TIỂU LUẬN MÔN HÀNH VI TỔ CHỨC PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC ĐỘNG VIÊN SINH VIÊN HỌC TẬP - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN MÔN: HÀNH VI TỔ CHỨC
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC
ĐỘNG VIÊN SINH VIÊN HỌC TẬP
LỚP: QTKD – VB2 – TỐI THỨ 2
GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
SVTH: NHÓM 12
THÂN THỊ MỸ LINH STT: 36
NGUYỄN QUANG MINH STT: 45
VÕ THỊ THANH VÂN STT: 104
Tp. Hồ Chí Minh 09/2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TIỂU LUẬN MÔN: HÀNH VI TỔ CHỨC
ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC
ĐỘNG VIÊN SINH VIÊN HỌC TẬP
LỚP: QTKD – VB2 – TỐI THỨ 2
GVHD: ThS. NGUYỄN VĂN CHƯƠNG
SVTH: NHÓM 12
THÂN THỊ MỸ LINH STT: 36
NGUYỄN QUANG MINH STT: 45
VÕ THỊ THANH VÂN STT: 104
Tp. Hồ Chí Minh 09/2014
2
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC
ĐỘNG VIÊN SINH VIÊN HỌC TẬP

những hoạt động tích cực hoặc tiêu cực đối với môn học. Tính tích cực, tự giác, niềm say mê
trong học tập, nghiên cứu là yếu tố góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đại học (Nguyễn
Thị Chi và cộng sự, 2010). Nếu người học có thái độ tiêu cực đối với việc học, họ không thể
tiếp tục và đạt được những yêu cầu cần thiết đối với kết quả học tập của mình. Thay đổi thái
độ tiêu cực của người học là một quá trình đòi hỏi phải xác định được những yếu tố tác động
tới thái độ học tập và đưa ra những phương án giải quyết thích hợp.
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra mối quan hệ ảnh hưởng tích cực của
các yếu tố khách quan và chủ quan đến thái độ học tập của sinh viên, nhưng phần lớn các
nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu thái độ của sinh viên đối với một số lĩnh vực cụ thể,
chưa có nhiều nghiên cứu phản ánh thái độ học tập của người học tại trường đại học. Ngoài
ra, môi trường giáo dục đại học Việt Nam có rất nhiều khác biệt so với các nước trong khu
vực và trên thế giới.
Tại Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, do nhu cầu công việc và nhu cầu nâng
cao tri thức của sinh viên ngày càng cao, lượng sinh viên theo học hệ văn bằng 2 khá đông.
Tuy nhiên, ảnh hưởng của công việc và nhiều yếu tố khác đã làm cho việc học chưa thực sự
đạt hiệu quả cao. Điều này thể hiện ở số lượng sinh viên tới lớp ít, sinh viên tiếp thu bài giảng
chưa hiệu quả, học tập mang tính đối phó và số lượng sinh viên tốt nghiệp chưa cao.
Do đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố tác động đến việc
động viên sinh viên học tập để từ đó làm cơ sở tham khảo cho các hoạt động quản lý, giảng
4
dạy, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo Hệ văn bằng 2 tại trường Đại học Kinh tế thành
phố Hồ Chí Minh.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cu này h  ng  n nhng mc tiêu sau
- Nghiên cu nhng nhân t nh h  ng ti   ng c thúc   y vic hc tp ca sinh viên
 i hc h vn bng 2.
-   xut mt s gii pháp nhm   ng viên sinh viên hc tp.
3. PHƯƠNG PHÁP, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện qua 2 giai đoạn, nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.

Phương pháp điều tra xã hội học qua bảng hỏi
Phương pháp chuyên gia
Phương pháp thống kê toán học (sử dụng phần mềm SPSS, phiên bản 12 để phân tích và xử lý
số liệu).
4. KẾT CẤU NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã xác định được những yếu tố trong môi trường giáo
dục có tác động tới thái độ học tập của người học. Một môi trường giáo dục bao gồm rất
nhiều các yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài tác động đến người học, từ đó hình thành nên cấu
trúc của hoạt động học tập (Phạm Hồng Quang, 2006).
Quá trình động viên là một quá trình cố gắng hết mình để đạt được mục tiêu của tổ chức trong
điều kiện một số nhu cầu được thỏa mãn. Để động viên sinh viên học tập cần xác định rõ 2
nhóm yếu tố tác động đến động cơ học tập của sinh viên là sự tác động từ môi trường bên
ngoài và sự nỗ lực của bản thân (Nguyễn Hữu Lam, 2011).
Do vậy giả thiết nghiên cứu cho rằng có 2 nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến động cơ học
tập của sinh viên là nhóm các yếu tố liên quan đến môi trường bên ngoài và nhóm các yếu tố
cá nhân
6
4.1. Yếu tố liên quan đến môi trường bên ngoài
Triết lý đào tạo
Bấy lâu nay các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được thiết kế, xây dựng, hình thành, vận
hành và hoạt động trong thực tế nhưng lại thiếu sự thể hiện chính thức các tư tưởng/giá trị cốt
lõi có tác dụng chỉ đạo và định hướng toàn bộ các hoạt động có liên quan trong môi trường
giáo dục của cơ sở đào tạo. Đó là tuyên bố của nhà trường về triết lý đào tạo, phản ánh các
giá trị mà nhà trường theo đuổi; đó là sự cam kết của nhà trường trước người học và xã hội về
lý do tồn tại và phát triển của nhà trường, phản ánh sự dấn thân không mệt mỏi của tất cả các
thành viên, tổ chức trong cơ sở đào tạo để hiện thực hóa và khẳng định các giá trị ấy trong
thực tế; đó là nền móng cơ bản định vị chất lượng đào tạo và tạo ra sự phát triển bền vững của
nhà trường. Quan trọng hơn, các giá trị (có thật) ấy được thể trong triết lý đào tạo của cơ sở
giáo dục đại học mang lại niềm tin và sự tự hào của sinh viên với tư cách là thành viên. Chính
điều này, một cách vô hình nhưng hữu dụng, có tác dụng đáng kể trong việc động viên tinh

tích cực là do bản thân sinh viên tạo ra (cộng hưởng cùng với tác động của giảng viên qua
phương pháp giảng dạy) chứ không phải do chính cơ chế quản lý đào tạo áp đặt. Do đó, có thể
nói, học chế niên chế chưa mang lại tính tích cực học tập của sinh viên một cách triệt để. Tức
là, sinh viên chưa thể hiện đầy đủ vai trò chủ thể của mình trong quá trình học tập, chẳng hạn
như trong việc xây dựng kế hoạch học tập cá nhân một cách linh hoạt, chủ động. Về mặt lý
thuyết, học chế tín chỉ khắc phục được hạn chế này của học chế niên chế.
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ thực tiễn trong quản lý đào tạo hiện nay, tính tích cực học tập của
sinh viên chưa thể hiện đúng như kỳ vọng từ học chế tín chỉ mang lại. Một phần do các điều
kiện và nguồn lực đầu tư cho sự vận hành của học chế này chưa đáp ứng đầy đủ (tỉ lệ bình
quân giảng viên/sinh viên; tỉ lệ bình quân môn học/giảng viên phụ trách; hệ thống cố vấn học
tập; quy chế học vụ; các chương trình quản lý đào tạo ứng dụng công nghệ thông tin…); mặt
khác, chính sinh viên cũng chưa được trang bị những kỹ năng cần thiết nên chưa thích ứng tốt
với phương thức học tập theo học chế tín chỉ (như kỹ năng lập kế hoạch học tập; kỹ năng tự
học, tự nghiên cứu…).
Theo chúng tôi, nhìn chung, cơ chế quản lý đào tạo theo tín chỉ là cần thiết trong giáo dục đại
học hiện nay nhưng để qua đó góp phần hình thành và nâng cao tính tích cực học tập của sinh
viên thì vấn đề mấu chốt ở đây là cần thực thi kết hợp các giải pháp quản lý như: (1) tăng
cường tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các chuyên viên
phụ trách đào tạo; (2) xây dựng hệ thống cố vấn học tập đáp ứng yêu cầu về chất lượng,
không phân biệt về thành phần- có thể dùng lực lượng sinh viên các khóa trước để tư vấn học
tập cho sinh viên khóa sau; (3) từng bước chuẩn hóa về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin
trong quản lý đào tạo; (4) hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong sinh viên về quy
8
chế đào tạo dưới nhiều hình thức khác nhau (trong đó việc biên soạn, cập nhật và phát hành sổ
tay sinh viên là yêu cầu tối thiểu); và (5) kiện toàn các văn bản hành chính quản lý đào tạo.
Phương pháp, cách thức giảng dạy và trình độ của giảng viên
Xét trong môi trường giáo dục đại học, phương thức đào tạo được thể hiện cụ thể nhất qua các
phương pháp và hình thức tổ chức giảng dạy và học tập. Đây là yếu tố có tác động trực tiếp
đến tính tích cực học tập của sinh viên. Đương nhiên, phương thức đào tạo ít nhiều bị chế ước
bởi cơ chế quản lý đào tạo mà biểu hiện rõ nét nhất trong học chế tín chỉ là giờ lên lớp của

độ và hành động chân chính của cả người học/người khám phá và người dạy/người hướng dẫn
trong cộng đồng đại học. Môi trường học thuật như vậy, như đã nêu ở trên, được tạo ra từ triết
lý đào tạo của nhà trường. Nếu có môi trường học thuật như thế sẽ vừa góp phần cụ thể hóa
triết lý đào tạo vừa góp phần tăng trưởng tính tích cực của sinh viên trong các hoạt động học
tập, nghiên cứu khoa học và sinh hoạt học thuật.
Từ thực tế của môi trường học thuật trong giáo dục đại học Việt Nam, chúng tôi nhận thấy
điều có thể sớm thay đổi được, đó là thay đổi từ “phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học”
thành “hoạt động học tập theo hướng nghiên cứu khoa học ” của sinh viên như là một trong
những hình thức đào tạo hiện đại ở đại học. Đồng thời, từng bước xây dựng các nhóm nghiên
cứu mạnh từ đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành, các giảng viên trong trường đại học, hợp
tác với các viện nghiên cứu… làm đầu tàu kéo theo hoạt động nghiên cứu khoa học trong lực
lượng sinh viên ngày một lớn mạnh. Trong đó, các giải pháp về thu hút tài trợ cho nghiên cứu
khoa học, chuyển giao các thành quả nghiên cứu khoa học- công nghệ ứng dụng vào thực tiễn
cũng cần quan tâm thực hiện.
Thời gian học – Lịch học
Nhà bác học Nga Ivan Pavlov, cha đẻ của Thuyết phản xạ có điều kiện, trong hồi ký của mình
đã có lời nhắn nhủ các bạn học sinh nên học những bài khó vào buổi sáng. Nhiều nhà khoa
học tiếng tăm khác cũng có những nhận xét tương tự: họ nhận thấy là khả năng lao động trí óc
của con người tăng dần từ sáng sớm tới gần trưa, sau đó giảm dần - sau bữa ăn trưa nên có
ngủ trưa từ 20-30 phút.
Theo các công trình nghiên cứu tại Pháp về thời sinh học (chronobiologie) thì hiệu suất học
buổi trưa còn cao hơn buổi sáng, đặc biệt đối với những môn học khó. Buổi chiều có hơi giảm
vào giờ ăn tối. Sau đó, dường như có một chu kỳ mới và khả năng hoạt động của trí não tăng
dần cho tới khoảng 21 giờ, sau đó lại giảm.
Lịch học của các lớp hệ VB 2 – Đại học Kinh tế tp HCM là từ 5h45 đến 9h15. đây là thời
điểm hiệu suất học tập có phần giảm sút đồng thời khả năng học tập sinh viên còn bị ảnh
10
hưởng sau 1 ngày làm việc mệt mỏi (đối với những sinh viên có đi làm). Do đó nghiên cứu
cũng khảo sát mức độ ảnh hưởng của thời gian học tới động lực học tập của sinh viên
Ảnh hưởng từ phía gia đình (phương pháp giáo dục của cha mẹ, nghề nghiệp của cha

mức thu nhập, theo kỳ vọng của gia đình, theo thang đánh giá giá trị nghề nghiệp của dư luận
xã hội… Các xu hướng này phản ánh sự lựa chọn ngành nghề của học sinh-sinh viên hiện
nay, dù chưa phải là tất cả, nhưng rõ ràng dễ dẫn đến những biểu hiện lệch lạc trong học tập.
Do đó, sự hiểu biết về nghề nghiệp và quan niệm về giá trị xã hội của nghề nghiệp nên được
coi như là những nội dung cần trang bị cho học sinh- sinh viên trước và trong suốt quá trình
đào tạo ở đại học. Từ góc độ quản lý, ta thấy rõ sự cần thiết của công tác chỉ đạo và tổ chức
thực hiện các hoạt động trao đổi thông tin, phối- kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo của nhà trường
và yêu cầu của nhà tuyển dụng cũng như việc giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên. Đây
vừa là yêu cầu của đào tạo toàn diện nguồn nhân lực (có hiểu biết nghề nghiệp, kỹ năng nghề
nghiệp và thái độ đúng đắn đối với giá trị nghề nghiệp) vừa là giải pháp quản lý góp phần
điều chỉnh ý thức học tập của sinh viên theo chiều hướng tích cực, phát huy tính tích cực học
tập, gắn kết giữa đào tạo nguồn nhân lực và sử dụng nhân lực được đào tạo.
Hứng thú là một thuộc tính nhân cách cá nhân, nên nó không tồn tại một cách biệt lập, riêng
rẽ mà hình thành và phát triển trong mối quan hệ với các thuộc tính tâm lý khác nói chung và
với các phẩm chất nhân cách cá nhân nói riêng. Hứng thú học tập quan hệ mật thiết với nhu
cầu nhận thức của cá nhân.
Sinh viên có nhu cầu nhận thức cao là tiền đề nảy sinh hứng thú học tập. Trái lại, hứng thú
học tập phát triển làm nảy sinh tính tích cực nhận thức để thoã mãn nhu cầu nhận thức của cá
nhân. Càng hứng thú học tập bao nhiêu, thì càng có nhu cầu đi sâu nhận thức đối tượng bấy
nhiêu.
Ngoài ra, có một phẩm chất nhân cách khác quan hệ mật thiết với hứng thú học tập là tính tò
mò, ham hiểu biết của cá nhân. Nó là biểu hiện của hứng thú với 2 tư cách: tính cách và biểu
hiện của nhu cầu.
Tính tò mò là khả năng tập trung chú ý nhanh, sâu vào những yếu tố bất ngờ, những biến đổi
của các sự vật, hiện tượng, những cái mới xuất hiện. Sự chú ý này, có thể kéo dài và kèm theo
xúc cảm tích cực, nhưng chỉ có mức độ thoã mãn câu hỏi “ nó là cái gì ” nghĩa là chỉ dừng ở
mức độ nhận biết những dấu hiệu bên ngoài của đối tượng, chứ chưa có xu hướng đi sâu nhận
thức cái bên trong bản chất của đối tượng.
Tính ham hiểu biết là sự biểu hiện của nhu cầu nhận thức cao và đã trở thành thuộc tính nhân
cách cá nhân. Đó chính là xu hướng tìm tòi để nhận thức cả những dấu hiệu bên ngoài và

thường không có những căng thẳng về tâm lý
13
Hứng thú học tập cũng hướng vào việc nhận thức các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của các
môn học và các hành động học để đạt được những tri thức đó. Hứng thú có tác dụng làm
thay đổi cơ bản bản thân hoạt động học tập, nó ảnh hưởng đến tính chất, diễn biến và kết
quả học tập của học sinh. Chính điểm này, làm cho nhiều tác giả đã đồng nhất hứng thú với
động cơ. Thực ra, hứng thú và động cơ là hai hiện tượng tâm lý khác nhau. Trong trường
hợp này, động cơ và hứng thú hướng vào cùng một đối tượng, nên chúng tác động tương
hỗ lẫn nhau. Nhờ mối quan hệ cộng hưởng nầy, mà hoạt động học tập có hiệu quả hơn.
Tóm lại, trong hoạt động học tập của cá nhân hứng thú có quan hệ biện chứng hữu cơ với
nhu cầu nhận thức, với tính tò mò, ham hiểu biết và với động cơ học tập của cá nhân …
nhưng không đồng nhất với các hiện tượng đó. Chính mối quan hệ, làm bộc lộ vai trò của
hứng thú trong hoạt động học tập bộ môn.
Giới
Các kết quả nghiên cứu, đo đạc đã cho thấy, thông thường, bộ não của nam giới thường lớn
hơn bộ não nữ giới khoảng 11-12%. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa rằng, đàn ông
thông minh hơn phụ nữ. Theo các chuyên gia, sở dĩ có điều đó là bởi nam giới cần bộ não lớn
nhằm kiểm soát tốt hơn các cơ quan và cơ bắp của họ - vốn đã lớn hơn nữ giới
Não bộ con người có một bộ phận được gọi là IPL (inferior-parietal lobule) chuyên trách khả
năng toán học. Bộ phận này ở nam giới thường có kích thước lớn hơn so với ở nữ giới, do đó
trong thực tế, các học sinh nam thường trội hơn học sinh nữ về khả năng học các môn khoa
học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa. Ngược lại, hai vùng kiểm soát ngôn ngữ trong não bộ là
Broca’s area và Wernicke’s area của phụ nữ trội hơn hẳn so với đàn ông. Vì vậy, họ gần như
có lợi thế tuyệt đối trong các môn học liên quan tới tư duy ngôn ngữ. Đồng thời, phụ nữ kiểm
soát hoạt động ngôn ngữ bằng cả hai bán cầu não, trong khi đàn ông thường chỉ sử dụng một
bán cầu não trái. Hệ quả là trong các trường hợp đột quỵ, những bệnh nhân nữ có khả năng
phục hồi hoạt động ngôn ngữ tốt hơn hẳn so với những bệnh nhân nam giới.
Ngoài ra, trong xã hội mang đậm chất Á đông như nước ta hiện nay, nữ giới còn bị ảnh hưởng
bởi sự bình đẳng nam nữ chưa cao, nữ giới phải có nghĩa vụ chăm lo cho gia đình con cái
nhiều hơn nam giới.

6 Thu nhập – mức chi tiêu hàng tháng
Ngoài những yếu tố kể trên, theo quý thầy/cô/anh/chị còn yếu tố nào sẽ ảnh hưởng tới việc
học tập
-
-
-
-
Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp sự thành công của đề tài
4.3.2 Bảng câu hỏi cho nghiên cứu định lượng
Từ kết quả nghiên cứu định tính, chọn ra các câu trả lời có sự lựa chọn nhiều nhất để tiến
hành nghiên cứu định lượng nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này tới động
lực học tập của sinh viên
BẢNG CÂU HỎI
(nghiên cứu định lượng)
Chúng tôi đang tiến hành đề tài “nghiên cứu các yếu tố động viên sinh viên học tập”, bạn vui
lòng cung cấp cho chúng tôi một số thông tin và đánh giá theo ý kiến cá nhân của bạn.
Tên Tuổi Nơi sinh
Lớp Khóa Chuyên ngành
Bạn vui lòng đánh dấu (x) vào chọn lựa phù hợp nhất với bạn
STT Yếu tố
Mức độ ảnh hưởng
Hoàn toàn
ảnh hưởng
Ảnh
hưởng
Bình
thường
Không
ảnh hưởng
Hoàn toàn

8) Viện nghiên cứu dư luận xã hội (2010), Thực trạng và giải pháp việc giảng dạy và
học tập các môn KHXH&NV ở các trường đại học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
quốc tế
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status