BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
o0o
NGUYỄN THỊ VIÊN PHƯƠNG GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CÓ TÀI
SẢN ĐẢM BẢO TẠI NGÂN HÀNG
TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
o0o
Nam”, tôi đã tự mình nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề, tham khảo các tài
liệu trong và ngoài nước, vận dụng kiến thức đã học và trao đổi với giáo
viên hướng dẫn, đồng nghiệp, bạn bè
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả trong luận văn này có nguồn gốc đáng tin cậy.
TP. Hồ Chí Minh ngày … tháng 04 năm 2014
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Viên PhươngDANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu
Diễn giải
ACB
: Ngân hàng TMCP Á Châu
Agribank
: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thông Việt
Nam
BIDV
: Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
: Ngân hàng
NHTM
: Ngân hàng thương mại
NĐ-CP Nghị định – Chính phủ
NHCV
: Ngân hàng cho vay
QĐ
: Quyết định
ROA
: Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng Tài sản
ROE
: Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên Vốn chủ sở hữu
RRTD
: Rủi ro tín dụng
STB : Ngân hàng TMCP Sài gòn Thương tín
TCTD
: Tổ chức tín dụng
Thông tư
số 03/2001/TTLT/
Thông tư 03/2001/ Thông tư Liên tịch/ Ngân hàng Nhà
nước - Bộ Tư pháp – Bộ Công an - Bộ Tài chính - Tổng
1.1.1. Khái niệm 4
1.1.2. Phân loại tài sản đảm bảo 5
1.1.3. Các biện pháp bảo đảm có tài sản 5
1.1.4. Điều kiện nhận tài sản đảm bảo 9
1.2. Tổng quan về hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo tại ngân hàng
thương mại 10
1.2.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng 10
1.2.2. Phân loại tín dụng 10
1.2.3. Khái niệm hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo 11
1.2.4. Tầm quan trọng của hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo tại ngân
hàng thương mại 11
1.3. Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo tại ngân hàng
thương mại 12
1.3.1. Khái niệm rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng 12
1.3.2. Khái niệm về hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng. 12
1.3.3. Nguyên nhân của rủi ro 13
1.3.4. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo
17
2.2.1. Thực trạng cấp tín dụng có tài sản đảm bảo 31
2.2.2. Thực trạng rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo của
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam trong thời gian qua 42
2.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm
bảo tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 49
2.3.1. Nguyên nhân chủ quan từ phía Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
49
2.3.2. Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng 57
2.3.3. Nguyên nhân khách quan 58 2.4. Khảo sát thực tế về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng có tài sản
đảm bảo tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 62
2.4.1. Đề xuất bảng câu hỏi khảo sát 62
2.4.2. Kết quả khảo sát thực tế 63
Kết luận Chương 2 65
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN
DỤNG CÓ TÀI SẢN ĐẢM BẢO TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM 66
3.1. Định hướng phát triển tín dụng của Vietinbank đến năm 2015 66
Bảng 2.6. Tình hình nợ quá hạn tín chấp tại Vietinbank giai đoạn 2010- 2012 48
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Tương quan tổng tài sản của Vietinbank với một số ngân hàng khác năm
2011, 2012 26
Biểu đồ 2.2. Tổng tài sản và dư nợ cho vay giai đoạn 2006 - 2012 27
Biểu đồ 2.3. Nguồn vốn huy động của Vietinbank giai đoạn 2008-2012 28
Biểu đồ 2.4. Hệ số an toàn vốn (CAR) của Vietinbank giai đoạn
2008-2012
29
Biểu đồ 2.5. Thu nhập trước thuế của Vietinbank giai đoạn
2008-2012 30
Biểu đồ 2.6. Hệ số ROA, ROE của Vietinbank giai đoạn
2009-2012 30
Biểu đồ 2.7. Tình hình tăng trưởng dư nợ của VietinBank giai đoạn 2006 – Quý
II/2013 32
Biểu đồ 2.8.
Dư
nợ vay theo thành phần kinh tế tại Vietinbank giai đoạn 2009 – 201234
Biểu đồ 2.9. Dư nợ phân theo TSĐB giai đoạn 2009-2012 38
thẩm định các điều kiện cấp tín dụng khác khi thẩm định và xét duyệt cho vay. Trong
khi đó, Việc đánh giá tài sản đảm bảo (bao gồm việc thẩm định điều kiện tài sản đảm
bảo, năng lực pháp lý của người thế chấp, cầm cố tài sản, định giá tài sản, tính thanh
khoản của tài sản,…), quản lý tài sản đảm bảo và xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ
còn rất nhiều vướng mắc và hạn chế. Vì vậy, tài sản đảm bảo được coi là nhân tố giúp
các NHTM hạn chế được rủi ro khi cấp tín dụng thì giờ đây, những khoản cấp tín dụng
có tài sản đảm bảo lại tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Để hạn chế rủi ro trong việc cấp tín
dụng có tài sản đảm bảo, yếu tố tài sản đảm bảo trong cho vay hiện nay cần được coi
trọng và đánh giá đúng mức. Tính đến những tháng cuối năm 2012, nợ xấu ở mức 8,6-
10% tổng dư nợ của nền kinh tế, đến chín tháng đầu năm 2013, tỷ lệ nợ xấu có xu
hướng giảm còn khoảng 6,5%. Tuy nhiên, con số này được cho là không chính xác vì
các NHTM đang tìm mọi cách che dấu nợ xấu để không phải thực hiện bán nợ cho
Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam(VAMC) theo quy định.
Thời gian qua Vietinbank đã đánh giá tài sản đảm bảo, quản lý và xử lý tài sản
đảm bảo như thế nào, rủi ro ra sao. Yếu tố nào là nguyên nhân cũng như ảnh hưởng
trực tiếp đến rủi ro của các khoản cấp tín dụng có tài sản đảm bảo tại Vietinbank? Và
trong thời gian tới, Vietinbank cần làm gì để hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín
dụng có tài sản đảm bảo, đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả và
bền vững. Để giải quyết những vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi 2
ro trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo tại Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề căn bản:
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tài sảm đảm bảo, cấp tín dụng có tài sản
đảm bảo và hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm
bảo.
hàng, báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà
Nước và tham khảo bài viết của những người đi trước… để làm cơ sở dữ liệu,
tổng hợp, phân tích để có những đánh giá khách quan về nội dung của luận văn,
nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của luận văn.
Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, kết quả các mẫu điều tra,
và các ý kiến nhận định của các cán bộ tín dụng, tác giả sử dụng phương pháp
thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín
dụng của VietinBank, đồng thời dùng phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu trên
phần mềm SPSS để tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro và đưa ra các giải
pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng.
5. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được kết cấu gồm ba chương chính:
Chương I: Tổng quan về hoạt động cấp tín dụng có tài sản tại Ngân hàng
Thương mại.
Chương II: Thực trạng cấp tín dụng có tài sản đảm bảo tại Ngân hàng
TMCP Công Thương Việt Nam.
Chương III: Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có tài
sản đảm bảo tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam.
4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG CÓ TÀI
SẢN ĐẢM BẢO TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về tài sản đảm bảo
1.1.1. Khái niệm
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại (NHTM) trở thành hình thức tín
dụng chuyên nghiệp không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường, mang lại thu
Tài sản bảo đảm tiền vay là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong
tương l
a
i.
Tài sản bảo đảm tiền vay là bất động sản hoặc động sản:
- Bất động sản: TSBĐ là bất động sản (BĐS) được hiểu là tài sản mang tính cố
định, không thể di dời và gắn liền với đất như: nhà cửa, đất đai, công trình xây dựng,
ao hồ nuôi trồng thủy hải sản, vườn cây công nghiệp, nông nghiệp… Tùy theo pháp
luật mỗi nước sẽ quy định cụ thể danh mục TSBĐ là BĐS, tại Việt Nam TSBĐ là BĐS
bao gồm: Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và các tài sản khác (Tùy theo quy
định của pháp luật trong một số trường hợp có tài sản giá trị lớn và người đi vay vẫn
khai thác, sử dụng tài sản đó do tính năng công dụng của tài sản đó sẽ hợp lý hơn ngân
hàng thương mại quản lý như: tàu bay, tàu biển, máy móc thiết bị hoặc là các tài sản
do pháp luật quy định).
- Động sản: TSBĐ là động sản được hiểu là những tài sản có thể di dời, vận
chuyển từ nơi này sang nơi khác. TSBĐ là động sản bao gồm: Máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải; hàng hóa; và các tài sản khác (bao gồm: tiền gửi bằng VND hoặc
bằng ngoại tệ; các chứng từ có giá; quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền phát
sinh từ TSBĐ; tài sản khác mà pháp luật không nghiêm cấm).
1.1.3. Các biện pháp bảo đảm có tài sản
1.1.3.1. Thế chấp tài sản của khách hàng
Theo Khoản 1, điều 432 Bộ luật dân sự (BLDS) quy định: “Thế chấp tài sản là
việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”.
Theo quyết định số 217/QĐ-NH1 về việc ban hành quy chế thế chấp, cầm cố tài
sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng ban hành ngày 17/08/1996, Thế chấp tài sản 7
Như vậy, việc cầm cố tài sản thường được đặt ra bên cạnh một hợp đồng dân sự
nhưng cũng có thể được đặt bên cạnh một nghĩa vụ ngoài hợp đồng. Trong mọi
trường hợp, cầm cố tài sản đều là sự thỏa thuận từ các bên về tài sản và nghĩa vụ
của các bên, bên có nghĩa vụ phải giao cho bên có quyền một tài sản thuộc sở
hữu của mình để đảm bảo nghĩa vụ dân sự.
Tài sản dùng để cầm cố bao gồm:
- Các động sản có giá trị, chuyển nhượng hoặc mua, bán được dễ dàng bao gồm:
phương tiện vận tải, phương tiện đi lại, công cụ lao động, máy móc thiết bị
dùng cho sản xuất kinh doanh, vật tư hàng hoá; phương tiện sinh hoạt cho tập
thể, cá nhân và các động sản khác.
- Giấy tờ trị giá được bằng tiền đang còn thời hạn hiệu lực thanh toán như: sổ
tiết kiệm, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi; trái phiếu do các doanh nghiệp, Ngân
hàng hoặc Chính phủ phát hành và các giấy tờ trị giá được bằng tiền khác.
- Các vật quý bằng vàng, đá quý và đồ trang sức bằng vàng, đá quý.
- Đối với các động sản có tham gia bảo hiểm thì giá trị hợp đồng bảo hiểm cũng
thuộc tài sản cầm cố.
- Các tài sản khác nếu pháp luật có quy định.
Hình thức cầm cố tài sản: Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập
thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính.
Hiệu lực của cầm cố tài sản: Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao
tài sản cho bên nhận cầm cố.
Thời hạn cầm cố tài sản: Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thoả thuận. Trong trường
hợp không có thoả thuận thì thời hạn cầm cố được tính cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ
được bảo đảm bằng cầm cố.
1.1.3.3. Tài sản bảo lãnh của bên thứ ba
Hiện nay, trong các hình thức cấp tín dụng tại các NHTM, các ngân hàng đồng ý cho
Bên thứ ba không phải Bên vay dùng tài sản của mình thế chấp cầm cố tại ngân hàng
tỏa tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự”.
Tài sản ký quỹ và 9
việc ký quỹ một lần hoặc nhiều lần tại ngân hàng nơi ký quỹ do các bên thoả thuận
hoặc pháp luật quy định.
Như vậy, các tài sản để ký quỹ, về bản chất, đều là tiền hoặc các giấy tờ có giá trị như
tiền, nếu gửi tiền vào một tài khoản phong tỏa của ngân hàng để đảm bảo cho một
khoản tín dụng. Trên thực tế, hình thức này ít được sử dụng khi khách hàng có nhu cầu
vay vốn vì nếu khách hàng đã có tiền thì không có lý gì mang tiền đó đi ký cược để
đảm bảo cho một hợp đồng vay tiền khác và phải chịu thêm một khoản lãi. Vì vậy,
biện pháp bảo đảm này thường được sử dụng khi khách hàng yêu cầu các nghiệp vụ
bảo lãnh hoặc mở thư tín dụng nhập khẩu và phải ký quỹ theo quy định của ngân hàng
phát hành.
1.1.4. Điều kiện nhận tài sản đảm bảo
Tài sản phải thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của người vay, bên bảo lãnh theo
quy định. Cụ thể:
- Đối với giá trị quyền sử dụng đất, phải thuộc quyền sử dụng của người vay,
bên bảo lãnh và được thế chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật về đất đai;
- Đối với tài sản của doanh nghiệp nhà nước, thì phải là tài sản do nhà nước
giao cho doanh nghiệp đó quản lý, sử dụng và được dùng để bảo đảm tiền vay
theo quy định của pháp luật;
- Đối với tài sản khác, thì phải thuộc quyền sở hữu của người vay, bên bảo lãnh.
Trường hợp tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì
người vay, bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản.
- Tài sản được phép giao dịch, tức là tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không
cấm mua bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 5 năm.
Căn cứ vào bảo đảm tín dụng:
- Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của chủ
thể vay vốn được
bảo
đảm
bằng tài sản của chủ thể vay vốn, tài sản hình thành
từ vốn vay hoặc bảo đảm bằng uy tín và năng lực tài chính của bên thứ ba.
- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó NH
chủ động lựa chọn KH để cho vay trên cơ sở KH có tín nhiệm với NH, có năng
lực tài chính và có phương án, dự án khả thi có khả năng hoàn trả nợ vay.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay:
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
- Cho vay tiêu dùng cá nhân. 11
- Cho vay kinh doanh bất động sản.
- Cho vay sản xuất nông nghiệp.
-
Cho vay các tổ chức tài chính.
- Cho thuê tài chính.
- Cho vay khác…
1.2.3. Khái niệm hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo
Theo quy định tại điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ban hành ngày
06/06/2010, hoạt động cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng
một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có
hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo
đem thế chấp các tài sản hiện có của mình để được cấp tín dụng. Khi tài sản
được thế chấp, cấm cố tại các tổ chức tín dụng thì người vay sẽ bị mất nó nếu
khoản vay của họ được đầu tư không cẩn thận và xảy ra rủi ro. Chính vì vậy, họ
phải thận trọng hơn khi thực hiện quyết định đầu tư của mình.
1.3. Rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản đảm bảo tại ngân hàng thương
mại
1.3.1. Khái niệm rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng
Theo quy định tại điều 2, Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN, Rủi ro trong hoạt
động cấp tín dụng của các TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín
dụng của các TCTD do khách hàng không thực hiện hay không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Như vậy, rủi ro phát sinh trong trường hợp NH không thu được đầy đủ cả gốc và lãi
của khoản vay, hoặc là việc thanh toán gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Đây là rủi ro
liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của NH.
Hiện nay, các NHTM đang phải đối mặt với rất nhiều rủi ro trong hoạt động cấp tín
dụng mà biểu hiện rõ rệt nhất là tình trạng nợ quá hạn có xu hướng gia tăng. Những
rủi ro này đang đe dọa tới sự phát triển bền vững của các Ngân hàng cũng như sự
phát triển kinh tế của đất nước.
1.3.2. Khái niệm về hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng.
Trên quan điểm quản lý, rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng là không thể tránh khỏi,
chỉ có thể hạn chế chứ không thể loại trừ. Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp hạn chế
rủi ro luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ ngân hàng nào. 13
Vậy hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, theo tác giả chính là việc nghiên
cứu và đề ra các giải pháp nhằm ngăn chặn đến mức tối đa việc phát sinh những rủi
ro có thể xảy ra cũng như các giải pháp để xử lý, khắc phục khi rủi ro đã xảy ra để
giảm thiểu mức tối đa những thiệt hại cho Ngân hàng.
1.3.3. Nguyên nhân của rủi ro
của Ngân hàng. Tuy nhiên, việc triển khai vẫn còn chậm và gặp nhiều
vướng mắc. Như việc cưỡng chế tài sản thu hồi nợ, mặc dù các văn bản
luật đều có quy định: “trong trường hợp khách hàng không trả được nợ,
Ngân hàng thương mại có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay”, nhưng
trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ
chức kinh tế, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài
sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý, mà phải thông qua các cơ quan
chuyên quyền thực hiện các thủ tục liên quan. Vì vậy, thời gian thu hồi
vốn bị kéo dài làm tăng rủi ro cho ngân hàng.
Hiệu quả trong hoạt động thanh tra và kiểm soát của Nhà nước: Hoạt
động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống cũng là một tác
nhân ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng. Nếu thanh tra ngân
hàng chỉ hoạt động một cách thụ động, không cảnh báo và có biện pháp
ngăn chặn ngay từ đầu, để khi hậu quả nặng nề xảy ra mới can thiệp thì rủi
ro và nguy cơ đe dọa sự an toàn của hệ thống là rất lớn. Hoạt động này
chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng, năng lực cán bộ chưa đáp ứng
được yêu cầu, nội dung và phương pháp chưa được đổi mới, vai trò kiểm
toán chưa phát huy tối đa, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và
giám sát rủi ro còn thấp…
Hiệu quả của hệ thống thông tin quản lý: Hệ thống thông tin tín dụng của
NHNN đã hoạt động tương đối hiệu quả và đạt được những kết quả đáng
khích lệ. Tuy nhiên, thông tin cung cấp vẫn còn đơn điệu, thiếu cập nhật,
chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin.
1.3.3.2. Nguyên nhân thuộc về phía Ngân hàng
Sự nhận thức chưa đầy đủ, thực hiện chưa nghiêm túc các quy định hiện hành. 15
Khi ngân hàng nhận thức đầy đủ, thực hiện nghiêm túc các quy định trong quá
trình cấp tín dụng như thẩm định hiệu quả phương án vay, khả năng tài chính của
Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư vượt quá khả năng quản lý.
Một số doanh nghiệp do muốn mở rộng đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận nên vay vốn
ngân hàng để đầu tư vào nhiều lĩnh vực được xem là mang lại lợi nhuận hấp dẫn
nhưng không có kinh nghiệm trong ngành, lại không mạnh dạn đầu tư đổi mới bộ
máy quản lý, nguồn nhân lực cho phù hợp với ngành nghề mới. Điều này dẫn dến
rủi ro cho doanh nghiệp khi thực hiện những phương án kinh doanh mà đáng lẽ
khả năng thành công trên thực tế là rất cao.
Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch.
Hiện nay, việc tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực trong việc xây dựng báo cáo
tài chính của các doanh nghiệp tại Việt Nam rất hạn chế. Chỉ những doanh
nghiệp lớn có cổ phần niêm yết mới thực hiện kiểm toán độc lập, còn lại là do
doanh nghiệp tự lập nên độ tin cậy thấp, thiếu minh bạch. Báo cáo tài chính của
các doanh nghiệp hiện nay chủ yếu mang tính hình thức hơn là thực chất. Đó
cũng là lý do ngân hàng vẫn luôn chú trọng tài sản đảm bảo khi quyết định cho
vay vì đây được xem như là chỗ dựa cuối cùng để thu hồi nợ khi rủi ro xảy ra.
Khách hàng cố tình gian lận.
Khách hàng cố tình chỉnh sửa báo cáo tài chính không đúng thực chất để hoàn
thiện hồ sơ vay vốn cho ngân hàng. Ngoài ra, để có thể vay vốn dễ dàng hơn,
khách hàng còn thực hiện các hành vi gian lận liên quan đến tài sản đảm bảo nợ
vay bao gồm cả động sản và bất động sản.
Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ.
khách hàng cố tình lập các chứng từ rút vốn vay giả mạo mà do nhiều lý do ngân
hàng không phát hiện được, để lấy vốn vay sử dụng khác với mục đích đã trình