Luận văn Đánh giá bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động ở khu vực đô thị Việt Nam - Pdf 29

B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP.HCM
T HOÀNG ANH ÁNH GIÁ BT BÌNH NG GII TRONG
THU NHP CA NGI LAO NG  KHU
VC Ô TH VIT NAM
Chuyên ngành : Kinh t phát trin
Mã s : 60.31.01.05

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1. Đặt vấn đề 1

2. Mục tiêu nghiên cứu 2

3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 2

4. Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 5

1.1. Bất bình đẳng giới trong thu nhập 5

1.1.1. Một số khái niệm 5

1.1.2. Tác động của bất bình đẳng giới trong thu nhập đối với sự phát triển kinh
tế xã hội 6

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong thu nhập 7

3.2 Cấu trúc thu nhập của người lao động cả nước và ở khu vực Thành thị 26

3.2.1 Phân bố lao động 26

3.2.2 Trình độ 27

3.3.3 Thành phần kinh tế 28

3.3 Sự khác biệt trong thu nhập của người lao động ở khu vực thành thị 28

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG 33

4.1 Mô hình ước lượng 33

4.1.1 Mô hình Mincer 33

4.1.2 Mô hình phân tích Oaxaca 34

4.2 Kết quả hồi quy hàm thu nhập Mincer 35

4.2.2 Kết quả mô hình 36

4.2.3 Đánh giá sự chênh lệch trong tiền lương của người lao động theo giới 40

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Kiến nghị 45



Hình 3.2: Thu nhập người lao động ở thành thị theo giới tính và nhóm tuổi 29

Hình 3.3: Thu nhập người lao động nữ theo nhóm tuổi và bằng cấp chuyên môn 30

Hình 3.4: Thu nhập người lao động nam theo nhóm tuổi và bằng cấp chuyên môn 30

Hình 3.5: Thu nhập người lao động ở các khu vực kinh tế phân theo giới tính 31DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
BTB&DH Bắc Trung bộ và Duyên hải
CMKT Chuyên môn kỹ thuật
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
MN Miền núi
NLTHS Nông lâm thủy hải sản
TCTK Tổng cục thống kê
TIẾNG ANH Ý NGHĨA TIẾNG VIỆT
CEDAW
Convention on the Elimination
of all Forms of Discrimination
against Women
Công ước Xoá bỏ tất cả các hình
thức phân biệt đối xử với phụ nữ
LIF Lower Inner Fence Phía dưới rào trong
LOF Lower Outer Fence Phía dưới rào ngoài
OLS Ordinary Least Square Bình phương thông thường tối thiểu
VHLSS
Vietnam Household Living

Hơn thế, cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ngày càng
mở rộng, những thách thức của bình đẳng giới cũng đang biến đổi song hành với sự
biến đổi của cơ cấu thị trường lao động nhằm đáp ứng quá trình tăng trưởng kinh tế
với tốc độ như hiện nay. Trong khi sự tăng trưởng mang đến các cơ hội mới về gia
tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống thì đồng thời cũng tạo ra vấn đề bất bình
đẳng giới. Vấn đề này được thể hiện trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất và cơ
hội đào tạo đã hạn chế khả năng cạnh tranh của phụ nữ và củng cố thêm những nguyên
nhân tạo nên sự cách biệt về thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ trên thị
trường lao động.
Việc tiếp cận các cơ hội việc làm, các nguồn lực sản xuất, cũng như các dịch vụ
chất lượng cao về giáo dục, y tế…ở khu vực đô thị là thuận lợi và dễ dàng hơn so với
khu vực nông thôn. Do vậy, vấn đề bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao
động sẽ thể hiện rõ nét hơn ở các đô thị.
2

Trước thực trạng như trên, rất cần thiết phải có những tính toán, phân tích chính
xác, đầy đủ hơn về bất bình đẳng trong thu nhập để có thể dự đoán được xu thế cũng
như đưa ra được những chính sách, thể chế và chương trình cho phù hợp nhằm đảm
bảo cho phụ nữ có thể được hưởng lợi ngang bằng với nam giới trong điều kiện kinh tế
đô thị phát triển nhanh chóng như hiện nay. Đề tài: “Đánh giá bất bình đẳng giới
trong thu nhập của người lao động ở khu vực đô thị Việt Nam” cũng nhằm mục đích
làm sáng tỏ vấn đề này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nghiên cứu là đánh giá, đo lường mức độ khác biệt về thu
nhập giữa lao động nam và lao động nữ ở khu vực đô thị và tìm ra các yếu tố chủ yếu
ảnh hưởng có ý nghĩa đến bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam. Từ kết quả
nghiên cứu, đề tài đề xuất một số kiến nghị nhằm hướng đến thực hiện bình đẳng giới
trong thu nhập của người lao động.
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu

thành hai phần: phần có thể giải thích được dựa trên các đặc tính như trình độ giáo dục
hay thâm niên lao động, và cấu phần “không thể giải thích được”, hay là sự phân biệt
đối xử giới trên thị trường lao động.
4. Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu trình bày bối cảnh và tính cần thiết của đề tài, mục tiêu, đối tượng
nghiên cứu cũng như phương hướng, cách thức và các bước thực hiện để tìm ra kết
quả và các kết luận về bất bình đẳng giới trong thu nhập ở khu vực đô thị Việt Nam.
Chương 1 trình bày tổng quan lý thuyết về giới, bất bình đẳng giới và những tác
động của bất bình đẳng giới đến kinh tế xã hội đồng thời trình bày sơ lược những
phương pháp tính toán, phân tích và đánh giá về bất bình đẳng giới trong thu nhập.
Chương 2 trình bày diễn dịch toán học mô hình hồi quy hàm thu nhập Mincer
và phương pháp phân tách Oaxaca đồng thời trình bày phương pháp chọn mẫu và cách
thức tính toán các biến giải thích.

Chương 3 sẽ đưa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới
trong thu nhập ở Việt Nam nói chung và ở khu vực đô thị Việt Nam nói riêng thông
4

qua phân tích các số liệu thống kê về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc
làm… qua đó phân tích sơ bộ các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu
nhập.
Chương 4 trình bày kết quả ước lượng và tính toán các hệ số hồi quy, khoảng
cách thu nhập và các hệ số từ mô hình phân tách Oaxaca.
Chương 5 tóm tắt lại những phát hiện chính của nghiên cứu từ chương 2 đến
chương 4. Từ đó tác giả đưa ra những gợi ý chính sách và hạn chế của đề tài nghiên
cứu.
Phần phụ lục 21 trang bao gồm những bảng biểu thống kê từ dữ liệu hoặc các
số liệu trích dẫn từ các nguồn khác, cũng như tất cả các tính toán kiểm định được thực
hiện trong đề tài. Nội dung phần phụ lục sẽ minh dẫn toàn bộ quá trình tính toán và
thực hiện đề tài.

chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng
nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào.
6

Bất bình đẳng giới trong thu nhập: xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất
bình đẳng giới thể hiện ở sự phân biệt trong việc tiếp cận các cơ hội, sự phân biệt đối
xử trong công việc và nghề nghiệp cũng như sự phân biệt trong việc thừa hưởng các
thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ.
Đề tài này tập trung nghiên cứu và đi sâu vào vấn đề bất bình đẳng trong việc
tiếp cận các cơ hội kinh tế, cụ thể ở đây là bất bình đẳng giới trong thu nhập. Nó đề
cập tới mối quan hệ phân phối thu nhập và giới. Theo đó sự bất bình đẳng giới trong
thu nhập là phân biệt trong thu nhập được hưởng của lao động nam và lao động nữ
mặc dù có cùng các đặc tính năng lực và năng suất lao động như nhau.
1.1.2. Tác động của bất bình đẳng giới trong thu nhập đối với sự phát triển kinh tế
xã hội
Theo Ngân hàng Thế Giới (2001), bất bình đẳng giới trong thu nhập vừa là một
trong những căn nguyên gây ra nghèo đói vừa là yếu tố cản trở lớn đối với phát triển
kinh tế. Tình trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập dẫn đến người phụ nữ bị hạn chế
khả năng tái tạo sức lao động, hạn chế cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng, giáo
dục và đào tạo là những nguyên nhân làm cho tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao
hơn, sức khoẻ gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em ít được đi học hơn, đặc biệt là trẻ em
gái.
Bên cạnh những cái giá phải trả mang tính cá nhân đó, bất bình đẳng giới trong
thu nhập còn làm giảm năng suất trong các nông trại và doanh nghiệp, do đó hạn chế
tiềm năng xóa đói giảm nghèo và duy trì tiến bộ kinh tế. Bằng cách cản trở quá trình
tích lũy vốn con người, hạn chế quyền tiếp cận các nguồn lực sản xuất, quyền tham gia
vào các hoạt động sản xuất dẫn đến không hiệu quả trong phân bổ các nguồn lực xã
hội. Thu nhập thấp hơn nam giới còn là nguyên nhân hạn chế khả năng sáng tạo cũng
như động lực cải tiến và nâng cao năng suất lao động ở người phụ nữ.
Giải quyết bất bình đẳng giới trong thu nhập là tạo quyền cho phụ nữ bị thiệt

tương tự nhau: khi đã lập gia đình và có con cái do những nhu cầu cuộc sống phát sinh
làm tăng nhu cầu làm việc để kiếm thêm thu nhập ở cả nam giới và phụ nữ. Tuy nhiên,
có sự khác biệt giữa hai giới: do áp lực chăm sóc gia đình đè nặng trách nhiệm lên
người phụ nữ làm hạn chế cơ hội tham gia sản xuất và làm thu nhập của họ thấp hơn
nam giới.
8

Sức khỏe cũng là một trong những yếu tố tạo nên khoảng cách thu nhập giữa
nam và nữ. Những đặc điểm giới tính quy định thể trạng khác nhau ở nam và nữ,
những khác biệt này dẫn đến sự phân chia công việc trong đó sự tập trung của phụ nữ
vào một số ngành nghề tương đối ít làm cho mức lương của những việc phụ nữ làm
không tránh khỏi sụt giảm và gây ra khác biệt tiền lương giữa nam và nữ.
Nhóm yếu tố giáo dục - đào tạo: đây là nhóm yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng
đến thu nhập của người lao động. Công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng
phức tạp có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc mang tính giản đơn. Do
vậy người được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có cơ hội tìm kiếm công việc có
thu nhập cao hơn.
Borjas (2005) đã trình bày mối quan hệ giữa thu nhập và số năm đi học của một
người bằng “đường tiền lương theo học vấn” thể hiện mối quan hệ giữa mức lương mà
doanh nghiệp sẳn sàng trả theo số năm đi học. Đường cong này lồi theo số năm đi học.
Theo Mincer (1974), sự đầu tư của cá nhân được đo bằng sự tiêu tốn thời gian.
Chi phí thời gian cộng với số tiền chi trực tiếp cho việc đi học được xem là tổng chi
phí đầu tư. Vì những chi phí này, việc đầu tư sẽ không diễn ra nếu như không có khả
năng đem lại những khoản thu nhập lớn hơn trong tương lai. Mô hình ước lượng suất
sinh lợi từ giáo dục của Mincer cũng thể hiện quan hệ giữa thu nhập với số năm đi
học, số năm kinh nghiệm… theo đó một năm đi học tăng thêm sẽ mang lại cho người
lao động một khoản thu nhập tăng thêm nhất định.
Nhóm yếu tố lao động, công việc: nhóm này bao gồm các yếu tố: ngành nghề,
chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, tổ chức làm việc.
Theo Borjas (2005) Thông thường người lao động làm việc trong ngành nông

học vấn tối ưu, quyết định dừng việc học khi mức lợi tức biên bằng với suất chiết khấu
kỳ vọng của họ. Đây là qui tắc dừng nhằm tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập.
Mô hình học vấn với giả thiết bỏ qua yếu tố kinh nghiệm, được Mincer diễn
dịch toán học cho thấy logarithm của thu nhập là hàm tỷ lệ thuận với số năm đi học:
lnY
S
= lnY
0
+ r.S (1.1) 10

Trong đó:
• S: là số năm đi học
• Y
0
: là thu nhập hàng năm của người không có đi học
• Y
S
: là thu nhập hàng năm của người có S năm đi học
• r: tỉ suất chiết khấu
Hệ số r của S biểu thị mức độ gia tăng thu nhập cũng chính là tỷ suất thu hồi nội bộ.
Đây là dạng thô sơ nhất của hàm thu nhập cá nhân. Mô hình học vấn trở nên đầy đủ
hơn khi xét đến cả yếu tố kinh nghiệm như là quá trình đào tạo sau khi thôi học. Diễn
dịch toán học của Mincer đã qui đổi yếu tố kinh nghiệm về đơn vị thời gian, từ đó dẫn
đến hàm thu nhập phụ thuộc vào cả số năm đi học và số năm kinh nghiệm, cho phép
ước lượng các hệ số bằng phương pháp kinh tế lượng:
ln(Y
h

Oaxaca, khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm sẽ là hiệu số của mức lương trung bình
của lao động nam và nữ:
M F
w w w
∆ = −
(1.3)
11

Tuy nhiên, hiệu số này không thể được gọi là phân biệt đối xử vì có nhiều yếu
tố tạo nên khác biệt tiền lương giữa lao động nam và nữ. Chẳng hạn nam giới có bằng
cấp chuyên môn cao hơn phụ nữ, trong trường hợp này ta không thể khẳng định doanh
nghiệp trả lương nam giới cao hơn phụ nữ do họ có bằng cấp cao hơn là phân biệt đối
xử. Một định nghĩa chính xác hơn về phân biệt đối xử về thu nhập trên thị trường lao
động phải so sánh mức lương của những người có cùng kỹ năng.
Như vậy, để điều chỉnh khác biệt tiền lương cơ bản bằng khác biệt về kỹ năng
giữa lao động nam và nữ sử dụng hàm hồi quy ước lượng thu nhập của nam, nữ theo
những đặc điểm kinh tế xã hội. Để đơn giản, giả sử chỉ có một yếu tố ảnh hưởng đến
thu nhập, hàm hồi quy thu nhập của mỗi nhóm sẽ là:
Hàm hồi quy thu nhập của nam: w
M
= α
M
+ β
M
S
M
(1.4)
Hàm hồi quy thu nhập của nữ: w
F
= α

F
).
Các nghiên cứu thực nghiệm về bất bình đẳng trong tiền lương của người lao
động theo giới đi sâu vào phân tách sự khác biệt trong tiền lương so với mức lương
công bằng trên thị trường. Mức công bằng về tiền lương β
*
của người lao động theo
giới được xác định từ công thức 1.6 như sau:
*
( )
m f
I
β β β
= Ω + − Ω
(1.6)
Trong đó: Ω, I lần lượt là ma trận trọng số và ma trận đơn vị
Các phương pháp phân tách được phát triển bởi Neumark (1988), Oaxaca -
Ransom (1988), và Oaxaca - Ransom (1994) ngày càng được áp dụng phổ biến. Tuy
nhiên, theo Sebaggala Richard (2007) phương pháp phân tách sự khác biệt của
Neumark được xem là tốt nhất trong các phương pháp phân tách sự khác biệt tiền
12

lương của lao động theo giới. Phương pháp Neumark (1988) về tách biệt sự khác biệt
trong tiền lương của lao động nam và nữ được trình bày như sau:
* * *
ln ln ( ) ( ) ( )
f m m f m m f f
W W X X X X
β β β β β
 

ˆ ˆ
m m f f
f f
β β β
= +
(1.8)
Trong đó:
f
m
, f
f
là tỷ lệ số lao động nam và nữ trên tổng số lao động trong khảo sát
ˆ ˆ
,
m f
β β
là các hệ số ước lượng từ phương trình hàm hồi quy thu nhập của lao động
nam và nữ
Tuy nhiên, với cách tính theo công thức 1.8 thì β
*
phụ thuộc vào tỷ lệ lao động
nam nữ tham gia trên thị trường. Điều này không mang tính khách quan cao bởi thực
tế bất bình đẳng trong thu nhập theo giới, một phần nào đó do việc tiếp cận thị trường
việc làm của lao động nữ là khó khăn hơn lao động nam. Do đó, Cotton (1988) đề xuất
chỉ số phân tách sự khác biệt trong tiền lương theo giới tính như sau:
( ) ( ) ( )
M F F M F M M F
A B
w X X X
α α β β β

VHLSS 2004, VHLSS
2006
Thu nhập của phụ nữ bằng 92,4% thu nhập
nam giới năm 2006 và khoảng cách thu
nhập là 0.140. Khoảng cách thu nhập giữa
lao động nam và lao động nữ ở Việt Nam
năm 2006 có -22.5% là do khác biệt các
đặc tính năng suất và 122.5% do phân biệt
đối xử
Yolanda
Pena-
Boquete
và cộng sự
(2007)
Sử dụng phương pháp
Oaxaca để nghiên cứu về
bất bình đẳng giới trong
thu nhập của Ý và Tây Ban
Nha năm 2007.
Thu nhập của lao động nữ ở Ý bằng 93,9%
thu nhập của nam, phần trăm khoảng cách
lương do khác biệt các đặc tính năng suất
của người lao động là -57,90% và do sự
phân biệt đối xử là 157,9%
Ngan
Dinh
(2002)
Sử dụng mô hình Oaxaca
để tính toán mức độ phân
biệt đối xử trong nghiên

đối tượng nghiên cứu, việc chọn mẫu cho nghiên cứu này được dựa trên các tiêu chuẩn
các đối tượng trong độ tuổi lao động theo Bộ luật Lao động Việt Nam. Cụ thể người
lao động trong độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ,
làm công ăn lương, hưởng lương hàng tháng trong vòng 12 tháng trước thời gian điều
tra tính đến năm khảo sát (2010).
2.2. Các khái niệm và mô tả biến số
Thu nhập lao động bình quân một tháng: là thu nhập của người lao động tính
bình quân tiền lương, tiền công trong một tháng được tính theo logarithm.
Số năm đi học: số năm đi học của người lao động được xác định bằng tổng số
năm đi học ở cả 3 bậc học theo hệ thống giáo dục Việt Nam: giáo dục phổ thông, giáo
dục đại học và giáo dục dạy nghề.
Biến kinh nghiệm tiềm năng: Mincer (1974) giả định rằng mọi người đều được
đi học bắt đầu lúc 6 tuổi, khả năng học tập của mọi người là như nhau và thời gian đi
học là liên tục, chấm dứt khi bắt đầu làm việc. Kể từ khi thôi học ở trường lớp cho đến
tuổi nghỉ hưu, đó là số năm kinh nghiệm tiềm năng của họ cho việc làm. Như vậy, biến
số kinh nghiệm tiềm năng trong nghiên cứu được tính theo công thức (2.1):
T = tuổi – số năm đi học – 6 (2.1)
Theo công thức 2.1 thì số năm kinh nghiệm tiềm năng lại phụ thuộc vào số năm
đi học. Số năm đi học của một cá nhân phụ thuộc vào các yếu tố khác từ gia đình, địa
điểm sinh sống. Do vậy, số năm kinh nghiệm tiềm năng của một người phụ thuộc vào
16

trình độ giáo dục của cha mẹ, phụ thuộc vào đặc điểm dân tộc của gia đình, phụ thuộc
vào vùng lãnh thổ sinh sống và tình trạng kinh tế của gia đình. Cụ thể, ý nghĩa các biến
được thể hiện như sau: (i) Biến trình độ giáo dục của cha mẹ là một biến thứ bậc từ
mức chưa đi học đến bậc sau đại học. (ii) Biến dân tộc của gia đình là một biến giả, có
giá trị là 1 nếu gia đình thuộc dân tộc Kinh hoặc Hoa, và giá trị 0 cho các dân tộc khác.
(iii) Biến vùng lãnh thổ là biến định danh có giá trị từ 1 đến 6 tương ứng với 6 vùng
địa lý từ Đồng bằng Sông Hồng đến Đồng bằng Sông Cửu Long. (iv) Biến tình trạng
kinh tế của gia đình được đại diện bởi biến hộ nghèo trong suốt giai đoạn năm 2006

nước và biến khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 2 biến nhị phân, các biến đó
sẽ nhận giá trị là 1 nếu cá nhân đó có đặc tính làm việc trong khu vực kinh tế đó và
nhận 0 nếu cá nhân đó không có đặc tính làm việc trong khu vực kinh tế đó.
2.3. Xử lý số liệu
2.3.1 Trích dữ liệu
Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu được trích lọc và xử lý từ bộ dữ liệu
VHLSS 2010 bằng phần mềm thống kê Stata, phiên bản 12 của Stata Corporation. Kết
quả mô hình cũng được thực hiện trên phần mềm này. (xem thêm phụ lục 2.2 về cấu
trúc các lệnh của phần mềm Stata được sử dụng trong đề tài này).
Nguồn dữ liệu trong nghiên cứu được tổng hợp lại từ các dataset sau:
muc1a.dta, muc2a1.dta, muc4a1.dta, muc4a2.dta, muc4a3.dta, muc8.dta, ho11.dta.
18

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp thông tin trích lọc các biến số
Nguồn: Bộ dữ liệu trích từ VHLSS 2010 (n = 4.116) Tên biến Ý nghĩa Tên trường Tên file
age Tuổi m1ac5 muc1a
region Vùng địa lý tinh muc1a
urban Đô thị ttnt ho11
gender Giới tính m1ac2 muc1a
Yh Thu nhập bình quân giờ (1000đ/giờ) m4atn ho11 muc4a1
X1 Số năm đi học m2ac6 muc2a1
X2 Số năm kinh nghiệm yearexp = age – X1 - 6
X3 Số năm kinh nghiệm bình phương X3 = X2^2
X4 Tình trạng hôn nhân m1ac6 muc1a
X5 Chưa học hết lớp 1 m2ac1 muc2a1
X6 Từ cấp 1 đến cấp 3 m2ac2a muc2a1
X7 Trình độ cao đẳng, đại học m2ac2a muc2a1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status