CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀO LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2012 - Pdf 29


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
 

NGUYỄN QUANG MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp.Hồ Chí Minh năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  NGUYỄN QUANG MINH Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

1.4. Tổng quan lý thuyết về cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát 22
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới về cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát 22
1.4.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam về cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát 25
1.5 Đề xuất mô hình nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát tại Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2012 25
Kết luận chương 1 26
Chƣơng 2 : THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀO
LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 28 2.1. Thực trạng điều hành tỷ giá hối đoái và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012
28
2.1.1. Trước khi Việt Nam gia nhập WTO 30
2.1.2. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO 33
2.2. Kiểm định cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát tại Việt Nam 43
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.2. Các bước thực hiện nghiên cứu 44
2.2.3. Số liệu nghiên cứu 44
2.2.4. Thực hiện nghiên cứu. 47
Kết luận chương 2 60
Chƣơng 3 : GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀO
LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 61
3.1 Những bất cập trong điều hành tỷ giá hối đoái và lạm phát của Ngân hàng Trung ương
thời gian qua 62
3.2 Giải pháp kiểm soát truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào lạm phát 64
3.2.1 Trong hoạt động kinh tế 64
3.2.3. Trong chính sách tỷ giá 66
3.2.3. Giải pháp trong việc bình ổn lạm phát 66
3.3. Kiến nghị đối với Chính phủ và các cơ quan chức năng 68
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ 68

TGHD : Tỷ giá hối đoái
Danh mục từ viết tắt tiếng Anh
ADB : Asian Develop Bank
Ngân hàng Phát triển Châu Á
CPI : Consumer price index
Chỉ số giá tiêu dùng
ERPT : Exchange rate Pass Through
Truyền dẫn tỷ giá hối đoái
FDI : Foregin Direct Investment
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP : Gross Dosmetic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
IMF : International Moneytary Fund
Quỹ tiền tệ Thế giới
NEER : Nominal Effective Exchange rate
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực đa phương
REER : Real Effective Exchange rate Tỷ giá hối đoái thực hiệu lực đa phương
RER : Real Exchange rate
Tỷ giá hối đoái thực
SBV : The State Bank of Vietnam
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
UK : United Kingdom
: Vương quốc Anh
USD : United State Dollar
Đola Mỹ
WB : World Bank
Ngân hàng Thế giới

Hình 2.3 Kiểm định tính dừng của lạm phát 48
Hình 2.4 Kiểm định tính dừng của TGHĐ 49
Hình 2.5 Ước lượng độ trễ của biến 53
Hình 2.6 Hàm phản ứng đẩy của TGHĐ vào lạm phát 54
Hình 2.7 Hàm phản ứng đẩy của sản lượng nhập khẩu vào cung tiền 55
Hình 2.8 Hàm phản ứng đẩy của cung tiền vào TGHĐ 57
Hình 2.9 Kết quả phân rã phương sai 59
i LỜI MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài
Như chúng ta đều biết lạm phát là một chỉ số có ảnh hưởng lan truyền rất rộng
trong nền kinh tế, nó ảnh hưởng tới hầu hết các biến số của nền kinh tế như giá cả,
việc làm, lãi suất, cung tiền, GDP, TGHĐ… Cụ thể khi nền kinh tế của một quốc gia
có lạm phát với các yếu tố khác không đổi lạm phát sẽ ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa
được sản xuất tại quốc gia đó, làm cho hàng hóa của nước đó trở nên đắt hơn hàng hóa
của các nước khác ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng của người dân trong nước thay
vì tiêu dùng hàng hóa được sản xuất trong nước lại chuyển sang tiêu dùng hàng hóa
nhập khẩu nhiều hơn, và hàng hóa được sản xuất trong nước cũng ngày càng khó xuất
khẩu hơn qua đó làm cho cán cân thương mại của quốc gia thâm hụt và giá trị đồng
tiền của quốc gia sẽ vô hình chung giảm đi trên thị trường thế giới làm thay đổi TGHĐ
quốc gia.
Câu hỏi đặt ra trong trường hợp này là khi TGHĐ của một quốc gia thay đổi thì
nó có ảnh hưởng ngược lại tới lạm phát trong nền kinh tế của quốc gia đó không?
Tại Việt Nam, mục tiêu kinh tế trong năm 2013 là “Ổn định kinh tế vĩ mô, lạm
phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn 2012, đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn
với tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội và
phúc lợi xã hội, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, tăng cường

2. Mục tiêu nghiên cứu:
Hệ thống cơ sở lý thuyết về tỷ giá hối đoái, lạm phát, mối quan hệ giữa tỷ giá hối
đoái và lạm phát, các lý thuyết về nghiên cứu cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào
lạm phát.
Phân tích thực trạng điều hành tỷ giá hối đoái và lạm phát của Ngân hàng Trung
ương, cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát tại Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp kiểm soát truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát tại Việt
Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tỷ giá hối đoái (tập trung vào tỷ giá hối đoái giữa VND
và USD khi phân tích thực trạng điều hành; tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực đa
iii phương trong mô hình nghiên cứu); Lạm phát tại Việt Nam thể hiện qua CPI; Cơ chế
truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát.
Phạm vi nghiên cứu: Số liệu phục vụ nghiên cứu lấy từ nền kinh tế Việt Nam
theo quý giai đoạn 2000 - 2012
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp định tính: thống kê, mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp diễn
biến về tỷ giá hối đoái và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012. Tìm kiếm
những dấu hiệu chỉ ra mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát.
- Phương pháp định lượng: sử dụng các mô hình định lượng nhằm chỉ rõ có hay
không sự truyền dẫn từ tỷ giá hối đoái vào lạm phát tại Việt Nam. Nếu có xác định hệ
số truyền dẫn là bao nhiêu bằng những mô hình kinh tế lượng sau:
+ Sử dụng mô hình nhân quả Granger tìm kiếm sự liên quan giữa các
biến, sắp xếp hướng tác động
+ Mô hình Var: xem xét đồng thời các biến nội sinh cùng với nhau.
Nhưng từng biến nội sinh được giải thích bởi các giá trị trễ hay giá trị quá khứ của nó
và các giá trị trễ của tất cả các biến nội sinh trong mô hình; thường thì trong mô hình

phiếu…) hoặc thanh toán điện tử. Tỷ giá sẽ cao hơn khi bạn sử dụng các phương thức
thanh toán thông qua giấy tờ vì việc này tốn kém thời gian, chi phí văn phòng hơn là
thực hiện thanh toán bằng tiền mặt.
1.1.2. Phân loại tỷ giá hối đoái
2

Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại TGHĐ như tỷ giá chính thức, tỷ giá của các
ngân hàng thương mại, tỷ giá xuất khẩu… Dưới đây là một số loại tỷ giá phổ biến và
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia:
TGHĐ danh nghĩa: là TGHĐ được công bố trên các phương tiện thông tin
đại chúng. TGHĐ này được xác định dựa trên Ngân hàng Trung ương (NHTW).
TGHĐ thực (RER): TGHĐ thực của một cặp tiền tệ thể hiện sức mua của
tiền tệ một nước so với tiền tệ nước khác. Chỉ số này phụ thuộc vào chỉ số khử lạm
phát (GDP deflator) hoặc lạm phát tính theo chỉ số giá (CPI…) của từng nước, và năm

1
Tham khảo Wikipedia (2013), “Exchange rate”
2
Tham khảo Nhật Trung (2008) “Khả năng chịu đựng cán cân thâm hụt thương mại của Việt Nam”
2 cơ sở (tại đó TGHĐ thực bằng với TGHĐ danh nghĩa) được người tính xác định để bắt
đầu theo dõi sự thay đổi của RER. Sự thay đổi của RER thể hiện cho ta biết tương
quan thay đổi sức mua của đồng nội tệ và ngoại tệ cùng một loại hàng hóa/một rổ
hàng hóa theo thời gian.
 =


 

: Trọng số thương mại của nước i tại thời điểm t
E
it
: Tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền trong nước so với
nước i thời điểm t
Tỷ giá thực hiệu lực đa phƣơng (REER): là sản phẩm của tỉ giá hiệu lực
danh nghĩa đa phương (NEER) và chỉ số giá tương đối.

 =









=1
(1.3)
NEER
it
: TGHĐ danh nghĩa đa phương của đồng tiền trong
nước so với đồng tiền nước i tại thời điểm t
P
it
: Chí số giá nước i tại thời điểm t
P
dt
: Chỉ số giá trong nước tại thời điểm t

chuyển đến mức là


=
150 
100 
= 1,5000
Vì vậy, nếu cuối năm lạm phát xảy ra tại các nước này thì tỷ giá sẽ thay đổi, vì
giá cả không còn là 150 CAD hay 100 USD nữa. Khi đó tỷ giá cuối kỳ sẽ là


= 


(1 + 

)
(1 + 
)4
Tham khảo Trần Hoàng Ngân (2008) “Hối đoái”
4 Trong đó:
T
Dk
là tỷ giá đầu kỳ

Mỗi quốc gia thông qua nhiều cách thức khác nhau có thể kiểm soát TGHĐ của
nước mình nhằm phục vụ cho các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn, cách thức mà
các quốc gia quản lý TGHĐ của đồng tiền nước mình được gọi là chế độ tỷ giá. Có

5
Tham khảon Trần Ngọc Thơ – Nguyễn Ngọc Định (2008) “Tác động của Chính phủ đối với tỷ giá”
5 nhiều chế độ tỷ giá được áp dụng: chế độ TGHĐ thả nổi, chế độ TGHĐ cố định, chế
độ TGHĐ trung gian…
Chế độ TGHĐ thả nổi: tỷ giá của quốc gia sẽ thường xuyên thay đổi và được
xác định do các áp lực cung cầu trên thị trường ngoại hối quốc tế. Đi cùng với các ưu
điểm là tấm đệm ngăn chặn các cú sốc kinh tế ảnh hưởng đến nền kinh tế nội địa, tạo
sự độc lập trong chính sách tiền tệ của NHTW, thì khi một quốc gia áp dụng chế độ
TGHĐ thả nổi cũng mang lại cho quốc gia nhiều thách thức như sự bất ổn định trong
tỷ giá gây mất lòng tin cho người dân, các nhà đầu tư, tạo thêm gánh nặng cho quốc
gia khi nền kinh tế của quốc gia đó gặp khó khăn…
Chế độ TGHĐ cố định: tỷ giá của đồng tiền quốc gia đó sẽ được giữ nguyên
không thay đổi trong khoảng thời gian áp dụng chế độ tỷ giá trên. Đồng thời, khi áp
dụng chế độ tỷ giá này quốc gia sẽ phải gánh chịu một số rủi ro từ những cú sốc kinh
tế chẳng hạn như các cú số về giá. Tuy nhiên kèm theo đó chế độ TGHĐ cố định cũng
có những ưu điểm nhất định như tạo được lòng tin cho doanh nghiệp, và dân cư về sự
ổn định của tỷ giá, thu hút đầu tư nước ngoài.
Chế độ TGHĐ trung gian: đây là chế độ tỷ giá trung gian giữa cố định và thả
nổi trong chế độ trung gian này tùy theo từng quốc gia mà có thể gồm rất nhiều biến
thể, mỗi quốc gia có thể “thêm bớt” một số yếu tố để tạo nên chế độ tỷ giá phù hợp với
mục tiêu của mình. Dưới đây tác giả xin nêu ra một số chế độ tỷ giá phổ biến thường
được các quốc gia áp dụng.
Chế độ neo tỷ giá: Theo đó các quốc gia sẽ neo đồng tiền của mình vào một loại

Khi tỷ giá biến động, NHTW với vai trò quản lý vĩ mô điều chỉnh lãi suất tái
chiết khấu, sẽ làm thay đổi lãi suất tiền gửi, tín dụng trên thị trường. Điều này có tác
dụng kích thích đối với việc di chuyển các luồng ngoại tệ ngắn hạn từ nước này sang
nước khác, từ đó dẫn đến sự thay đổi cung và cầu ngoại hối làm cho tỷ giá được bình
ổn, cụ thể:
Khi TGHĐ tăng lên, NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu dẫn tới lãi suất tiền
gửi sẽ tăng lên. Thu hút vốn ngắn hạn chạy vào trong nước, làm tăng khả năng cung
7 ngoại tệ và giảm bớt sự căng thẳng của tình hình cung đang nhỏ hơn cầu trên thị
trường dẫn tới tỷ giá có xu hướng hạ nhiệt.
Khi TGHĐ giảm thì NHTW hạ thấp lãi suất tái chiết khấu, dẫn đến lãi suất
tiền gửi giảm xuống,vốn ngoại tệ sẽ chạy ra nước ngoài. Bên cạnh đó các ngân hàng
trong nước bị hạn chế thu hút vốn, tức giảm khả năng cung ngoại tệ trên thị trường,
cũng như giảm tình hình căng thẳng khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ làm cho tỷ
giá gia tăng.
Tuy nhiên chính sách lãi suất tái chiết khấu chỉ có tác động đến tỷ giá trong
chừng mực nhất định. Do TGHĐ chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố đã được nêu ở phần
trước.
1.1.5.2. Chính sách hối đoái
Nguyên lý cơ bản của nghiệp vụ này là NHTW thông qua việc thực hiện các
nghiệp vụ mua – bán ngoại hối tạo ra khả năng trực tiếp thay đổi quan hệ cung cầu
ngoại hối trên thị trường để điều chỉnh tỷ giá. Cụ thể:
Khi TGHĐ tăng, NHTW sẽ tung ngoại hối dự trữ ra bán, cung ngoại hối
trên thị trường tăng lên và làm giảm bớt căng thẳng về cung cầu ngoại hối trên thị
trường, dẩn tới tỷ giá từ từ giảm xuống.
Khi TGHĐ giảm, NHTW mua vào ngoại hối, sẽ tăng nhu cầu ngoại hối trên
thị trường và làm giảm bớt căng thẳng quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường, dẫn
đến TGHĐ từ từ tăng lên.

lạm phát mặc dù tỷ lệ đảm bảo của đồng Mark xuống dưới 2%.
Quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng
trong nền kinh tế. Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher: M.V=P.Y. Nếu tổng khối
lượng tiền lưu hành (M) tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa – dịch vụ được trao
đổi (Y) giữ vững, tất nhiên mức giá trung bình (P) phải tăng. Và nếu thêm vào đó tốc
độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì P lại tăng rất nhanh. Để khắc phục tình trạng này cần
dùng biện pháp thích hợp để thiết lập lại cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh tế.
Quan điểm tĩnh về lạm phát nêu trên tuy giúp ta hiểu rõ về lạm phát, nhưng
không cho biết nguyên nhân của lạm phát và khiến cho ta lầm tưởng lạm phát cao là
kết quả của việc tăng trưởng cung tiền. Thật ra trong nhiều trường hợp không hẳn là
như vậy, nhà nước có thể tăng cung tiền mà không làm cho giá cả tăng, không gây ra

6
Gregory Mankiw , Macroeconomics (7th Edition), chương 6 trang 155
9 lạm phát, nếu như khối lượng tăng đó phù hợp với khối tiền cần thiết cho lưu thông,
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.
Lại có quan điểm cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa (tư
liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động). Lạm phát xảy ra khi mức
chung của giá cả và chi phí tăng. Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ
nguyên nhân nào đều là lạm phát. Lạm phát và giá cả tăng đều cùng một ý nghĩa. Thật
ra giá cả đồng loạt tăng lên chỉ là một trong những biểu hiện cơ bản của lạm phát mà
thôi
7
.
Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của
một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác
8

.
Lạm phát vừa phải: Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới
10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kỳ
này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổn định. Sự ổn
định đó được biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không cao, không xảy ra
tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn…
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý ổn định cho người lao động. Trong
thời gian này các hãng kinh doanh có khoản thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng
đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
Lạm phát phi mã: Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm
vi hai hoặc ba chữ số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã. Việt Nam và hầu
hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thực hiện cải cách.
Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ bị mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ
giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày. Mọi người có xu hướng
tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ
mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn và tích lũy của
cải.
Siêu lạm phát: Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng
giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị. Không có định nghĩa chính xác về siêu
lạm phát được chấp nhận phổ quát. Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà
kinh tế người Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên
(nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi).
Theo Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế 29, có bốn tiêu chí để xác định siêu lạm
phát, đó là: (1) người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền; (2) giá cả
hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa mà bằng một ngoại tệ ổn định; (3)
các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gian tín dụng là rất ngắn; và (4)

10
Tham khảo Reds (2012) “Mổ xẻ các khái niệm Lạm phát, Giảm phát và Thiểu phát”

13

Pj : giá mặt hàng j trong rổ hàng hóa dược chọn thời điểm t
dj : tỷ trọng tiêu dùng mặt hàng j trong rổ hàng hóa được chọn


=



1
 1 (1.5)
It : Lạm phát thời điểm t
Cách tính lạm phát theo các chỉ số giá khác được tính theo cách tương tự
bằng cách thay từng loại giá phù hợp với các mặt hàng trong rổ hàng hóa.

11
Tham khảo Wikipedia (2013) “Inflation”
12
Tham khảo Nghiên cứu kinh tế học (2011) “Kinh tế học: Lạm phát (Inflation) là gì? Các quan điểm về lạm
phát?”
13
Các công thức 1.4 đến 1.6 được tổng hợp thông qua những kiến thức sưu tầm
12 Ngoài ra, do một số loại hàng hóa có giá cả thay đổi thất thường do điều
kiện mùa vụ, nhà cung cấp, cũng như nhu cầu của người tiêu dùng như lương thực,
thực phẩm, năng lượng. Điều này ảnh hưởng mạnh tới việc xác định xu hướng dài hạn
của lạm phát, nên đôi lúc khi tính toán tỷ lệ lạm phát các nhà thống kê sẽ loại bỏ các

13 Lạm phát do chi phí đẩy: nguyên nhân do sự sụt giảm của tổng cung. Sự sụt
giảm này có thể do thảm họa thiên nhiên hoặc giá nguyên liệu đầu vào tăng. Ví dụ,
nguồn cung dầu giảm một cách đột ngột, làm cho giá dầu tăng. Các ngành nghề sản
suất sử dụng nhiều dầu có thể tìm cách chuyển sự gia tăng trong chi phí đầu vào này
cho người tiêu dùng bằng cách tăng giá thành sản phẩm đầu ra qua đó tạo nên sự tăng
giá trong nền kinh tế.
Lạm phát do cơ cấu: điều này thường liên quan đến các kỳ vọng trong quá khứ
về thu nhập. Khi mà người lao động luôn cố gắng giữ cho thu nhập tăng nhanh hơn sự
gia tăng của giá cả, điều này tạo gánh nặng chi phí nhân công cho các doanh nghiệp,
và các doanh nghiệp tìm cách giải tỏa áp lực này bằng cách chuyển chi phí tăng lên
này qua giá thành sản phẩm làm cho giá cả các mặt hàng tăng cao hơn. Vòng xoắn ốc
này lập đi lập lại ngày càng rộng hơn, làm lạm phát tăng nhanh.
1.2.4.2. Theo quan điểm của các nhà kinh tế trọng tiền.
Các nhà kinh tế trọng tiền tin rằng yếu tố quan trọng nhất tác động đến lạm phát
là tốc độ tăng giảm của cung tiền trong nền kinh tế. Họ cho rằng chính sách tài khóa,
tiêu dùng của Chính phủ, hoặc các chính sách thuế có tác động lẫn nhau trong kiềm
chế lạm phát. Theo Milton Friedman “Lạm phát tại bất cứ đâu luôn là hệ quả của chính
sách tiền tệ”.
Các nhà kinh tế trọng tiền nhấn mạnh rằng quá khứ đã cho chúng ta nhiều bài
học chứng minh rằng lạm phát luôn là một sự kiện của chính sách tiền tệ. Lý thuyết số
lượng tiền tệ đã xác định một cách đơn giản rằng bất kỳ một sự thay đổi về lượng tiền
trong hệ thống sẽ dẫn đến sự thay đổi của mức giá. Lý thuyết đó được bắt đầu với sự
hoán đổi như sau
MV = PQ
M: lượng tiền danh nghĩa
V: vòng quay của tiền trong một chu kỳ kinh tế
P: mức giá chung của nền kinh tế

Trích đoạn Biện pháp kiểm soát lạm phát Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát Các nghiên cứu trên thế giới về cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát xuất mô hình nghiên cứu truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát tại Việt Nam Kiến nghị đối với doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status