Cơ chế truyền dẫn tỷ giá và chính sách tiền tệ của Croatia - Pdf 13

ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CAO HỌC KINH TẾ

TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ ÁNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN VIỆT NAM
GVHD: TS. NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
SVTH: Nhóm 3 - TCDN NGÀY 1 – CHK20
CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ VÀ
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA
CROATIA
DANH SÁCH NHÓM

1. Lê Nguyễn Hoàng Anh
2. Mai Thùy Dung
3. Trần Minh Duy
4. Huỳnh Thị Thùy Dương
5. Đào Đức Hạnh
6. Nguyễn Ngọc Hân
7. Vũ Thị Thu Hiền
8. Nguyễn Thị Kiều Hoa
9. Đặng Thị Minh Huyền
10. Đồng Khánh Quyên
11. Nguyễn Thị Quyên
12. Nguyễn Phạm Dạ Quỳnh
13. Nguyễn Văn Thảo
14. Nguyễn Công Thiêm

Thực tế trong giai đoạn giữa những năm 1990 đã cho thấy chính sách tiền tệ ở
Croatia đã rất thành công trong việc giảm tỷ lệ lạm phát bằng việc sử dụng tỷ giá hối
đoái mục tiêu nghiêm ngặt - được đặc trưng bởi mức thay đổi rất thấp của tỷ giá và một
sự chủ động của Ngân hàng Trung ương (NHTW) trên thị trường ngoại hối. Tỷ giá mục
tiêu nghiêm ngặt đã rất thành công trong việc chặn đứng siêu lạm phát, ổn định nền
kinh tế và kéo theo lạm phát ở mức thấp thời kỳ sau đó. Tuy nhiên, với thay đổi gần đây
trong khuôn khổ lập pháp như luật NHTW Croatia mới (qua việc xác định rõ ràng sự ổn
định giá là mục tiêu đầu tiên của chính sách tiền tệ, giảm sự nhấn mạnh lên tỷ giá hối
đoái), sự mở rộng tài khoản vốn (được yêu cầu như một phần của tiến trình gia nhập EU
đã kiểm tra khả năng của NHTW Croatia (CNB) trong việc giữ sự kiểm soát chặt chẽ
đối với tỷ giá hối đoái) và sự phát triển của thị trường tài chính (cung cấp các công cụ
chính sách mới và tiến trình cắt giảm vai trò của dự trữ bắt buộc mở ra cơ hội mới cho
việc sử dụng tích cực hơn hoạt động thị trường mở bởi CNB) gợi ý rằng chính sách này
có thể sẽ phải xem xét lại trong tương lai.
Với việc sử dụng phương pháp VAR (với sai phân bậc 1) trong mô hình phân
tích trong ngắn hạn và phương pháp VAR đồng liên kết trong dài hạn, kết quả đã chỉ ra
rằng sự truyền dẫn tỷ giá là thấp khi mà tỷ giá đã được ổn định. Điều này sẽ cho thấy
nền kinh tế bị “đô la hóa” mà hầu hết bị giới hạn bởi tài sản tài chính thì tỷ giá hối đoái
mục tiêu chặt chẽ có thể không nhất thiết phải là lựa chọn tốt nhất.

TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CROATIA

Nhóm 3 – TCDN Ngày 1 – CHKTK20 – ĐH Kinh tế TP.HCM 2

1.2. Giới thiệu
Hầu hết các nền kinh tế thị trường mới nổi đều có những biểu hiện tiêu cực mà
Calvo và Reinhart (2000) gọi là “sợ thả nổi tỷ giá”. Vì những ảnh hưởng mạnh của tỷ
giá vào thương mại và lạm phát, các NHTW tại các nền kinh tế mở cửa qui mô nhỏ khó
có thể không quan tâm đến sự biến động của tỷ giá. Ở các nền kinh tế thị trường mới
nổi những quan tâm này là đa chiều bởi áp lực từ nhiều loại ngoại tệ mà không có hàng

đến CH Séc và Slovakia, ngay cả khi tỷ giá ổn định và chính sách tiền tệ thắt chặt đã tạo
ra mức lạm phát thấp ở Croatia.
Điều gì dẫn đến sự e sợ thả nổi tỷ giá? Điều quan trọng nhất là các mối quan
tâm về hậu quả của việc đô la hoá - đang lan rộng tại Croatia. Tiền gửi ngoại tệ chiếm
60% trong bảng tiền tệ, một tỷ lệ lớn hơn nhiều so với phần còn lại của số liệu mẫu
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CROATIA

Nhóm 3 – TCDN Ngày 1 – CHKTK20 – ĐH Kinh tế TP.HCM 4

(Bảng 2). Nguồn gốc của hiện tượng này là hậu quả của cuộc chiến tranh những năm
đầu của thập niên 90, điều mà cả Croatia và nước láng giềng Slovenia đều gặp phải.
Thực sự, sự mở rộng của quá trình đô la hoá ở cả hai quốc gia đã khá mạnh mẽ vào năm
1994, khi ngoại tệ được sử dụng như phương tiện thanh toán. Trong khi tại Slovenia đã
có sự hạn chế ngoại tệ và tình trạng xâm nhập đã giảm đi, thì chiến tranh tại Croatia vẫn
kéo dài đến năm 1995, và cùng với nó là sự bất ổn kinh tế và siêu lạm phát. Thậm chí
ngay cả khi nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô được thực hiện vào năm 1994, tình trạng đô la
hoá vẫn tiếp tục kéo dài đến năm 1998, và mức độ suy giảm không đáng kể.

Bảng 2: Tiền gửi ngoại tệ của các nước
Trong bối cảnh này, bất cứ chính sách tiền tệ độc lập nào cũng gặp phải những
rủi ro nghiêm trọng của sự bất ổn tài chính và ảnh hưởng của chúng trong kiểm soát lạm
phát bởi mức dự trữ hạn chế. Những sự thay đổi bất thường của tỷ giá có thể phá hủy
bảng cân đối của các chủ thể trong nền kinh tế, bởi vì sự gia tăng của các khoản nợ xấu
gây nguy hiểm cho tính ổn định của hệ thống ngân hàng. Thêm vào đó, hiệu quả của
chính sách thắt chặt tiền tệ có thể bị làm yếu đi nếu sự đánh giá tỷ giá hợp lý làm gia
tăng vị thế tài chính của những người cư trú với một phần lớn của nợ nước ngoài. Trong
trường hợp nền kinh tế bị đô la hóa hoàn toàn, khi giá cả và tiền lương được niêm yết
bằng ngoại tệ, chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu toàn bộ và chỉ chiến lược chủ động là
mục tiêu tỷ giá (Ize and Levy Yeyati, 2001).
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CROATIA

trung vào các phân đoạn cụ thể, như sự truyền dẫn của giá cả nhập/xuất khẩu, hoặc sự
đồng bộ hóa của các sự đo lường mức giá khác nhau. Dựa trên hình thức tương đối của
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CROATIA

Nhóm 3 – TCDN Ngày 1 – CHKTK20 – ĐH Kinh tế TP.HCM 6

lý thuyết ngang bằng sức mua các nhà kinh tế học đã có các nghiên cứu về các mức độ
truyền dẫn không hoàn toàn. Các nguyên nhân về sự truyền dẫn không hoàn toàn này đã
được chỉ ra bởi các nghiên cứu của: Dornbusch (1987) và Krugman (1987) chứng minh
rằng một sự truyền dẫn nhỏ hơn “một – một” có thể được giải thích bởi sự cạnh tranh
không hoàn hảo, hoặc chiến lược giá hướng tới thị trường. Các nhà sản xuất nước ngoài
điều chỉnh giá cả nhằm mục tiêu giữ sự ổn định thị phần trong thị trường nội địa. Hành
vi chiến lược này có thể là nguồn gốc khiến tỷ lệ truyền dẫn tiến tới không. Và Gosh
and Wolf (2001) chỉ ra rằng sự truyền dẫn không hoàn toàn trong ngắn hạn có thể xuất
hiện từ chi phí thực đơn.
Hiệu ứng truyền dẫn sẽ không là “một – một” nhưng cụ thể mức độ truyền dẫn
tại các nền kinh tế khác nhau sẽ cho các kết quả khác nhau. Cụ thể:
Vào năm 2000, nghiên cứu của McCarthy chỉ ra rằng mặc dù lợi ích của
các kênh truyền dẫn (tỷ giá ảnh hưởng đến lạm phát) đã được hạn chế phần lớn ở các
nước phát triển – các bằng chứng thực nghiệm chỉ rõ một sự truyền dẫn ở mức độ thấp
và giảm dần. Đến năm 2001, Choudri and Hakura cho rằng sự truyền dẫn này xuất hiện
và là ngoại sinh với các cơ chế khác nhau và có xu hướng nhỏ hơn khi lạm phát ở mức
thấp, xác nhận một các gián tiếp sự quan trọng của kỳ vọng trong cơ chế truyền dẫn.
Ngược lại, theo Ross (1998) và Kuijs (2001) thì các bằng chứng của một
sự truyền dẫn thấp dường như không đúng đối với các nền kinh tế chuyển đổi. Một số
đặc trưng của nền kinh tế Croatia có thể ảnh hưởng đến cường độ của sự truyền dẫn. Có
hai điểm cần chú ý, thứ nhất Croatia là một nền kinh tế nhỏ và mở ở mức độ trung bình
(so sánh với các nền kinh tế chuyển đổi khác). Thứ hai, quan trọng hơn, Croatia là một
nền kinh tế bị đô la hóa ở mức cao với sự thay thế tài sản và sự thay đổi giá cả theo tỷ
giá ở mức cao. Điều này, tự thân nó, lập luận cho sự truyền dẫn ở mức độ cao. Ngày

 Cơ sở của mô hình:
Một VAR tiêu chuẩn sẽ được ước lượng. Mô hình cơ sở của chuỗi phân phối sẽ
được chuyển sang một cấu trúc đệ quy của ma trận hiệp phương sai. Điều này, đến lượt
nó, cho phép chúng ta xác định các cú sốc xuất phát từ sự thay đổi tỷ giá và ảnh hưởng
của nó lên tỷ lệ lạm phát của Croatia. Cấu trúc này là một sự tinh giản của McCarthy
(2000), đã sử dụng mô hình chuỗi sản xuất – được truyền cảm hứng bởi Blanchard
(1983) và Christiano (cùng các cộng sự, 1997). Việc giảm số lượng các biến do thiếu dữ
liệu từ Croatia là giá nhập khẩu không được đưa vào mô hình do thiếu số liệu, và điều
đó khiến không xây dựng mô hình một cách rõ ràng cho hành vi của ngân hàng trung
ương. Giả định rằng Croatia là một nền kinh tế “mở và nhỏ” do đó không có ảnh hưởng
đáng kể lên thị trường thế giới, chúng ta kỳ vọng sự truyền dẫn giá nhập khẩu được
hoàn thành trong một khoảng thời gian khá ngắn. Mặt khác, bài nghiên cứu này không
đề cập đến lãi suất và dự trữ tiền tệ. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu không bị sự ảnh
hưởng đáng kể từ việc thiếu hụt này, nguyên nhân:
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CROATIA

Nhóm 3 – TCDN Ngày 1 – CHKTK20 – ĐH Kinh tế TP.HCM 8

Lãi suất được cho là để tương ứng với các biến nói trên theo một cách
tương tự như một “quy tắc” của ngân hàng trung ương và sự tăng lên của dự trữ tiền tệ,
để phản ánh hành vi về phía cầu tiền. Trong bài nghiên cứu này không cần thiết do thị
trường tiền tệ không được kiểm soát tốt khiến lãi suất không phản ánh được hành vi của
thị trường.
Dự trữ tiền tệ được bao gồm trong một cách không chính thống bởi vì
cấu trúc đặc biệt của cung tiền ở Croatia, chứa đựng trong nó tỷ lệ “đô la hóa” cao.
Dựa trên một trật tự được chấp nhận rộng rãi (được sử dụng trong nghiên cứu
của McCarthy (2000), với các biến: thay đổi trong giá dầu thế giới, khe hở sản lượng,
thay đổi trong tỷ giá, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng, dự
trữ ngoại hối).
DHWWA (thay đổi trong chỉ số giá nguyên liệu thô – thể hiện cú sốc về phía

y
t
: cú sốc về phía cầu (Output gap) giai đoạn t.
e
t
: cú sốc tỷ giá giai đoạn t.
Cú sốc tỷ giá sau đó góp phần vào lạm phát nội địa, trước tiên vào giá sản xuất
và sau đó là giá bán lẻ.
mpi
t
e
t
y
t
wp
t
mpi
t
t
mpi
t
cccE
321
1
)(

TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CROATIA

Nhóm 3 – TCDN Ngày 1 – CHKTK20 – ĐH Kinh tế TP.HCM 9


1
)(

rpi
t
,
rpi
t
: chỉ số giá bán lẻ và cú sốc chỉ số giá bán lẻ giai đoạn t.

m
t
rpi
t
mpi
t
e
t
y
t
wp
tt
t
t
eeeeemEm
54321
1
)(

t


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status