BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
LÊ NGUYỄN QUỲNH PHƯƠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI, ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước
ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi.
Dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực được thu thập từ
những nguồn đáng tin cậy và các kết quả trình bày trong luận văn chưa được
công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây. Nếu phát hiện có bất
kỳ gian lận nào, tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm trước Hội đồng.
TP.HCM, tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Lê Nguyễn Quỳnh Phương
MỤC LỤC
Tên đầy đủ tiếng Anh
Tên đầy đủ tiếng Việt
FDI
Outward Foreign Direct
Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
DI
Domestic Investment
Đầu tư trong nước
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
GFCF
Real gross fixed capital
formation
Tổng vốn cố định
VAR
Vector Autoregression
Model
Mô hình tự hồi quy vector
OLS
Ordinary Least Squares
Phương pháp
bình phương nhỏ nhất
ECM
Error Correction Model
Mô hình hiệu chỉnh sai số
VECM
Var Error Correction Model
Mô hình vector
Bảng 4.2: Lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình
Bảng 4.3: Hồi quy VAR
Bảng 4.4: Kiểm định tự tương quan
Bảng 4.5: Tính ổn định mô hình VAR
Bảng 4.6: Kiểm định quan hệ nhân quả
Bảng 4.7.1: Phản ứng xung của cú sốc trong GDP lên DI
Bảng 4.7.2: Phản ứng xung của cú sốc trong DI lên GDP
Bảng 4.7.3: Phản ứng xung của cú sốc trong FDI lên GDP
Bảng 4.7.4: Phản ứng xung của cú sốc trong FDI lên DI
Bảng 4.8: Kết quả phân rã phương sai của biến GDP
Bảng 4.8.1: Phân rã phương sai của biến GDP
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 4.5: Tính ổn định mô hình VAR
Hình 4.7.1: Phản ứng xung của cú sốc trong GDP lên DI
Hình 4.7.2: Phản ứng xung của cú sốc trong DI lên GDP
Hình 4.7.3: Phản ứng xung của cú sốc trong FDI lên GDP
Hình 4.7.4: Phản ứng xung của cú sốc trong FDI lên DI
Hình 4.8.1: Biểu đồ phân rã phương sai của biến GDP
1. Giới thiệu
Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là một trong những xu hướng vận động
chủ yếu của nền kinh tế, mở cửa và hội nhập các nền kinh tế quốc gia và khu vực
trở thành điều kiện bắt buộc của sự phát triển. Vấn đề tăng trưởng lâu bền, tốc độ
cao và dịch chuyển cơ cấu trở thành quản lý phát triển cho mọi nền kinh tế hiện
đại. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng ấy, đầu tư trong nước luôn là
nguồn đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế của quốc gia chủ nhà, là nguồn
vốn cơ bản, có vai trò quyết định chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong
nước, DI được xem là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, đặc biệt DI
cũng là một công cụ hiệu quả trong việc tạo ra công ăn việc làm cho nền kinh
tế… Bên cạnh yếu tố quyết định của nội lực thì nguồn vốn FDI trong 25 năm qua
(Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua vào ngày 29/12/1987. Hiệu
lực: 09/01/1988) đóng vai trò hết sức quan trọng tạo nên đà tăng trưởng kinh tế,
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung. Có rất
nhiều nghiên cứu tranh luận về mối quan hệ giữa FDI và DI, FDI và tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng mối quan hệ nhân
quả giữa FDI, DI và tăng trưởng kinh tế vẫn còn là một câu hỏi không rõ ràng,
trong khi đó, nghiên cứu các mối quan hệ nhân quả giữa các nhân tố này cho một
phân tích cụ thể với một quốc gia là rất quan trọng đối với các nhà hoạch định
chính sách nhằm thiết kế các chính sách đầu tư thích hợp. Tuy nhiên, có rất ít
nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ nhân quả đồng thời của ba nhân tố FDI,
DI và tăng trưởng kinh tế, hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu
mối quan hệ của hai trong ba nhân tố.
3
về kỹ thuật VAR cùng những ưu và nhược điểm, giải thích các biến và nguồn dữ
liệu dùng trong mô hình.
Phần 4: nội dung và các kết quả thực nghiệm tại Việt Nam.
Phần 5: kết luận, khuyến nghị chính sách và hạn chế của bài nghiên cứu. 5
2. Tổng quan những nghiên cứu trước đây
2.1. Những nghiên cứu về mặt lý thuyết
Trong lịch sử phát triển các nước và trên phương diện lý luận chung, bất
kỳ một quốc gia nào cũng phải sử dụng chủ yếu nguồn lực nội bộ để phát triển
kinh tế. Bằng cách sử dụng nguồn vốn trong nước có hiệu quả mới nâng cao
được vai trò của nó và thực hiện được các mục tiêu quan trọng đề ra của quốc
gia. Nguồn vốn trong nước là nguồn có tính chất quyết định, có vai trò chủ yếu
thì nguồn vốn nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bước đi ban
Vốn đầu tư nước ngoài FDI được cho rằng sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế thông qua việc phổ biến công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.
Borensztein và cộng sự (1998) chỉ ra rằng chính nguồn vốn FDI là một phương
tiện quan trọng cho việc chuyển giao công nghệ, góp phần tăng trưởng lớn hơn
cả đầu tư trong nước. De Mello (1999) cho rằng vốn FDI có thể góp phần vào
tăng trưởng kinh tế nơi chuyển giao công nghệ thông qua đào tạo lao động và
mua lại kỹ năng, phương thức quản lý mới và sắp xếp tổ chức. Theo Rappaport
(2000) , FDI có thể nâng cao năng suất không chỉ của các công ty nhận đầu tư,
mà còn của tất cả các công ty của nước sở tại như một hệ quả của hiệu ứng lan
tỏa công nghệ. De Gregorio (2003) cũng đã ghi nhận rằng có sự chuyển công
nghệ và kiến thức từ các nhà đầu tư quốc gia kèm theo nguồn vốn FDI dẫn đến
tăng trưởng năng suất trong nền kinh tế. Ngoài ra, nguồn vốn FDI sẽ giúp khắc
phục tình trạng thiếu vốn trong nước sở tại và bổ sung cho DI khi dòng FDI vào
7
khu vực có nguy cơ cao hoặc các ngành công nghiệp mới, nơi nguồn DI đang
còn hạn chế. Nguồn vốn FDI cũng có thể thúc đẩy DI trong các ngành công
nghiệp liên quan phát triển, FDI có thể dẫn đến tăng nhu cầu đối với hàng xuất
khẩu từ các nước chủ nhà, giúp thu hút đầu tư trong các ngành công nghiệp xuất
khẩu.
Tuy nhiên, một số lập luận khác cho rằng nguồn vốn FDI lấn át DI, và có
ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng. Các nghiên cứu của Huang (1998, 2003),
Braunstein và Epstein (2002) cho thấy FDI có thể được xem là một chiến lược
toàn cầu tích cực của các công ty đa quốc gia (MNCs) nhằm tăng cường năng
lực độc quyền hơn các công ty bản địa. Những lợi thế sở hữu của các MNCs như
công nghệ tiên tiến, bí quyết kỹ năng quản lý, giảm thiểu chi phí giao dịch và lợi
thế vô hình khác có thể được chuyển thành sức mạnh độc quyền. Các MNCs có
thể kiểm soát nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào trong ngành công nghiệp của
ngoài. FDI có thể lấn át DI bằng cách tạo ra hiệu ứng lan tỏa thông qua việc phổ
biến các công nghệ mới và các mối liên kết sản xuất. DI trên cơ sở đầu tư ban
đầu tạo ra những cơ sở hạ tầng căn bản, đầu ra, đầu vào…song lại thiếu máy móc
thiết bị và công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm đạt chất lượng cao, mang tính
cạnh tranh so với quốc tế để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu.Với cơ sở hạ tầng
sẵn có đó thì đầu tư nước ngoài trở nên an toàn và ít tính rủi ro hơn, vì bản chất
của dòng đầu tư nước ngoài là tìm kiếm nơi có tỉ suất lợi nhuận cao hơn, đem lại
nhiều lợi nhuận hơn sẽ làm đầu tưnước ngoài tập trung nhiều hơn. 9
Tóm lại, nguồn vốn trong nước luôn là một nguồn lực chính trong thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận vai trò của nguồn vốn
nước ngoài đặc biệt là nguồn vốn FDI cũng là nguồn lực tiềm năng thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế của bất kỳ một quốc gia, vai trò của nguồn vốn này đối với tăng
trưởng kinh tế cần được tìm hiểu sâu qua những nghiên cứu thực nghiệm. Bên
cạnh đó, mối quan hệ giữa hai nguồn vốn đầu tư này cũng được khẳng định là
mối quan hệ bổ sung, thay thế cho nhau, trong từng thời kỳ mà chúng có tác động
qua lại ở những mức độ khác nhau, mức độ tác động này cũng không giống nhau
cho từng quốc gia với những đặc điểm kinh tế riêng của quốc gia đó.
được lựa chọn là 7 quốc gia nhiều dầu mỏ và 6 quốc gia ít dầu mỏ. Khu vực
MENA thể hiện một xu hướng tương tự và đã thu hút được mức độ cao hơn
11
của FDI đặc biệt là trong những năm gần đây. Nghiên cứu này nhằm mục đích
để cho thấy tác động của những xu hướng dòng vốn FDI trên kết quả DI trong
những quốc gia được lựa chọn của MENA. Sự khác biệt tại hai nhóm nước
trong việc thu hút FDI. Phân tích cũng cho thấy rằng FDI lấn át DI (trong 13
quốc gia được lựa chọn để phân tích). Các kênh lấn át này có thể đa dạng. Nếu
FDI hướng đến các dự án hiện có thông qua tư nhân hóa và không tạo ra đầu
tư "mới", hiện tượng lấn át có thể xảy ra. FDI cũng có thể lấn át DI khi tham
gia vào lĩnh vực trước đây bị chi phối bởi các công ty nhà nước (Mileva,
2008), là khá phù hợp cho trường hợp của MENA. Bên cạnh đó, hầu hết các
nền kinh tế MENA đã được bảo hộ mạnh mẽ đối với đầu tư nước ngoài và đã
không thu hút được một số lượng quan trọng của FDI cho đến những năm
1990. Do đó các nhà đầu tư trong nước có thể không có khả năng để cạnh
tranh hiệu quả hơn với các MNCs. Tuy nhiên, tính năng này của dòng vốn FDI
vào các MENA cần nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là vào các động lực và các
đặc điểm của đầu tư trong nước trong khu vực.
Nghiên cứu của Leonce Ndikumana và Sher Verick (2008), “The
Linkages between FDI and Domestic Investment: Unravelling the
Developmental Impact of Foreign Investment in Sub-Saharan Africa”.
Leonce Ndikumana và Sher Verick (2008) ngiên cứu về việc khuyến khích DI và
DI bị ảnh hưởng bởi FDI như thế nào. Nghiên cứu với dữ liệu bảng cho 38 quốc
gia châu Phi trong khoảng thời gian từ 1970 - 2005, sử dụng mô hình hồi quy
OLS và FEM, bằng cách tách DI thành đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư công
trong nước, kết quả của họ chỉ ra rằng có một mối quan hệ giữa FDI và DI, và có
một tác động tích cực của DI lên FDI, đặc biệt là đối với trường hợp của đầu tư
nó cũng đã kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua việc bổ sung cho nguồn vốn
DI ở Trung Quốc. Nguồn vốn DI của Trung Quốc và tăng trưởng kinh tế có mối
tương quan tích cực; tăng trưởng kinh tế lớn khuyến khích đầu tư trong nước lớn
và ngược lại. DI của Trung Quốc và tăng trưởng kinh tế không có tác động nhiều
vào dòng vốn FDI trong thời gian dài. Quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh
tế và DI là hai chiều, nhưng chỉ có một chiều hướng quan hệ nhân quả từ FDI lên
DI và FDI lên tăng trưởng kinh tế. DI của Trung Quốc có tác động lớn đến tăng
trưởng kinh tế hơn so với tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế khuyến khích
và thúc đẩy tiết kiệm trong nước nên được ưu tiên hơn thu hút FDI trong việc
thiết kế và thực hiện chiến lược đầu tư và các chính sách đầu tư vào Trung Quốc.
Nghiên cứu của Yasmine Merican (2009), “Foreign Direct Investment and
Growth in ASEAN-4 Nations”.
Yasmine Merican (2009) nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI với tăng trưởng kinh
tế cho 4 quốc gia Đông Nam Á là Malaysia, Thái Lan, Indonesia, và Philippines.
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hằng năm trong thời kỳ 1970 –
2001 và sử dụng phương pháp ARDL (ARDL được phát triển bởi Pesaran và
cộng sự (2001) được xem là thích hợp nhất cho các nghiên cứu cỡ mẫu nhỏ và có
thể nghiên cứu được mối quan hệ trong dài hạn hơn cả phương pháp VAR). Kết
quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng trong dài hạn, đối với trường hợp của
Malaysia và Indonesia, kết quả của bài nghiên cứu cho thấy tác động của FDI lên
tăng trưởng kinh tế là đáng kể hơn tác động của DI lên tăng trưởng kinh tế trong
dài hạn. Tuy nhiên kết quả này ngược lại đối với trường hợp của hai nước Thái
Lan và Philippines khi khẳng định vai trò của DI lên tăng trưởng kinh tế là quan
trọng hơn so với FDI.
14
tư nước ngoài, nhưng các lợi ích tiềm năng mà FDI có thể mang lại cho nước
chủ nhà có thể bị hạn chế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tác động của FDI tới
tăng trưởng kinh tế là tích cực nhưng không đáng kể về mặt thống kê ở mức ý
nghĩa 5%. Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu của Rodrick, Aitken và
cộng sự, lập luận rằng tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế có xu hướng yếu.
Liên kết yếu giữa FDI và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia lấy mẫu trong bài
có thể không đáng ngạc nhiên trong một bối cảnh thực tế là nguồn vốn FDI vào
châu Phi đã được tập trung vào một số lượng hạn chế của các quốc gia và vào
các ngành khai thác mỏ, năng lượng. FDI trong khai thác khoáng sản thường là
khu vực trong tự nhiên với tác nhân hạn chế về sản lượng và việc làm. Kết quả
cũng ngụ ý rằng các yếu tố khác như chính sách kinh tế vĩ mô, độ mở thương
mại, và DI cao hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu của Hooi Hooi Lean và Bee Wah Tan (2011), “Linkages
between Foreign Direct Investment, Domestic Investment and Economic Growth
in Malaysia”.
Hooi Hooi Lean và Bee Wah Tan (2011) với chuỗi dữ liệu thời gian hằng năm từ
năm 1970 - 2009 nghiên cứu các mối quan hệ giữa FDI, DI và tăng trưởng kinh
tế tại Malaysia. Các ông sử dụng mô hình VAR và VECM nghiên cứu mối quan
hệ của các biến kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn. Đầu tiên các ông sử dụng mô
hình VAR, kiểm định quan hệ đồng liên kết, sau đó tiếp tục sử dụng mô hình
VECM nghiên cứu mối quan hệ của các biến kinh tế trong dài hạn. Các kết quả
thực nghiệm của nghiên cứu này cho thấy FDI, DI và tăng trưởng kinh tế có
16
quan hệ trong thời gian dài, FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế,
ngược lại DI ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Đặc biệt,
kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có một mối quan hệ nhân quả giữa DI và FDI,
giữa tăng trưởng kinh tế và FDI trong ngắn hạn. Ngoài ra, sự gia tăng của FDI sẽ
nghiên cứu này khẳng định rằng một chính sách thu hút FDI không thể là một
chiến lược phát triển tại các quốc gia này vì dòng vốn FDI đang hướng về nước
đang phát triển đã là một tỷ lệ đầu tư mạnh mẽ nhưng dòng chảy FDI chỉ hướng
đến những nước đã có một quá trình phát triển kinh tế năng động.
Nghiên cứu của Soltani Hassen và Ochi Anis (2012), “Foreign Direct
Investment (FDI) and Economic Growth: An approach in terms of cointegration
for the case of Tunisia”.
Soltani Hassen và Ochi Anis (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và tăng
trưởng kinh tế với dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn 1975 – 2009 tại
Tunisia. Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng
kinh tế trong bối cảnh của Tunisia cụ thể là tác động của FDI tới tăng trưởng
kinh tế như thế nào? Tác giả kiểm định định tính dừng cho các biến sau đó kiểm
định có đồng liên kết nên sử dụng mô hình ECM (dựa trên mô hình nghiên cứu
của Enisan Akinlo (2004)) cho các biến phát triển tài chính, FDI, nguồn nhân
lực, độ mở thương mại, và GDP thực. Phân tích thực nghiệm tập trung vào ba
bước: kiểm định tính dừng cho thấy các biến đều không dừng và khi lấy sai phân
bậc 1 thì tất cả các biến đều dừng. Tiếp theo tác giả kiểm định đồng liên kết và
tìm thấy có 1 quan hệ đồng liên kết giữa các biến, điều này chứng tỏ có một quan
18
hệ dài hạn gữa phát triển tài chính, FDI, nguồn nhân lực, độ mở thương mại, và
GDP thực. Tiếp theo các tác giả sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số ECM và đi
đến kết luận có mối quan hệ dài hạn giữa GDP thực và FDI, cụ thể trong dài hạn
FDI tác động tích cực đáng kể lên tăng trưởng kinh tế. Tình hình chính trị ổn
định tại Tunisia cũng như các chính sách về miễn giảm thuế cho nhà đầu tư nước
ngoài của chính phủ nước này đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế. Ngoài ra, kết quả của bài nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố về
con người và phát triển tài chính cũng có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh