (W
D
*r
D
)+(W
p
*r
p
)+(W
e
*r
e
)
Ri = Rf +

βi x

cho loại hình sáp nhập này. Cả 4 công ty ra đời đều dựa trên sự sáp nhập của các công
ty kiểm toán khác nhau: KPMG là sự sáp nhập giữa KMG Group và Peat Marwick
International. Deloitte& Touche là sự sáp nhập giữa Deloitte Askins &Sells và Touch
Ros. Pricewaterhousecoopers được hình thành từ sự sáp nhập giữa Price Waterhouse
và Coopé & Lybrand. Ernst &Young kết quả của việc sáp nhập giữa Ernst & Whinney
và Arthur Young.
1.3.1.2.Sáp nhập theo chiều dọc (vertical merger)
Khác với sáp nhập theo chiều ngang, sáp nhập theo chiều dọc diễn ra giữa hai hoặc
một số công ty nằm ở những giai đoạn khác nhau của một quy trình sản xuất hoặc cung
cấp dịch vụ. Các công ty sáp nhập theo chiều dọc có quan hệ người mua- người bán với
10

nhau. Trong sáp nhập theo chiều dọc, một công ty có thể sáp nhập với hai hoặc một số
công ty là nhà cung cấp của mình (gọi là sáp nhập về phía sau), hoặc sáp nhập với các
công ty có quan hệ thân cận trong hệ thống phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng
(gọi là sáp nhập về phía trước). Sáp nhập về phía sau diễn ra khi một nhà sản xuất tìm
được nhà cung cấp nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tìm được công ty mua sản phẩm
của mình một cách thường xuyên. Sáp nhập theo chiều dọc giúp tiết giảm được các chi
phí cố định như chi phí lưu kho, vận chuyển, các chi phí giao dịch như chi phí tìm
kiếm đối tác có giá cả hợp lý, chi phí thương thảo giao kết hợp đồng… Truyền đạt
thông tin trong suốt và hiệu quả hơn hạch định hàng tồn kho chính xác hơn.
1.3.1.3.Sáp nhập hỗn hợp ( Conglomerage merger)
Sáp nhập hỗn hợp là trường hợp xảy ra đối với các công ty hoạt động ở các lĩnh vực,
các ngành nghề kinh doanh khác nhau, không có quan hệ người mua-người bán và
cũng chẳng phải là đối thủ cạnh tranh của nhau. Những công ty theo đuổi chiến lược đa
dạng hóa các dãy sản phẩm sẽ lựa chọn chiến lược sáp nhập hỗn hợp. Bởi vì nếu một
công ty tham gia vào nhiều lĩnh vực sản xuất, họ khó có thể đáp ứng được cùng lúc các
yêu cầu về quản trị, nghiên cứu, kỹ thuật, maketing… Thay vì vậy, công ty này có thể
sáp nhập với công ty đang hoạt động trong lĩnh vực mà mình muốn nhắm đến để thông
qua công ty bị sáp nhập có thể thâm nhập vào lĩnh vực đó.

tránh được chi phí chuyển nhượng đắt đỏ.
Nhưng không phải lúc nào thương lượng cũng thành công nên để đạt mục đích của
mình, công ty đi mua sẽ bằng mọi cách mua lại công ty khác cho dù công ty mục tiêu
có thích hay đồng tình hay không. Hành động thôn tính này được thực hiện thông qua
hành động âm thầm mua lại các cổ phiếu đang giao dịch trên thị trường chứng khoán từ
các nguồn khác ngoài các cổ phiếu của hội đồng quản trị , cuối cùng đạt được tỷ lệ đa
số và nắm quyền kiểm soát công ty. Điều này cũng không dễ thực hiện trừ khi cổ phần
12

của công ty mục tiêu sở hữu rộng rãi và dễ mua lại( tức là thanh khoản cao). Mua lại
với hình thức thôn tính được xem là hành động cướp công ty.
1.3.4.Dựa trên phương thức tiến hành tài trợ
Tùy theo công ty đi mua được tài trợ bằng vốn tự có hay bằng nợ, có hai cách mua
lại như sau:
1.3.4.1. Mua công ty bằng nguồn vốn vay (Leveraged buyouts-LBOs)
LBOs diễn ra khi có một công ty vay nợ ( lên đến 90% đến 100% giá trị thương vụ)
để đi mua một công ty mục tiêu. Cách thức phổ biến là công ty mua lại sẽ sử dụng
phương thức vay ứng trước, đồng thời phát hành trái phiếu ra công chúng hoặc cho một
số cá nhân để vay tiền, (loại trái phiếu này được xếp vào dạng trái phiếu có lãi suất cao
và rủi ro cũng rất cao). Thông thường công ty đi mua sẽ sử dụng tài sản của mình để
thế chấp và sử dụng dòng lưu chuyển tiền tệ của công ty mục tiêu như nguồn hoàn trả
các khoản nợ. Cuối cùng, công ty đi mua sẽ bán công ty mục tiêu cho một công ty khác
dưới hình thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), hoặc trả lãi cho chính
mình nếu tiếp tục tái tài trợ. Phần lớn các công ty được mua lại theo hình tài trợ như
thế này đều hy vọng hoạt động kinh doanh tiến triển có thể đem lại khoản lợi nhuận
đầu tư trên 20%.
1.3.4.2.Mua công ty bằng sử dụng vốn chủ sở hữu (Management Buyouts- MBOs)
MBOs là trường hợp mua lại đặc biệt, xảy ra khi một ai đó mua lại phần lớn cổ phiếu
công ty từ những người chủ thực sự để chuyển từ vị trí quản trị làm công ăn lương sang
vị trí làm chủ doanh nghiệp. Mục đích của việc mua lại này có thể là để gia tăng khả

ích mà M&A đem lại.
1.4.1.1.Hợp lực thay thế cạnh tranh
Chắc chắn số lượng tham gia sẽ giảm đi khi có một vụ sáp nhập hoặc hợp nhất giữa
các công ty vốn là đối thủ cạnh tranh trên thương trường; cũng có nghĩa là sức nóng
cạnh tranh không những giữa các bên tham gia mà cả thị trường nói chung sẽ được hạ
14

nhiệt. Hơn nữa, tư duy cùng thắng (win-win) đang ngày càng chiếm ưu thế so với tư
duy cũ thắng-thua (win-lose). Sáp nhập đã tạo nên một mạng lưới công ty, mà trong đó
không có xung lực cạnh tranh nào đối lập hẳn với nhau, ngưng lại tất cả chỉ cùng chung
một mục tiêu phục vụ khách hàng tốt hơn và giảm chi phí để tạo lợi nhuận cao và bền
vững. Thậm chí các công ty lớn có thể ngồi lại với nhau để thương lượng phương án
sáp nhập nhằm tăng cường sức mạnh kinh tế và vị thế cạnh tranh trên thị trường. Chính
vì xu thế xóa bỏ bớt đối thủ cạnh tranh trên thị trường mà hoạt động sáp nhập trong các
ngành diễn ra khá sôi nổi, mức độ tập trung của thị trường cao và các công ty được
hưởng những ưu thế của độc quyền nhóm.
1.4.1.2.Nâng cao hiệu quả và tiết kiệm chi phí:
Thông qua sáp nhập và mua lại, các công ty có thể tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ
qui mô (Economic of Scale) khi nhân đôi thị phần, giảm chi phí cố định, chi phí nhân
công, chắt lọc những giá trị tinh túy nhất từ đội ngũ hợp nhất của hai công ty về hệ
thống Marketing, bán hàng, phân phối sản phẩm, giảm chi phí huy động vốn trên thị
trường. Các công ty còn có thể bổ sung cho nhau về nguồn lực và các thế mạnh khác
nhau như thương hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền công nghệ, cơ sở khách hàng,
hay tận dụng những tài sản mà mỗi công ty chưa sử dụng hết giá trị.
Bên cạnh đó, khả năng tiết giảm số lượng nhân viên với quy mô lớn và các khoản tiết
kiệm chi phí từ việc loại bỏ những yếu tố trùng lắp của hai công ty như hệ thống phân
phối, tiếp thị, các trụ sở, hệ thống mạng máy tính… Do đó giúp làm tăng doanh thu, lợi
nhuận và gia tăng giá trị cho cổ đông. Trường hợp của Bank of America sáp nhập với
công ty chứng khoán Security Pacific để tạo thành công ty- ngân hàng lớn thứ hai tại
Mỹ vào năm 1992. Sau khi sáp nhập, gần 500 chi nhánh đóng cửa đã đem lại khoản tiết

1.4.1.5.Giải cứu các công ty bên bờ vực phá sản
Một nguyên nhân nữa ủng hộ cho hoạt động sáp nhập và mua lại là làm giảm thiểu
rủi ro dòng lưu chuyển tiền tệ cho công ty, từ đó giảm thiểu rủi ro dòng thu nhập. Bởi
16

lẻ sáp nhập làm tăng quy mô và tăng uy tín của hai công ty gộp lại, nó mở ra thị trường
mới với những đặc điểm kinh tế mới, cho phép thực hiện các dịch vụ mới với dòng lưu
chuyển tiền tệ mới mà dòng lưu chuyển tiền tệ hiện tại không thực hiện được. Ngoài ra,
một công ty lớn sẽ có tiềm lực tài chính và những điều kiện vững vàng để chóng chọi
rủi ro tốt hơn một công ty nhỏ trước điều kiện thị trường cạnh tranh khốc liệt đầy biến
động như ngày nay, nhất là những cú sốc bất ngờ của nền kinh tế không thể lường
trước được.
Sự khủng hoảng có nguy cơ dẫn đến sự phá sản của các tổ chức thường là các cơ hội
cho các thương vụ sáp nhập. Do đó, sáp nhập giúp cho các công ty được giải cứu thoát
khỏi bờ vực phá sản. Đối với ngành ngân hàng, nhiều cuộc sáp nhập đã diễn ra như
một liều thuốc hữu hiệu để đảm bảo an toàn hệ thống tài chính và quan trọng hơn là
tránh hiệu ứng Đôminô khi có một tổ chức sụp đỗ, làm mất lòng tin của các công
chúng vào ngân hàng.
Bên cạnh những lợi ích to lớn trên thì sáp nhập và mua lại còn mang lại lợi ích về
thuế như:
 Lợi nhuận những khoản lỗ trong thu nhập của công ty mục tiêu để giảm bớt
khoản thu nhập thuế.
 Khi vay nợ để mua lại công ty mục tiêu, công ty sáp nhập được hưởng lá chắn
thuế.
 Thông qua sáp nhập và mua lại, công ty ghi tăng chi phí do ghi tăng tài sản khấu
hao, do đó khoản giảm trừ khi tính thuế sẽ nhiều hơn.
Ngoài ra, một lợi ích vô hình khác. Thông qua sáp nhập và mua lại sẽ góp phần thu
hút rất đông đảo giới báo đài truyền thông, các nhà quản trị và cổ đông ngoài lợi ích tối
đa giá trị của mình, họ còn có cơ hội tiếp thị hình ảnh và đánh bóng tên tuổi của mình.
Một thương vụ sáp nhập và mua lại thành công có thể làm cho uy tín của người lãnh

Trích đoạn Các văn bản quy định hoạt động hoạt động sáp nhập và mua lại trong lĩnh Nguồn nhân sự chưa đáp ứng Các Ngân hàng cùng quy mô và cùng chiến lược phát triển sáp nhập vớ Lựa chọn phương pháp định giá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status