Luận văn thạc sĩ Sai lệch lợi nhuận sau thuế trên BCTC trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR
ƯNG I HC KINH T TP. H CHÍ MINH
***

PHAN TIN QUÂN SAI LCH LI NHUN SAU THU TRÊN
BCTC TRƯC VÀ SAU KIM TOÁN CA
CÁC CÔNG TY NIÊM YT
LUN VĂN THC S KINH T

TP. H Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR
ƯNG I HC KINH T TP. H CHÍ MINH
***

PHAN TIN QUÂN

SAI LCH LI NHUN SAU THU TRÊN
BCTC TRƯC VÀ SAU KIM TOÁN CA
CÁC CÔNG TY NIÊM YT



Công ty niêm yết và việc công bố thông tin kế toán 3

1.1.1.

Công ty niêm yết 3

1.1.2.

Công bố thông tin kế toán của công ty niêm yết 4

1.2.

Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính 6

1.2.1.

Định nghĩa về kiểm toán 6

1.2.2.

Phân loại kiểm toán 7

1.2.3.

Kiểm toán báo cáo tài chính 8

1.2.4.

Vai trò của kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính 8

NAM 19

2.1

Phân tích tổng quan sai lệch chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế các công ty
niêm yết 2010-2012 19

2.1.1

Về số lượng, mức độ các công ty có sai lệch 20

2.1.2

Sai lệch theo ngành nghề 23

2.1.3

Sai lệch theo công ty kiểm toán 26

2.1.4

Sai lệch theo quy mô công ty niêm yết 29

2.1.5

Xác định các sai lệch phổ biến 31

2.2

Phân tích các sai lệch phổ biến ảnh hưởng đến lợi nhuận sau thuế

Kết luận chương 2 49

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ GIẢM SAI LỆCH LỢI NHUẬN
SAU THUẾ TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN 50

3.1.

Cơ sở để đưa ra các kiến nghị 50

3.2.

Kiến nghị đối với doanh nghiệp niêm yết 513.3.

Kiến nghị đối với đơn vị kiểm toán độc lập 54

3.4.

Kiến nghị đối với cơ quan quản lý 56

3.5.

Kiến nghị đối với Hội nghề nghiệp 58

3.6.

Kiến nghị đối với người sử dụng báo cáo tài chính 59


năm 2012
Phụ lục 2.4: Danh sách các công ty VN30 công bố tháng 01/2013
Phụ lục 2.5: Danh sách các công ty khảo sát giải trình chênh lệch sau kiểm toán năm
2010
Phụ lục 2.6: Danh sách các công ty khảo sát giải trình chênh lệch sau kiểm toán năm
2011
Phụ lục 2.7: Danh sách các công ty khảo sát giải trình chênh lệch sau kiểm toán năm
2012

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài :
Hiện nay, số liệu lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán của một số công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam thường có sự sai lệch, ảnh hưởng tới việc
ra quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính.
Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng sai lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau
kiểm toán các công ty niêm yết ở Việt Nam là thực sự cần thiết, sẽ giúp nâng cao chất
lượng thông tin cho người sử dụng báo cáo tài chính trong việc ra quyết định. Vì vậy,
tác giả đã chọn vấn đề này để làm luận văn cao học chuyên ngành kế toán.
2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây :
Vấn đề sai lệch thông tin cung cấp trên báo cáo tài chính đã được đề cập ở một số
nghiên cứu về sai sót, gian lận trên báo cáo tài chính các công ty niêm yết ở Việt Nam.
Các đề tài này đã xem xét, tổng kết các nghiên cứu về sai sót, gian lận trên thế giới và
tiến hành phân tích thực trạng, nguyên nhân của các sai sót, gian lận ở Việt Nam. Từ
đó, đưa ra các giải pháp, kiến nghị để nâng cao việc ngăn ngừa, phát hiện sai sót, gian
lận trên báo cáo tài chính, góp phần hạn chế sai lệch thông tin cung cấp cho người sử
dụng.

Nghiên cứu này xuất phát và giải quyết một trong các vấn đề phát sinh của việc công
bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Qua việc phân tích, đánh giá sai lệch lợi nhuận sau thuế các công ty niêm yết sẽ cho ta
cái nhìn chi tiết hơn về thực trạng sai lệch hiện nay và đưa ra các kiến nghị để hạn chế
sai lệch. Từ đó sẽ giúp nâng cao hiệu quả của công tác lập báo cáo tài chính, hoạt động
kiểm toán và cung cấp thông tin hữu ích hơn cho người sử dụng báo cáo tài chính.
7. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và 7 phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1 - Cơ sở lý luận: tìm hiểu các khái niệm, các lý thuyết làm nền cho đề tài
nghiên cứu
- Chương 2 - Thực trạng, nguyên nhân sai lệch: thu thập và phân tích chi tiết số liệu
sai lệch, tìm hiểu các sai lệch phổ biến
- Chương 3- Các đề xuất, kiến nghị: tìm hiểu và đưa ra các kiến nghị để hạn chế sai
lệch
3 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ
TOÁN VÀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM1.1. Công ty niêm yết và việc công bố thông tin kế toán
1.1.1. Công ty niêm yết
Công ty niêm yết là những công ty cổ phần được Sở giao dịch chứng khoán cho phép
niêm yết cổ phiếu của mình cho mục đích giao dịch trên Sở khi đáp ứng được một số
điều kiện quy định.
Hiện tại, ở Việt Nam, các điều kiện niêm yết được quy định trong Nghị định số
58/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ - Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số

hình thành tài sản của đơn vị kế toán.
Căn cứ vào thông tin kế toán cung cấp mà kế toán được chia thành kế toán tài chính và
kế toán quản trị.
”Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin
kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin
của đơn vị kế toán.” (Luật kế toán, 2003)
”Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài
chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế
toán.” (Luật kế toán, 2003)
Như vậy, thông tin kế toán được đề cập ở đây chủ yếu là thông tin do kế toán tài chính
cung cấp qua báo cáo tài chính của các công ty niêm yết.
Ý nghĩa của việc công bố thông tin kế toán
Trên thế giới và ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật, các công ty niêm yết có
nghĩa vụ phải công bố thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán. Việc công bố
thông tin kế toán của công ty niêm yết có vai trò quan trọng do:
• Việc cung cấp thông tin kế toán là để xác định được doanh nghiệp có đủ điều kiện
niêm yết hay không? Điều này để nâng cao chất lượng các công ty được giao dịch
và được thu hút vốn từ các nhà đầu tư. Các công ty không còn đủ điều kiện sẽ
không được tiếp tục niêm yết.
5 • Căn cứ vào thông tin kế toán được cung cấp, các nhà đầu tư sẽ ra quyết định mua,
bán chứng khoán. Như vậy, thông tin kế toán là một trong các yếu tố hình thành
nên cung cầu hàng hóa trên thị trường chứng khoán (Phạm Đức Tân, 2009)
• Căn cứ vào thông tin kế toán được các công ty niêm yết cung cấp, các cơ quan
quản lý, các tổ chức có thể đánh giá được thực trạng, tình hình kinh tế chung, thực
trạng của các ngành. Từ đó có thể ra quyết định điều hành kinh tế phù hợp (Phạm
Đức Tân, 2009)
Quy ịnh hiện tại về việc công bố thông tin của công ty niêm yết

1.2.1. Định nghĩa về kiểm toán
Một trong các định nghĩa về kiểm toán được chấp nhận rộng rãi là:
”Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được
kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin đó với các
chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm
toán viên đủ năng lực và độc lập” (Auditing: An integrated approach, A.A. Arens &
J.K.Locbbecke, Prentice Hall, 1997)
Trong đó:
• Thông tin được kiểm tra: là báo cáo tài chính các doanh nghiệp, các tờ khai thuế
của đơn vị,
• Các chuẩn mực được thiết lập: là cơ sở để đánh giá thông tin được kiểm tra. Cụ
thể như là các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, các văn bản luật thuế,
• Bằng chứng kiểm toán: là các thông tin để chứng minh cho ý kiến nhận xét của
kiểm toán viên, cụ thể nhý chứng từ kế toán, thý xác nhận công nợ, báo cáo
chứng kiến kiểm kê,
• Báo cáo kiểm toán: là văn bản trình bày ý kiến chính thức của kiểm toán về sự
phù hợp giữa thông tin được kiểm tra và chuẩn mực đã được thiết lập. Cụ thể
đối với kiểm toán báo cáo tài chính là kiểm toán viên đưa ra ý kiến về sự trung
thực, hợp lý của báo cáo chính được kiểm toán.
• Kiểm toán viên phải có đủ năng lực và độc lập: năng lực kiểm toán viên là trình
độ nghiệp vụ được hình thành qua đào tạo và tích lũy kinh nghiệm. Sự độc lập
7 với đơn vị kiểm toán là yêu cầu cần thiết để có được sự khách quan của kiểm
toán viên và niềm tin của người sử dụng kết quả kiểm toán.
1.2.2. Phân loi kiểm toán
Người sử dụng thông tin thường có các yêu cầu khác nhau đối với các thông tin được
kiểm tra. Để đáp ứng với yêu cầu trên, các loại hình kiểm toán với các mục đích khác
nhau đã hình thành và có các chủ thể kiểm toán khác nhau (Sách Kiểm toán - Đại học

được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực hợp lý của báo cáo tài
chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập.
Mục tiêu:
• Đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sỏ chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực
hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu không?
• Giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm
nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị
Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính: gồm 3 giai đoạn chính là:
• Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán: kiểm toán viên tiếp cận khách hàng va thu thập các
thông tin để ký hợp đồng, lập kế hoạch và chương trình kiểm toán.
• Giai đoạn kế tiếp là thực hiện kế hoạch và chương trình kiểm toán để thu thập các
bằng chứng làm cơ sỏ cho ý kiến nhận xét của kiểm toán viên.
• Giai đoạn hoàn thành kiểm toán là tổng hợp và rà soát lại các bằng chứng đã thu
thập để kiểm toán viên hình thành ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán.

1.2.4. Vai trò của kiểm toán và kiểm toán báo cáo tài chính
• Nâng cao hiệu quản hoạt động của đơn vị nói riêng và nền kinh tế nói chung:
Hoạt động kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ sẽ giúp
phát hiện ra các yếu kém, sai sót của từng đơn vị, tổ chức, đồng thời đánh giá được kết
quả thực hiện. Từ đó người quản lý các cấp có thể đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp
giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị, tổ chức.
Ngoài việc cung cấp dịch vụ kiểm toán độc lập, các công ty kiểm toán danh tiếng
cũng cung cấp các dịch vụ tư vấn kế toán, tài chính, thuế cho các đơn vị góp phần
giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.
9 Khi hiệu quả hoạt động của các đơn vị, tổ chức được nâng cao sẽ thúc đầy phát triển
và ổn định nền kinh tế nói chung.

Trong đó,
”Doanh thu và thu nhập khác: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được
trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các
hoạt động khác của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm
khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu”
”Chi phí: Là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình
thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn
đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ
sở hữu.”
Như vậy, lợi nhuận đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị, là chênh lệch
giữa doanh thu và chi phí, là lợi ích kinh tế nhận được hoặc mất đi khi thực hiện hoạt
động kinh doanh của đơn vị.
Li nhun sau thuế là lợi nhuận sau khi trừ đi chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
phải nộp và là cơ sở để phân chia kết quả kinh doanh cho chủ sở hữu, nhà đầu tư.
Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế cần được phản ánh một cách trung thực, hợp lý khi được
công bố cho người sử dụng. Tuy nhiên, trên thực tế thường có sự sai lệch chỉ tiêu lợi
nhuận sau thuế công bố trước và sau kiểm toán của các công ty niêm yết. Điều này có
thể do các nguyên nhân sau:
• Báo cáo tài chính trước kiểm toán có sai sót, gian lận
• Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến thời điểm kiểm toán
• Doanh nghiệp thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận
1.3.2. Sai sót và gian lận
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA 240) thì:
Sai sót là “những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, như:
• Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai
• Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế
• Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính
sách tài chính nhưng không cố ý”
11


12 • Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán,
chính sách tài chính
• Cố ý tính toán sai về số học”
Về lý thuyết có thể phân biệt gian lận và sai sót qua việc xem xét hành vi đó có hoặc
không có chủ đích. Tuy nhiên, trên thực tế việc phân biệt giữa sai sót và gian lận thật
sự không dễ dàng, do không có đủ thông tin để ra kết luận về hành vi đó là có chủ đích
hay không.
Nguyên nhân thc hiện hành vi gian lận báo cáo tài chính
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân thực hiện hành vi gian
lận trên báo cáo tài chính. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu mới đây của Nguyễn Phúc
Cảnh (2013) thì một số nguyên nhân chính của doanh nghiệp thực hiện gian lận số liệu
trên báo cáo tài chính của Việt Nam là:
• Do áp lực từ bên trong và bên ngoài về lợi nhuận kỳ vọng gây ra
• Để giảm thuế phải nộp
• Tác động đến giá cổ phiếu
• Áp lực tạo doanh thu ổn định
Trong đó nguyên nhân đứng đầu là do muốn đạt được lợi nhuận kỳ vọng. Do chỉ tiêu
lợi nhuận là tổng hợp của các khoản mục khác nên để đạt được lợi nhuận kỳ vọng thì
các doanh nghiệp tác động tới các khoản mục liên quan chính là các khoản doanh thu,
chi phí.
Trách nhiệm của kiểm toán viên và công ty kiểm toán
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 cũng quy định các kiểm toán viên, công ty
kiểm toán có trách nhiệm giúp phát hiện và ngăn ngừa các sai sót, gian lận của đơn vị
được kiểm toán. Qua đó, khi phát hiện được các sai sót, gian lận trọng yếu trên báo cáo
tài chính của đơn vị, các KTV sẽ yêu cầu đơn vị thực hiện điều chỉnh và lập lại báo
cáo tài chính dẫn đến phát sinh sai lệch sau kiểm toán.
Tuy nhiên, không phải sai sót, gian lận trọng yếu nào cũng dẫn tới sai lệch sau kiểm

kiểm toán viên sẽ xem xét lại các sự kiện phát sinh này, nếu cần kiểm toán viên sẽ điều
chỉnh và lập lại báo cáo tài chính mới dẫn đến phát sinh sai lệch sau kiểm toán. 14 1.3.4. Hành vi qun trị lợi nhuận
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của các
doanh nghiệp niêm yết. Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về vấn đề này của
Đường Nguyễn Hưng (2013), Huỳnh Thị Vân (2012), Nguyễn Thị Minh Trang (2011).
Qua các nghiên cứu đó, cho ta thấy được một số nội dung về hành vi quản trị lợi nhuận
như sau:
Khái niệm
Quản trị lợi nhuận là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị công
ty nhằm đạt được lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán (Huỳnh Thị Vân,
2012)
Bản chất của quản trị lợi nhuận: là việc vận dụng các chính sách và thực hiện các
ước tính kế toán và quyết định thời điểm thực hiện các nghiệp vụ một cách có mục
đích dẫn đến việc phản ánh không trung thực tình hình tài chính và kết quả hoạt động
của doanh nghiệp (Đường Nguyễn Hưng, 2013).
Cơ sỏ của hành vi quản trị lợi nhuận: là kế toán theo cơ sỏ dồn tích. Kế toán theo cơ
sở dồn tích có nghĩa là mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn
vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch,
không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (Chuẩn mực kế toán 01)
Do doanh thu và chi phí có thể được ghi nhận khi chưa thu hay chi tiền nên việc ghi
nhận có thể chịu ảnh hưởng của quyết định chủ quan của nhà quản lý. Hành vi quản trị
lợi nhuận được thực hiện trên việc điều chỉnh thời điểm và mức độ ghi nhận các khoản
doanh thu, chi phí và từ đó tác động đến lợi nhuận (Đường Nguyễn Hưng, 2013).
Mục đích hành vi quản trị lợi nhuận:

• Mục đích của nhà quản trị: hành vi thực hiện gian lận thể hiện rõ ý định lừa gạt,
trong khi quản trị lợi nhuận thě cňn tůy thuộc mục đích của nhà quản trị.
Tuy nhiên trong một số trường hợp hành vi quản trị lợi nhuận sẽ chuyển thành gian lận
kế toán. Việc để phân biệt hai hành vi trên một cách rõ ràng hoặc khi nào hành vi quản
trị lợi nhuận sẽ vượt qua giới hạn trở thành gian lận là một trong các vấn đề đang được
nghiên cứu. Tuy nhiên, việc này không dễ dàng do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất do quản trị lợi nhuận và gian lận kế toán có chung các yếu tố:
16 • Chúng có chung một mục tiêu: lừa gạt hoặc làm lệch hướng người sử dụng thông
tin
• Cả hai đều là những hành động có tính toán của nhà quản lý để thực hiện lợi ích
riêng
• Cả hai đều có khả năng gây ra sự mất mát hoặc phá hoại về vật chất cho những cổ
đông sử dụng thông tin sai lệch
Th hai, hành vi quản trị lợi nhuận qua các biến kế toán dồn tích thường dẫn tới gian
lận tài chính. Khi các công ty thổi phồng lợi nhuận báo cáo qua biến kế toán dồn tích,
các biến này sẽ gây ảnh hưởng ngược lại trong thời gian tới. Thu nhập các năm trước
gia tăng qua các biến kế toán dồn tích có thể khiến các công ty không còn khả năng để
thực hiện quản trị lợi nhuận trong các năm sau. Do đó khi xử lý việc đảo ngược làm
giảm lợi nhuận, nhà quản lý có thể phải tiến hành các hành vi gian lận để đạt được
mục tiêu mà đã được thực hiện trước đó bằng quản trị lợi nhuận
Nguyên nhân th ba là cả hai được dẫn dắt bởi cùng một động cơ. Các nghiên cứu
trước đó đã chỉ ra rằng các biến kế toán dồn tích của lợi nhuận và dòng tiền được xử
lý để đạt được hoặc vượt nhẹ các dự đoán phân tích, các kế hoạch đề ra. Hơn nữa các
công ty tiến hành quản trị lợi nhuận để tối đa hóa thù lao thỏa thuận của người quản lý
hoặc tránh các điều khoản nợ khi vay. Các nghiên cứu trước đó cũng xác minh các
động cơ quản trị lợi nhuận cũng giống gian lận như liên quan tới sự mong đợi của thị
trường, điều khoản vay nợ và thù lao quản lý.

hóa không đúng
• Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp: không ghi nhận chi phí thuế thu nhập doanh
nghiệp hoãn lại, trình bày khoản thuế thuế thu nhập doanh nghiệp bị truy thu các
năm trước vào chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.
• Lập báo cáo hợp nhất: doanh nghiệp không loại trừ lợi nhuận phát sinh từ các giao
dịch nội bộ, các vấn đề về xác định lợi thế thương mại
Tuy nhiên, bài viết của Bùi Hoàng Hải (2012) chưa nêu ra cách khảo sát, nghiên cứu
để tổng hợp ra các sai lệch trên. Do đó tác giả sẽ thực hiện khảo sát để nhận diện và
kiểm tra lại các sai lệch trên. Đây cũng là nội dung mà tác giả muốn tìm hiểu qua việc
phân tích chi tiết các sai lệch phổ biến của doanh nghiệp niêm yết đã dẫn tới sai lệch
lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán.

Trích đoạn Nghiên cứu về sai lệch lợi nhuận sau kiểm toán thường gặp Sai lệch theo ngành nghề Sai lệch theo quy mô công ty niêm yết Sai lệch ghi nhận doanh thu Sai lệch ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status