BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THÚY HIỀN
CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ THU, CHI
NGÂN SÁCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
NGHỀ KV LONG THÀNH - NHƠN TRẠCH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP.Hồ Chí Minh - Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THÚY HIỀN
CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ THU, CHI
NGÂN SÁCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI
VỚI CÔNG TÁC THU, CHI NGÂN SÁCH TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ
THU 6
1.1. Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ trong một đơn vị: 6
1.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của các lý thuyết kiểm soát nội bộ. 6
1.1.2. Lịch sử ra đời và phát triển của HTKSNB trong khu vực công 7
1.2. Định nghĩa về KSNB và các yếu tố của HTKSNB theo INTOSAI 7
1.2.1. Định nghĩa về KSNB theo INTOSAI 7
1.2.2. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ 8
1.2.3. Sự cần thiết và lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ 9
1.2.4. Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ: 10
1.3. Kiểm soát nội bộ thu, chi ngân sách trong đơn vị sự nghiệp có thu 14
1.3.1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm hoạt động tài chính của các đơn vị sự
nghiệp có thu 14
1.3.3. Nội dung kiểm soát nội bộ công tác thu, chi trong đơn vị sự nghiệp có thu: 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 26
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT NỘI BỘ THU, CHI
NGÂN SÁCH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KHU VỰC LONG THÀNH –
NHƠN TRẠCH. 27
2.1. Những vấn đề chung về các trường CĐN trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai: 27
3.3.2. Kiến nghị với Bộ tài chính 90
3.3.3. Kiến nghị đối với Sở tài chính 91
3.3.4. Kiến nghị đối với Kho bạc Nhà nước 91
3.4. Các điều kiện để thực hiện, triển khai giải pháp 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN CHUNG 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. COSO: Committee Of Sponsoring Organization
2. KSNB: Kiểm soát nội bộ
3. NSNN: Ngân sách Nhà nước
4. HC-TH: Hành chính tổng hợp
5. UBND: Ủy ban Nhân dân
6. HCSN: Hành chính sự nghiệp
7. KBNN: Kho bạc nhà nước
8. TSCĐ: Tài sản cố định
9. CBVC: Cán bộ viên chức
10. BGH: Ban giám hiệu
11. CĐN: Cao Đẳng Nghề
12. KV LT - NT: Khu vực Long Thành - Nhơn Trạch DANH MỤC SƠ ĐỒ SƠ ĐỒ 1: BỘ MÁY TỔ CHỨC TẠI TRƯỜNG CĐN KHU VỰC LONG THÀNH - NHƠN 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề ti:
Trong những năm gần đây, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thì
các đơn vị hành chính sự nghiệp dưới sự quản lý của Nhà nước cũng từng bước đi
vào phát triển ổn định và vững chắc góp phần không nhỏ vào công cuộc đổi mới
kinh tế - xã hội của đất nước. Ngày 25 tháng 4 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Nghị định Số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế tài chính đối với các đơn vị sự
nghiệp công lập. Như vậy các đơn vị cần hành chính sự nghiệp (HCSN) cần phải
kiểm soát chặt chẽ về chi phí, phải tự tính toán, đảm bảo sử dụng nguồn thu, chi đạt
hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tạo sự chủ động về cả hoạt động và tài chính của đơn vị.
Các đơn vị hành chính sự nghiệp là những đơn vị quản lý hành chính Nhà
nước như đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, sự nghiệp khoa học
công nghệ, sự nghiệp kinh tế… hoạt động bằng nguồn kinh phí của Nhà nước cấp,
hoặc các nguồn kinh phí khác như thu sự nghiệp, phí, lệ phí, thu từ kết quả hoạt
động kinh doanh hay nhận viện trợ biếu tặng theo nguyên tắc không bồi hoàn trực
tiếp để thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho. Điều này nhằm đáp
ứng yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính, tăng cường quản lý kiểm soát thu, chi quỹ
Ngân sách Nhà nước, quản lý tài sản công, nâng cao chất lượng công tác kế toán và
hiệu quả quản lý các đơn vị hành chính sự nghiệp.
Công tác kiểm soát nội bộ thu, chi ngân sách trong những năm qua có những
chuyển biến trong việc hình thành những tiêu chuẩn và chuẩn mực riêng, cơ chế tài
chính đối với các đơn vị sự nghiệp công ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn
thiện, các hoạt động thu chi tài chính ngày càng phức tạp, cơ chế tự chủ được giao
Trong lĩnh vực công, KSNB rất được xem trọng, nó là một đối tượng được
quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước. Một số quốc gia như Mỹ, Canada
đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự
nghiệp. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 1999
có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ chức hành chính sự nghiệp. GAO đưa
3
ra năm yếu tố về KSNB bao gồm các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá
rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin, truyền thông, giám sát.
Về kiểm toán nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước do Tổ chức
quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành bao gồm quy tắc đạo
đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán.
Ở Việt Nam, KSNB đã tồn tại và phát triển nhưng phần lớn còn tồn tại nhiều
yếu kém, chưa phát huy hết vai trò công cụ quản lý của doanh nghiệp. Nhiều doanh
nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống KSNB hữu hiệu phù hợp với
đặc điểm của đơn vị mình. Phương pháp quản lý của nhiều công ty còn lỏng lẻo,
thiếu những quy chế hoạt động, vi phạm nguyên tắc bất kiêm nhiệm khi phân công
công việc cho nhân viên và thiếu sự kiểm tra chéo giữa các bộ phận để phòng ngừa
gian lận. Các đơn vị còn ít chú trọng đến KSNB, vì vậy đã xảy ra không ít trường
hợp sai phạm trong công tác thu, chi tại đơn vị.
Về lý luận, tác giả đã nghiên cứu các nội dung cơ bản của hệ thống kiểm soát
nội bộ theo Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI cũng như kiểm soát nội
bộ trong một số chu trình nghiệp vụ hay tài sản chủ yếu. Từ đó tác giả đã liên hệ với
những đặc thù của đơn vị sự nghiệp để vận dụng lý luận về KSNB cho phù hợp.
Trong quá trình làm luận văn tác giả đã tham khảo một số đề tài tương tự về
kiểm soát nội bộ như:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Thái Thùy Linh (năm 2010) với đề tài “Hoàn
thiện công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu sự nghiệp, chi sự nghiệp tại các
trường công lập thuộc phòng giáo dục và đào tạo Thanh Khê” tác giả đi sâu nghiên
cứu, phân tích thực trạng công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu, chi sự nghiệp tại
Trường CĐN Khu vực Long Thành – Nhơn Trạch.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Phân tích thực trạng công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu, chi ngân sách
tại Trường Cao đẳng Nghề KV Long Thành - Nhơn Trạch. Từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ và hiệu
quả công tác quản lý thu, chi ngân sách tại trường Cao đẳng nghề KV Long Thành –
Nhơn Trạch.
5
4. Đi tượng v phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác kiểm soát nội
bộ các khoản thu, chi ngân sách trường Cao đẳng nghề Khu vực Long Thành -
Nhơn Trạch (thuộc cơ quan hành chính sự nghiệp) tỉnh Đồng Nai
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Tập trung khảo sát các khoản thu, chi ngân sách chủ yếu
tại trường Cao Đẳng nghề Khu vực Long Thành - Nhơn Trạch.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp định tính lý luận được nghiên
cứu dựa trên các phương pháp như khái quát hóa, khảo sát thực tế, tổng hợp, phân
tích, đánh giá các dữ kiện, phương pháp sử dụng bảng câu hỏi – trả lời bằng
viết,phân tích và vận dụng những kiến thức đã học đưa ra những giải pháp phù hợp
6. Những đóng góp của luận văn:
- Về mặt lý luận: Luận văn đã làm rõ các lý luận cơ bản về công tác kiểm
soát nội bộ các khoản thu, chi ngân sách trong đơn vị sự nghiệp có thu.
- Về mặt thực tiễn: Thông qua việc nghiên cứu và tìm hiểu thực tế tại Trường
Cao Đẳng Nghề khu vực Long Thành - Nhơn Trạch, luận văn đã đưa ra được những
tồn tại trong công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu, chi ngân sách tại Trường
CĐN KV Long Thành - Nhơn Trạch cũng như hướng khắc phục của các tồn tại này,
từ đó giúp cho các đơn vị hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu, chi
ngân sách góp phần tăng cường công tác quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn
thiệt hại cho lợi ích của tổ chức đó. Ngày nay, công tác kiểm tra và kiểm soát đã và
đang trở thành một trong những chức năng quan trọng giúp các đơn vị thực hiện
được điều đó. Trong suốt quá trình hoạt động của mình, song song với công tác tổ
chức nhân sự, tài chính, kế hoạch….thì các nhà quản lý luôn phải gắn công tác kiểm
tra, kiểm soát của mình đi kèm đối với các chức năng này thông qua các thủ tục, các
chính sách đảm bảo hướng các mặt hoạt động đó đi đúng mục tiêu đã đặt ra.
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về KSNB, dưới đây là một số quan
điểm về KSNB:
- KSNB theo quan điểm AICPA: “KSNB là kế hoạch tổ chức và tất cả những
phương pháp, biện pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ
tài sản của tổ chức, kiểm tra sự chính xác và độ tin cậy của thông tin kế toán, thúc
đây hiệu quả hoạt động và khích lệ bám sát chủ trương quản lý đề ra.
- KSNB theo quan điểm của IFAC: “KSNB là hệ thồng gồm các chính sách,
các thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm đảm bảo các mục tiêu: bảo vệ tài sản của
đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, đảm bảo việc thực hiện các chế độ
pháp lý và đảm bảo hiệu quả hoạt của hoạt động”.
- KSNB theo quan điểm của COSO: “KSNB là một quy trình chịu ảnh hưởng
bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của tổ chức, được
thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc tổ chức thực hiện các mục
tiêu sau: Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động, tính chất đáng tin cậy của Báo cáo
tài chính, sự tuân thủ các luật lệ về pháp luật hiện hành”.
7
1.1.2. Lịch sử ra đời v phát triển của KSNB trong khu vực công
Trong lĩnh vực công, KSNB rất được xem trọng, nó là một đối tượng được quan
tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước
Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về KSNB áp
dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế
toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 1999 có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ
chức hành chính sự nghiệp. GAO đưa ra năm yếu tố về KSNB bao gồm các quy
đắn và kịp thời.
Tài liệu hướng dẫn của INTOSAI được cập nhật vào năm 2001, trình bày về
định nghĩa KSNB như sau: KSNB là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi
nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện
các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức.
So với định nghĩa của báo cáo COSO và hướng dẫn năm 1992, khía cạnh giá
trị đạo đức được thêm vào. Mục tiêu KSNB được nhấn mạnh thêm, đó chính là tầm
quan trọng của hành vi đạo đức cũng như sự ngăn chặn và phát hiện sự gian trá và
tham nhũng trong khu vực công.
Ngân sách nhà nước được phân bố rộng rãi. Chính vì vậy cần có các kiểm
soát nhằm đảm bảo ngân sách được sử dụng đúng mục đích, các tài sản không bị
thất thoát hay lãng phí. Vì vậy, việc bảo vệ nguồn lực cần được nhấn mạnh thêm
tầm quan trọng trong KSNB đối với khu vực công.
Mục tiêu của tài liệu này là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực
công. Vì vậy, các lãnh đạo của Chính phủ rất quan tâm đến tài liệu này. Các nhà
lãnh đạo các tổ chức của nhà nước xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và
giám sát KSNB trong tổ chức.
1.2.2. Mục tiêu của hệ thng kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nộ bộ được thiết lập trong một tổ chức với mục tiêu:
- Mục tiêu hoạt đông: Đây là mục tiêu liên quan đến tính hữu hiệu và hiệu
quả của các hoạt động. Kiểm soát nội bộ giúp đơn vị bảo vệ và sử dụng hiệu quả
các nguồn lực, bảo mật thông tin, nâng cao uy tín, mở rộng thị phần, thực hiện các
chiến lược kinh doanh của đơn vị.
- Mục tiêu báo cáo tài chính: Thông tin kế toán tài chính có vai trò quan
trọng đối với nhà quản lý đơn vị và các đối tượng liên quan khác bên ngoài. KSNB
phải đảm bảo về tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính. Báo cáo tài
chính. Báo cáo tài chính lập phải phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện
9
hành. Báo cáo tài chính trung thực, đáng tin cậy là cơ sở để nhà quản lý đơn vị đưa
10
1.2.4. Các yếu t cơ bản của hệ thng kiểm soát nội bộ:
Tương tự như báo cáo COSO, INTOSAI đưa ra năm yếu tố của KSNB bao
gồm: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Các hoạt động kiểm soát (Các thủ tục
kiểm soát); Thông tin và truyền thông; Giám sát.
a. Môi trường kiểm soát:
Môi trường kiểm soát đã tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh
hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên. Môi trường kiểm soát là nền tảng
cho tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập nên một nề nếp kỷ cương, đạo đức
và cơ cấu tổ chức. Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
+ Sự liêm chính và gia trị đạo đức:
Sự liêm chính và tôn trọng giá trị đạo đức của nhà lãnh đạo và đội ngũ nhân
viên xác định thái độ cư xử chuẩn mực trong công việc của họ, thể hiện qua sự tuân
thủ các điều lệ, quy định và đạo đức về cách ứng xử của cán bộ công chức nhà
nước. Thí dụ như công khai tài sản, các vị trí kiêm nhiệm công việc bên ngoài, quà
tặng và báo cáo các mâu thuẫn về lợi ích.
Đồng thời, phải cho công chúng thấy được tinh thần này trong sứ mạng và
tiêu chuẩn đạo đức của tổ chức công thông qua các văn bản chính thức.
+ Năng lực nhân viên
Năng lực nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỹ năng làm việc cần thiết
để đảm bảo việc thực hiện có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, hiệu quả và hữu hiệu
cũng như có sự am hiểu dúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập
hệ thống KSNB.
Lãnh đạo và nhân viên phải duy trì một trình độ đủ để hiểu được việc xây
dựng thực hiện, duy trì KSNB, vai trò của KSNB và trách nhiệm của họ trong việc
thực hiện sứ mạng chung của tổ chức. Mỗi cá nhân trong tổ chức đều giữ một vai
trò trong hệ thống KSNB bởi trách nhiệm của họ.
Lãnh đạo và nhân viên cũng cần có kỹ năng cần thiết để đánh giá rủi ro. Việc
đánh giá rủi ro đảm bảo hoàn thành trách nhiệm của họ trong tổ chức.
giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật, hướng dẫn nhân viên.
Mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong KSNB. Khả năng, sự tin cậy của
nhân viên rất cần thiết để kiểm soát được hữu hiệu. Vì vậy, cách thức tuyển dụng,
huấn luyện, giáo dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật là một phần
quan trọng trong môi trường kiểm soát. Nhân viên được tuyển dụng phải bảo đảm
được về tư cách đạo đức cũng như kinh nghiệm để thực hiện công việc được giao.
12
Nhà lãnh đạo cần thiết lập các chương trình động viên, khuyến khích bằng
các hình thức khen thưởng và nâng cao mức khuyến khích cho các hoạt động cụ thể.
Đồng thời, các hình thức kỷ luật nghiêm khắc cho các hành vi vi phạm cũng như
được các nhà lãnh đạo quan tâm.
b. Đánh giá rủi ro
Là sự nhận biết và phân tích các rủi ro liên quan đến mục tiêu hoạt động của
đơn vị nhằm giảm thiểu tác hại rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó. Đơn vị
phải đề ra các biện pháp, kế hoạch, quy trình hành động cụ thể hoặc đơn vị phải có
biện pháp để toàn bộ cán bộ, công nhân viên nhận thức rõ ràn về tác hại của các rủi
ro cũng như giới hạn tối thiểu của nó mà đơn vị có thể chấp nhận đươc.
- Rủi ro trong doanh nghiệp: trong một doanh nghiệp 4 loại rủi ro thường xảy
ra đó là: rủi ro thị trường, thường biểu hiện dưới dạng những thay đổi bất lợi về giá
ví dụ, giá trị cổ phiếu, tỷ giá, lãi suất hoặc giá hàng hóa. Rủi ro tín dụng bắt nguồn
từ khả năng không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đúng hạn đối với các khoản vay.
Rủi ro hoạt động thường bộc lộ dưới dạng thua lỗ do các chu trình nội bộ cũng như
hệ thống nội bộ không đầy đủ và do các tác động từ bên ngoài. Rủi ro liên quan đến
doanh số kinh doanh thường xuất phát từ những thay đổi trong cầu hoặc cung hoặc
từ đối thủ cạnh tranh và thể hiện dưới dạng biến động và doanh số.
- Rủi ro trong đơn vị sự nghiệp: Khác với doanh nghiệp, trong một đơn vị sự
nghiệp rủi ro chủ yếu xảy ra trong công tác thu, chi sự nghiệp
c. Hoạt động kiểm soát
Các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng nhằm thực hiện các mục tiêu của