1Luận văn
Một số giải pháp phòng ngừa
rủi ro trong hoạt động thanh
toán quốc tế tại NHĐT &
PTVN – Chi Nhánh Đông Đô
2
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Trong xu thế hội nhập quốc tế về ngân hàng ngày nay, thách thức và thời cơ
luôn đan xen lẫn nhau. Để có thể vượt qua các thách thức, khó khăn của quá
trình hội nhập, các ngân hàng thương mại đang chủ động từng bước tái cơ cấu,
mở rộng qui mô hoạt động, nâng cao năng lực quản lý điều hành, nâng cao hiệu
quả kinh doanh của mình. Một trong những lĩnh vực kinh doanh mang lại nguồn
thu nhập rất quan trọng cho các ngân hàng thương mại đó chính là hoạt động
thanh toán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là một lĩnh vực gắn liền các hoạt động thương mại quốc
tế song phương và đa phương. Với qui mô và phạm vi rộng lớn, phức tạp, liên
quan đến nhiều chủ thể trong từng quốc gia khác nhau.
Hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được khẳng định trong hoạt động
kinh tế quốc dân nói chung và trong hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. Đặc
biệt trong bối cảnh hiện nay khi mỗi quốc gia đều đặt hoạt động kinh tế đối
ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếu trong
chiến lược phát triển kinh tế của mình.
Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hoá,
dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu không
có hoạt động thanh toán quốc tế thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và
phát triển được.
Chương I: Những vấn đề lý luận liên quan đến rủi ro thanh toán quốc tế ở
ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng về rủi ro trong thanh toán quốc tế tại NHĐT &
PTVN – Chi Nhánh Đông Đô
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị phòng ngừa rủi ro trong thanh
toán quốc tế.
4
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN RỦI RO TRONG THANH
TOÁN QUỐC TẾ Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI ( NHTM )
Thanh toán quốc tế là chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương
mại. Nó được hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại thương của
một nước và ngân hàng thương mại được nhà nước giao cho độc quyền làm
công tác thanh toán này. Đây là nghiệp vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn, ứng
dụng công nghệ ngân hàng, tạo sự hoà hợp hệ thống ngân hàng Việt Nam vào hệ
thống ngân hàng thương mại thế giới, tạo sự an toàn và hiệu quả đối với ngân
hàng thương mại và các doanh nghiệp nhập khẩu.
Thanh toán quốc tế đòi hỏi chuyên môn cao: Luật pháp mỗi nước mỗi khác
nhau nên trong thương mại đã có những qui định thống nhất, những thông lệ
quốc tế mà các bên tham gia, kể cả ngân hàng đều phải tuân thủ: UCP 500, URC
522, Incoterms 2000… do Phòng thương mại quốc tế phát hành đều là những
qui định phát luật tuỳ chọn, nhưng khi đã chọn thì buộc phải tuân theo. Cán bộ
ngân hàng làm công tác thanh toán quốc tế phải nắm rõ các phương tiện và các
phương thức thanh toán quốc tế, bởi vì các phương tiện và phương thức này qui
định rất chặt chẽ nội dung từng câu chữ và có hiệu lực quốc tế. Muốn thực hiện
công việc trôi chảy, tránh gây hiểu lầm và thiệt hại đáng tiếc cho ngân hàng đòi
lãnh cho khách hàng trong nước, thanh toán cho Ngân hàng nước ngoài, ngân
hàng thực hiện thanh toán quốc tế sẽ có được những quan hệ đại lý với Ngân
hàng và đối tác nước ngoài. Mối quan hệ này dựa trên cơ sở hợp tác và tương
trợ. Với thời gian hoạt động nghiệp vụ càng lâu, mối quan hệ ngày càng mở
rộng. Đây cũng là hiệu quả do thanh toán quốc tế mang lại.
6
Thanh toán quốc tế liên quan đến quyền lợi của bên mua, bên bán nên được
coi là điều khoản quan trọng trong khi đàm phán ký kết hợp đồng ngoại thương.
Trong hợp đồng phải ghi rõ nội dung điều khoản thanh toán, lựa chọn phương
thức thanh toán, loại tiền thanh toán… Nếu qui định điều khoản thanh toán hợp
lý, có thể tránh được rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu và mang lợi ích to
lớn đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu:
-Thanh toán quốc tế, ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán giúp cho
quá trình thanh toán theo yêu cầu khách hàng được tiến hành an toàn, nhanh
chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí thay vì thanh toán bằng tiền mặt. Ngân hàng
bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong giao dịch thanh toán, đồng thời tư vấn
cho khách hàng, hướng dẫn về kỹ thuật thanh toán quốc tế nhằm giảm rủi ro, tạo
sự yên tâm tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước
ngoài. Mặt khác, trong quá trình thực hiện thanh toán quốc tế, khách hàng không
đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng cho vay để
thanh toán nhập khẩu, bảo lãnh thanh toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất
khẩu… đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
-Thực hiện thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể giám sát được tình hình kinh
doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện quản lý có
hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu trong nước theo đúng chính sách kinh tế đối
ngoại đề ra.
Trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế có hai vấn đề cốt lõi được lưu tâm nhiều
nhất: đó là “ Phương tiện thanh toán quốc tế " và “ Phương thức thanh toán quốc
tế”.
1.1 Khái niệm về thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế trong hoạt động ngân hàng nói riêng, trong hoạt động
kinh tế quốc dân nói chung có một vị trí đặc biệt quan trọng. Nó là một mắt xích
không thể thiếu trong dây truyền hoạt động kinh tế, kể từ khi chuẩn bị các bước
cần thiết để sản xuất ra hàng hoá tới khi bán hàng thu tiền về cho nhà xuất khẩu
hay chi tiền ra để nhập hàng và phục vụ sản xuất đời sống công nghiệp sao cho
8
đủ khối lượng, đúng chất lượng, nghiên cứu nội dung các nghiệp thanh toán
quốc tế lựa chọn xử lý yếu tố trong nội dung của nó. Hoàn thiện các qui trình
nghiệp vụ kỹ thuật sao cho phù hợp với những đặc điểm tính chất nền kinh tế
của mỗi quốc gia là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. 1.3 Phương tiện thanh toán quốc tế
Tiền mặt là phương tiện thanh toán nhưng trong thanh toán quốc tế nó lại giữ
vai trò thứ yếu. Phương tiện thanh toán chủ yếu dùng trong thanh toán quốc tế là
séc (cheque, check) và hối phiếu (Bill of exchange, Draft).
1.3.1 Hối phiếu
Hối phiếu là một lệnh đòi tiền vô điều kiện do người bán (người xuất khẩu,
người cung ứng dịch vụ…) ký phát đòi tiền người mua (người nhập khẩu, người
nhận cung ứng) và yêu cầu người này phải trả một lượng tiền nhất định tại một
địa điểm nhất định trong một thời gian xác định được qui định trong hối phiếu
cho người hưởng lợi.
Hối phiếu có 3 đặc điểm:
- Tính trừu tượng: đặc điểm này thể hiện là trên hối phiếu không cần phải
ghi nội dung quan hệ kinh tế, mà chỉ cần phải ghi rõ số tiền phải trả là bao
nhiêu, trả cho ai. Không cần phải nói lên nguyên nhân việc trả tiền trên hối
phiếu.
- Tính bắt buộc trả tiền: Người trả tiền hối phiếu phải trả tiền đầy đủ đúng
theo yêu cầu của tờ hối phiếu. Người trả tiền không được viện lý do của bản
thân đối với người ký phát hối phiếu, trừ trường hợp hối phiếu không phù hợp
Các bên tham gia:
-Người trả tiền (người mua, người mắc nợ), hoặc người chuyển tiền (người
đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra nước ngoài): là
người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài.
10
- Người hưởng lợi (người bán, chủ nợ, ngừơi tiếp nhận vốn đầu tư) hoặc là
người nào đó do người chuyển tiền chỉ định.
- Ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người chuyển tiền.
- Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người
hưởng lợi.
11
b/ Qui trình thanh toán (1) Giao dịch thương mại
(2) Viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư hoặc bằng điện) cùng với uỷ
nhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại ngân hàng)
(3) Chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng đại lý
(4) Ngân hàng chuyển tiền cho người hưởng lợi.
1.4.2 Phương thức ghi sổ (Open Account)
a/ Định nghĩa
Phương thức ghi sổ là một phương thức thanh toán trong đó, người bán mở
(1)
(3)
(2)
(4)
12
b/ Quy trình thanh toán
(1) Giao hàng, hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hoá.
(2) Báo nợ trực tiếp.
(3) Người mua dùng phương thức chuyển tiền hoặc phát hành séc… để trả
tiền người bán khi đến kỳ hạn thanh toán.
1.4.3 Phương thức nhờ thu ( Collection of payment)
a/Định nghĩa:
Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó, người bán sau
khi đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, hoặc cung ứng một dịch vụ nào đó cho
khách hàng thì uỷ thác cho ngân hàng của mình, thu hộ số tiền ở người mua trên
cơ sở hối phiếu của người bán lập ra.
Khi vận dụng phương thức này, các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu thường
dựa vào “ Bản quy tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thương mại số 522”, sửa
đổi năm 1995, có hiệu lực từ tháng 1/1996 do phòng thương mại quốc tế ấn
chứng từ hàng hoá thì gửi thẳng cho người mua không qua ngân hàng.
- Quy trình thanh toán (1) Người bán gửi hàng và chứng từ hàng hoá cho người mua.
(2) Người bán kí hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho ngân hàng
nước mình đòi tiền hộ mình theo hối phiếu.
(3) Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu sang ngân hàng đại lý của
mình ở nước người mua.
(4) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu (nếu là hối phiếu
trả tiền ngay), Hoặc chấp nhận hối phiếu (nếu mua chịu).
(5) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán. Nếu chỉ là chấp
nhận hối phiếu thì ngân hàng giữ lại hối phiếu hoặc chuyển trả cho người bán.
Khi đến kỳ hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở người mua và thực hiện việc
chuyển tiền như trên.
* Nhờ thu kèm chứng từ
NH phục vụ bên bán Ngân hàng đại lý
Bên mua
Bên Bán
(1)
(5)
Quy trình thanh toán nhờ thu kèm chứng từ cũng giống nhờ thu phiếu trơn
chỉ khác ở một số điểm sau:
- ở bước (1) người bán chỉ gửi hàng hoá cho người mua.
- ở bước (2),(3),(4) ngoài hối phiếu còn có bộ chứng từ hàng hoá đi cùng.
1.4.4 Phương thức tín dụng chứng từ – Documentary credit
Phương thưc tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán được áp dụng
phổ biến nhất hiện nay.
Khi vận dụng phương thức này các nước đều thống nhất áp dụng “Bản điều
lệ và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” do phòng thương mại
quốc tế paris ban hành. Bản hiện nay đang được áp dụng là bản số 500 có tên
NH phục vụ bên bán Ngân hàng đại lý
Bên mua
Bên Bán
(1)
(5)
(5)
(2)
(4)
(5)
(3)
(2)
Ngân hàng m
ở
L/C
N hàng thông báo L/C
Người nhập khẩu
(6)
(8)
(7)
(5)
(3)
(6)
Người xuất khẩu
(1)
(5)
(4)
17
(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ hàng
hoá cho người nhập khẩu.
(8) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì
hoàn trả tiền cho ngân hàng, nếu không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền
ngân hàng.
II. RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1 Định nghĩa
Có nhiều cách hiểu rủi ro khác nhau như: rủi ro trong hoạt động kinh tế là
những tổn thất mà các doanh nghiệp phải gánh chịu trong hoạt động kinh doanh
của mình.
Rủi ro là những bất trắc gây ra mất mát thiệt hại hoặc rủi ro là những điều
nằm ngoài ý muốn của con người và gây ra những tổn thất cho con người.
Tóm lại, người ta thường xem xét rủi ro ở hai đặc tính sau:
- Thứ nhất là biên độ rủi ro, đó là sự thiệt hại rủi ro gây ra ở mức độ nào.
- Thứ hai là tần số xuất hiện của rủi ro nhiều hay ít.
1.2 Rủi ro trong thanh toán quốc tế
1.2.1 Rủi ro trong phương thức chuyển tiền
Những rủi ro mà người nhận tiền theo hình thức thanh toán này có thể gặp:
- Người mua hàng hoặc người được cung cấp dịch vụ không thanh toán, tức
là không có khả năng thanh toán hay không muốn thanh toán nên không thực
hiện việc chuyển tiền sau khi nhận được quyền sở hữu đối với hàng hoá.
- Rủi ro từ phía nhà nước của người mua thể hiện ở chỗ tuy người mua có
khả năng và mong muốn thanh toán nhưng quốc gia của người mua đưa ra
những biện pháp điều chỉnh ngoại tệ (hạn chế việc mua ngoại tệ). Tuy nhiên rủi
ro này có thể hạn chế được nếu thường xuyên có thông tin về khả năng thanh
toán của người mua và tình hình pháp lý của nước của người mua buộc phải
thanh toán trước khi giao hàng hay việc giao hàng được chia thành nhiều lần.
Người mua cũng gánh chịu những rủi ro trong trường hợp thanh toán tiền
- Nếu năng lực tài chính của nhà nhập khẩu yếu kém, thì việc thanh toán sẽ
dây dưa, chậm trễ và tốn kém.
19
- Nếu nhà nhập khẩu chủ tâm lừa đảo, vẫn nhận hàng nhưng từ chối thanh
toán hay từ chối ký chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn.
- Đến hạn thanh toán hối phiếu kỳ hạn, nhưng nhà nhập khẩu không thể
thanh toán hoặc không muốn thanh toán (do tình hình tài chính, tình hình kinh
doanh của nhà nhập khẩu trở nên xấu đi, hay nhà nhập khẩu phát sinh chủ tâm
lừa đảo) thì nhà xuất khẩu có thể kiện ra toà nhưng tốn kém và không phải lúc
nào cũng nhận được tiền.
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
- Rủi ro có thể phát sinh khi hối phiếu đòi tiền đến trước và phải thực hiện
nghĩa vụ thanh toán, trong khi hàng hóa không được gửi đi, hoặc đã được gửi đi
nhưng chưa tới, hoặc khi nhận hàng hoá có thể là không đảm bảo đúng chất
lượng, chủng loại và số lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng thương mại.
Như vậy, rủi ro đối với nhà xuất khẩu là rất lớn vì giữa việc nhận hàng và
thanh toán của nhà nhập khẩu không có sự ràng buộc với nhau, cho nên nhờ thu
phiếu trơn thường chỉ áp dụng trong những trường hợp nhà xuất khẩu và nhà
nhập khẩu thực sự tin tưởng lẫn nhau, cụ thể là nhà xuất khẩu phải có thiện chí
giao hàng, còn nhà nhập khẩu thì phải có thiện chí thanh toán.
+ Rủi ro trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
- Đối với trường hợp ngân hàng xuất trình, trao bộ chứng từ hàng hoá cho
nhà nhập khẩu để đi nhận hàng hoá trước khi nhà nhập khẩu thanh toán hay chấp
nhận thanh toán. Rủi ro sẽ xảy ra đối với nhà xuất khẩu là không thu được tiền
hàng hay bị kéo dài thời gian thanh toán tiền hàng dễ dẫn đến tình trạng phá sản.
Còn rủi ro đối với ngân hàng nếu xảy ra tranh chấp thì ngân hàng sẽ mất uy tín
trên trường quốc tế. Trường hợp này có thể xảy ra ở một số quốc gia, khi mà
ngân hàng ưu tiên đặt mối quan hệ với doanh nghiệp trong nước lên trên trách
Rủi ro đối với ngân hàng chuyển chứng từ:
21
- Nhìn chung, ngân hàng chuyển chứng từ chỉ chịu rủi ro khi đã thanh toán
hay cho nhà xuất khẩu vay trước khi nhận được tiền chuyển đến từ ngân hàng
xuất trình. Nếu không nhận được tiền chuyển đến, ngân hàng chuyển chứng từ
phải chịu rủi ro tín dụng từ phía nhà xuất khẩu trong việc hoàn trả tiền vay.
Rủi ro đối với ngân hàng xuất trình:
- Nếu ngân hàng xuất trình chuyển tiền cho ngân hàng chuyển chứng từ
trước khi nhà nhập khẩu thanh toán, ngân hàng phải chịu rủi ro nếu như nhà
nhập khẩu không nhận chứng từ và không thanh toán hoặc không chấp nhận
thanh toán.
- Nếu ngân hàng xuất trình cho nhà nhập khẩu vay để thanh toán, thì có thể
chịu rủi ro tín dụng từ phía nhà nhập khẩu.
- Chịu trách nhiệm kiểm tra chứng từ nhận được xem có đủ và phù hợp với
danh mục liệt kê chứng từ gửi tới, nếu chứng từ không đủ hoặc không phù hợp
thì phải thông báo cho ngân hàng chuyển chứng từ để xin chỉ thị hành động.
- Ngân hàng chuyển chứng từ có thể yêu cầu rằng, nếu nhà nhập khẩu
không thanh toán hoặc không chấp nhận thanh toán, thì ngân hàng xuất trình thu
xếp để hàng hoá được lưu kho và được bảo hiểm cho đến khi bán được cho
khách hàng mới hay chuyển quay về nước. Nếu điều này xảy ra thì ngân hàng
xuất trình phải được bù đắp chi phí đầy đủ.
1.2.4 Rủi ro đối với phương thức tín dụng chứng từ
Rủi ro đối với nhà nhập khẩu:
- Việc thanh toán của ngân hàng cho người hưởng thụ chỉ căn cứ vào bộ
chứng từ xuất trình, mà không căn cứ vào việc kiểm tra hàng hoá. Ngân hàng chỉ
kiểm tra tính chân thật “bề ngoài” của chứng từ. Một nhà xuất khẩu chủ tâm
gian lận có thể xuất trình bộ chứng từ giả mạo (có bề ngoài phù hợp với L/C)
cho ngân hàng được chỉ định để thanh toán. Như vậy, sẽ không có sự bảo đảm
nào cho nhà nhập khẩu rằng hàng hóa sẽ đúng như đơn đặt hàng hay không bị
trước khi hối phiếu đến hạn, thì hối phiếu cũng không được trả tiền. Trừ khi L/C
được xác nhận bởi một ngân hàng hạng nhất trong nước còn lại nhà xuất khẩu
23
luôn chịu rủi ro về hệ số tín nhiệm của ngân hàng phát hành, cũng như rủi ro
chính trị hay rủi ro cơ chế chính sách của nước nhà nhập khẩu.
- Nếu nhà xuất khẩu nhận được một L/C trực tiếp từ ngân hàng phát hành
(không thông qua ngân hàng thông báo), thì đó có thể là một L/C giả. Nhà xuất
khẩu phải yêu cầu có một ngân hàng trong nước xác nhận L/C hay phải được
ngân hàng phục vụ mình xác minh L/C là thật.
Rủi ro đối với ngân hàng phát hành:
- Ngân hàng phát hành phải thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng theo
qui định của L/C ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu chủ tâm không hoàn
trả hoặc không có khả năng hoàn trả. Với lý do này, rủi ro tín dụng đối với ngân
hàng phát hành là rất hiện hữu. Do đó, trước khi chấp nhận phát hành L/C, ngân
hàng cần áp dụng một qui trình thẩm định chặt chẽ giống như việc cấp tín dụng
cho khách hàng.
- Trong số các nhân tố ngân hàng phát hành cần phải xem xét đó là liệu ngân
hàng có thu lại được một phần hay toàn bộ số tiền đã thanh toán từ việc bán
hàng nếu nhà nhập khẩu bị phá sản. Các câu hỏi cần trả lời đó là:
Nhà nhập khẩu sẽ là người chắc chắn sở hữu hàng hoá?
Hàng hoá đảm bảo chất lượng và có thể bán được?
Hàng hóa có dễ hỏng và giá cả có hay biến động?
Có sự thông đồng lừa đảo giữa nhà sản xuất và nhập khẩu, hậu quả có
thể là hàng hoá sẽ không bao giờ được chuyển đi?
Có hạn chế nào liên quan đến loại hàng hoá nhập khẩu, ví dụ như hạn
chế về giấy phép kinh doanh, đối tượng mua bán?
- Nếu ngân hàng phát hành trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kì
hạn, mà không có sự kiểm tra một cách kỹ lưỡng bộ chứng từ, nhà nhập khẩu
không chấp nhận, thì không thể đòi tiền nhà nhập khẩu.
không. Như vậy, ngân hàng xác nhận chịu rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát
hành, cùng rủi ro chính trị và rủi ro cơ chế (hạn chế ngoại hối) của nhà nước
ngân hàng phát hành.
- Nếu ngân hàng xác nhận trả tiền hay chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ
25
hạn, mà không có sự kiểm tra một cách thích đáng bộ chứng từ, để bộ chứng từ
có lỗi, ngân hàng phát hành không chấp nhận, thì không thể đòi tiền ngân hàng
phát hành.