BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM
ĐINH THỊ TÂM
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHI TIÊU CHO
CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 6
2.1 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng 6
2.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa 6
2.1.2 Vấn đề lựa chọn tiêu dùng (Mas-collet và cộng sự, 1995) 7
2.2 Lý thuyết chăm sóc sức khỏe và chi tiêu y tế 7
2.2.1 Lý thuyết về chăm sóc sức khỏe 7
5.2.2 Chi tiêu cho y tế của NCT 47
5.3 Kiểm định mô hình 51
5.4 Giải thích kết quả của mô hình hồi quy 53
5.4.1 Đặc điểm kinh tế 54
5.4.2 Đặc điểm nhân khẩu 55
5.4.3 Đặc điểm về điều kiện chăm sóc sức khỏe 58
5.4.4 Đặc điểm sự hỗ trợ từ bên ngoài 59
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 61
6.1 Các kết quả chính của đề tài 61
6.1.1 Đặc điểm kinh tế 61
6.1.2 Đặc điểm nhân khẩu học 61
6.1.3 Đặc điểm cơ sở y tế KCB 62 6.1.4 Đặc điểm sự hỗ trợ y tế từ bên ngoài 63
6.2 Kiến nghị 63
6.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu mới 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên
cứu có tính độc lập riêng, chưa được công bố nội dung ở bất kì đâu; các số liệu, các
nguồn trích dẫn trong luận án được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực.
Tôi xin cam đoan chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi.
Học viên thực hiện
Nhóm Hợp tác Hành động vì Công
bằng Sức khỏe
WHO
World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Mô hình kinh tế lượng thực nghiệm………………………………………22
Bảng 3.2: Thông tin nguồn dữ liệu được trích lọc………………………………… 27
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp các biến trong mô hình………………………………… 28
Bảng 4.1: Tuổi thọ dân số ở tuổi 60 của Việt Nam và một số nước khu vực…… …31
Bảng 5.1: Phân bố mẫu theo 6 vùng địa lý………………………………………… 44
Bảng 5.2: Tỷ lệ (%) NCT có thu nhập phân theo giới tính………………………… 45
Bảng 5.3: Học vấn của NCT phân theo số năm đi học……………………………….46
Bảng 5.4: Tỷ lệ (%) NCT đang sống có nhau phân theo nhóm tuổi…………………46
Bảng 5.5: Mức chi tiêu cho y tế bình quân của NCT, ĐVT: nghìn đồng/người….… 47
Bảng 5.6: Mức chi y tế bình quân theo số năm đi học của NCT…………………… 49
Bảng 5.7: Độ co dãn của chi tiêu y tế cho NCT theo thu nhập của hộ……………….49
Bảng 5.8: Số lượt KCB ở các cơ sở y tế của NCT……………………………………50
Bảng 5.9: Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho y tế của NCT…………………… 52
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số. Già hóa là một thành tựu
của quá trình phát triển. Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu vĩ đại nhất
của loài người. Con người sống lâu hơn nhờ các điều kiện tốt hơn về chế độ dinh
dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống kinh tế.
1
Do tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm cùng với tuổi thọ tăng, dân số cao tuổi
Việt Nam đang tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và tỷ lệ so với tổng dân số.
Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp
quốc (UNESCAP), dân số một nước sẽ bước vào thời kỳ già hóa khi tỷ lệ người cao
tuổi (NCT) chiếm hơn 10% tổng dân số. Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống
kê (2010) thì tỷ lệ NCT so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào
năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm
2017.
Người cao tuổi (NCT) phải được coi là nguồn lực quý giá cho xã hội, vì họ sẽ
còn đóng góp nhiều cho đất nước bằng những kiến thức, kinh nghiệm của họ. Căn
cứ trên quan niệm đó, Liên Hiệp Quốc đã kêu gọi toàn thế giới lưu tâm tới những
khó khăn đang ám ảnh người cao tuổi, đồng thời cũng đề nghị nhiều chương trình
để bảo đảm sự an toàn về kinh tế, xã hội của khối người quan trọng và cần thiết này,
cũng như tạo cơ hội cho họ đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia.
Giống như việc gia tăng dân số, dân số già hóa cũng gây ra nhiều thách thức
cho tăng trưởng kinh tế cũng như hạ tầng cơ sở và các dịch vụ an sinh xã hội. Tỷ
trọng dân số cao tuổi đang gia tăng sẽ là một trong những vấn đề nhân khẩu học
quan trọng liên quan tới nhiều lĩnh vực như chăm sóc y tế, lao động, phúc lợi xã
hội đòi hỏi phải có những chính sách hỗ trợ xã hội phù hợp và đầu tư ngân sách
nhiều hơn. Việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cần thích ứng với những
thay đổi này trong tương lai. Vì lý do đó mà các vấn đề liên quan đến già hóa dân số
được coi trọng trong Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội của Việt Nam trong thập
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Để phát huy vai trò của NCT phù hợp với tiềm năng và trình độ phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước cũng như nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi,
nghiên cứu này nhằm những mục tiêu sau:
3
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí chăm sóc sức khỏe của NCT ở hộ
gia đình Việt Nam.
- Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho
người cao tuổi, các giải pháp tăng cường sức khỏe và giảm các chi phí khám chữa
bệnh cho người cao tuổi.
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung trả lời những câu
hỏi sau:
- Chi phí chăm sóc sức khỏe phụ thuộc vào những yếu tố nào?
- Nhà nước có thể làm gì để cải thiện và giảm chi phí chăm sóc sức khỏe của
NCT?
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mức chi tiêu cho y tế của NCT ở Việt Nam
tại thời điểm bộ dữ liệu khảo sát năm 2010. Phạm vi nghiên cứu là nhóm NCT trên
phạm vi cả nước, ở cả khu vực thành thị và nông thôn; theo cả 2 giới.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tư liệu, tài liệu thứ cấp để xem xét, hệ thống
hóa và tóm tắt tất cả những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được tiến
hành các tỉnh trong cả nước; thu thập thông tin các số liệu trên báo cáo về dân số,
NCT và tiến hành phân tích dữ liệu.
Phương pháp phân tích:
Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chính sau: (i) Phương pháp thống kê:
Tổng hợp, phân tích số liệu về y tế và chăm sóc sức khỏe NCT ở các tỉnh thành
thống kê mô tả, đưa ra một số kết luận ban đầu về một số yếu tố có khả năng ảnh
hưởng đến chi tiêu cho y tế của NCT tại Việt Nam.
Chương 5. Các yếu tố ảnh hkưởng đến chi tiêu cho y tế của người cao tuổi
Chương này sẽ trình bày quá trình thực hiện chạy mô hình hồi quy trên phần mềm
Stata, phân tích ý nghĩa của các chỉ số trong mô hình kết quả.
Chương 6: Kết luận và kiến nghị. Chương này sẽ tóm lược lại những kết quả
quan trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu. Từ đó có những kiến nghị
5
chính sách nhằm gia tăng sự tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và nâng cao sức
khỏe y tế cho NCT. Ngoài ra, chương này còn đánh giá lại những hạn chế của đề tài
để từ đó mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo.
Sau cùng, luận văn cũng đính kèm phần phụ lục để chứng minh chi tiết hơn
những kết quả phân tích đã được trình bày trong các chương.
6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
Trong chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương
này sẽ trình bày các lý thuyết về vấn đề lựa chọn tiêu dùng và khung lý thuyết chăm
sóc sức khỏe. Các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề chi tiêu cho y tế của các hộ
gia đình nói riêng và chi tiêu cho y tế của NCT cũng được đề cập, tổng hợp ở
chương này.
2.1 Lý thuyết về hành vi tiêu dùng
2.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa
Cầu hàng hóa là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn lòng mua
tại những mức giá khác nhau tại một thời điểm nhất định. Đường cầu hàng hóa sẽ
thay đổi khi chịu tác động của những yếu tố sau:
- Thu nhập là yếu tố xác định khả năng mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập
gia tăng, họ sẽ sẵn lòng chi tiêu cho một loại hàng hóa-dịch vụ với số lượng nhiều
): rổ hàng hóa tiêu dùng
p = p(
): giá của rổ hàng hóa tiêu dùng
I: ngân sách của người tiêu dùng
Với mức giá p và ngân sách I cho trước, tập hợp các lựa chọn của người tiêu
dùng sẽ được viết lại ở dạng sau: B(p,I) =
Để đạt mức thỏa dụng cao nhất, người tiêu dùng sẽ lựa chọn tiêu dùng các
hàng hóa x B(p,I). Vấn đề này được thực hiện dựa trên một số giả định cơ bản
như thông tin thị trường hoàn hảo, người tiêu dùng là người chấp nhận giá và giá cả
hàng hóa có dạng tuyến tính.
2.2 Lý thuyết chăm sóc sức khỏe và chi tiêu y tế
2.2.1 Lý thuyết về chăm sóc sức khỏe
Theo PAHE (2011a), chính sách sức khỏe y tế không chỉ giới hạn trong việc
cung cấp và chi trả cho chăm sóc và dịch vụ y tế, ngày nay các yếu tố xã hội được
nhìn nhận rộng rãi là có tác động đến sức khỏe. Theo đó, có 14 lĩnh vực chính của
các yếu tố xã hội quyết định sức khỏe bao gồm:
Phân phối thu nhập
Giáo dục
xuất nông – lâm – ngư nghiệp hoặc tự làm kinh doanh cho hộ gia đình và khoản thu
nhập có tính đảm bảo cuộc sống khi không còn đủ sức lao động như tiết kiệm, hưu
trí, kiều hối và các khoản bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội khác.
Vấn đề này cũng thống nhất với kết quả cuộc khảo sát về NCT tại Thái Lan
năm 2011, Knodelet al (2013) đã hình thành một khung lý thuyết nghiên cứu về
chăm sóc sức khỏe NCT. Theo đó, sức khỏe NCT phụ thuộc vào 4 nhóm nhân tố
9
chính, bao gồm các đặc tính xã hội (social charactistics), sự hòa hợp trong gia đình
(living arrangement), các nguồn thu nhập cho y tế (sources of income), sự hỗ trợ
của gia đình, họ hàng (Family support and intergenerational relations). Trong mỗi
nhóm nhân tố chính lại bao gồm nhiều yếu tố nhỏ. Cụ thể, khu vực sinh sống (vùng
hoặc thành thị, nông thôn) và các yếu tố như giới tính, tình trạng hôn nhân của NCT
nằm trong nhóm đặc tính xã hội. Nhóm sự hòa hợp trong gia đình bao gồm các yếu
tố như số thế hệ cùng chung sống, NCT sống chung với con trai hoặc con gái, NCT
sống một mình hay sống với con cháu. Nhóm yếu tố về các nguồn thu nhập dành
cho chăm sóc sức khỏe bao gồm thu nhập của NCT từ tiền lương hưu, trợ cấp,
chính sách xã hội của chính phủ hoặc từ các nguồn tài sản phát sinh lãi như tiền cho
thuê nhà (đất), tiền lãi tiết kiệm ngân hàng. Theo Knodel et al (2013) nguồn thu
nhập chính để trang trải cho chi phí chăm sóc sức khỏe của NCT chủ yếu đến từ thu
nhập của các con và phụ thuộc vào giới tính của con. Con gái sẽ quan tâm chi tiêu
chăm sóc sức khỏe cho cha mẹ nhiều hơn là con trai (51% ở con gái so với 33% ở
con trai). NCT cùng chung sống với con cháu thì có sẽ được phục vụ và chăm sóc
tốt hơn so với NCT sống một mình.
2.3 Hành vi ra quyết định chi tiêu của hộ gia đình
Hộ gia đình là đơn vị tiêu dùng trong nền kinh tế, là tập hợp tổng thể của
nhiều cá nhân, hành vi ra quyết định cho một vấn đề nào đó vì vậy cũng chịu sự chi
phối phần nào từ các thành viên trong hộ gia đình. Trong nghiên cứu của Douglas
(1983) đã tổng hợp lại một lần nữa các điểm cần lưu ý trong hành vi ra quyết định
của hộ gia đình:
khẩu học như tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân thì quyết định chi tiêu cho y tế
của NCT còn phụ thuộc vào hoạt động hàng ngày, sự hỗ trợ từ láng giềng, người
thân và các mức thuế, trợ cấp của chính phủ. Theo đó, mức thuế thu nhập càng tăng
thì càng làm giảm khả năng chi tiêu y tế cho NCT. Các biến còn lại như tuổi, tình
trạng đơn thân của NCT, hoạt động hàng ngày (không làm gì hoặc làm việc nhẹ), sự
hỗ trợ của láng giềng hoặc người thân đều làm tăng khả năng chi tiêu y tế cho NCT.
11
Nghiên cứu của Gray (2005) về chi phí chăm sóc sức khỏe ở Anh cho thấy có
một mối tương quan nhỏ giữa tuổi và chi phí chăm sóc sức khỏe. Chi phí chăm sóc
sức khỏe tăng mạnh nhất ở nhóm tuổi 65 – 85. Ngoài ra, tác giả còn kiến nghị chi
phí chăm sóc sức khỏe ở NCT phụ thuộc rất nhiều vào tuổi thọ kì vọng. Theo đó,
chi phí khám chữa bệnh cho NCT tăng mạnh trong giai đoạn 5 năm trước khi mất.
Điều này cũng phù hợp với công trình nghiên cứu sức khỏe cho NCT của chính phủ
Úc (Government of South Australia, 2009) khi kết quả cho thấy số lượng NCT
trong độ tuổi 65 – 75 nhập viện gấp hai lần so với phần còn lại và gấp 5 lần ở nhóm
tuổi trên 85.
J.A.A. Dalstra et al (2006) dựa trên khảo sát 10 nước châu Âu về NCT tuổi từ
60-79 đã kết luận các nhân tố giáo dục, thu nhập và sở hữu nhà ở có tác động đến
chăm sóc sức khỏe NCT. Sử dụng phân tích hồi quy logistic cho biết mối quan hệ
giữa giáo dục, thu nhập và nhà ở với sức khỏe NCT. Kết quả cho thấy rằng có sự
khác biệt đáng kể sức khỏe của người già theo giáo dục và thu nhập ở mỗi nước.
Trong đó hai biến giáo dục và thu nhập ảnh hưởng mạnh mẽ còn yếu tố sở hữu nhà
ở có giá trị bổ sung.
Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc chi tiêu cho y tế ở Phần
Lan trong giai đoạn 1993 – 2004 của Nguyen, L et al. (2009) cho thấy tỷ lệ người
cao tuổi, quỹ trợ cấp chính phủ, tỷ lệ lực lượng lao động, thuế thu nhập, thu nhập và
mật độ dân số có ảnh hưởng đến chi tiêu cho y tế của người dân. Kết quả cũng cho
thấy độ co dãn của chi tiêu y tế theo thu nhập ở cả hai phương pháp ước lượng tác
động cố định và ngẫu nhiên là rất nhỏ (lần lượt là 0,020 và 0,045). Điều đó cho thấy
triển và 15 đôla Mỹ ở các quốc gia chậm phát triển (Ngân hàng thế giới, 2007).
Hiện nay, tổng chi cho y tế ở Việt Nam khoảng 5-6% GDP và tính theo đầu người
khoảng 45 USD/người/năm. Tuy nhiên, chi công chỉ chiếm khoảng 30% tổng chi y
tế, là một tỷ lệ thấp so với các nước có thu nhập thấp và trung bình trên thế giới.
Sử dụng mô hình hồi quy đa cấp với bộ dữ liệu VHLSS 2002 nghiên cứu về
các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho y tế của hộ gia đình, Nguyen, L et al (2010)
đã sử dụng 4 nhóm biến như quy mô và thành phần của hộ (quy mô hộ, tỷ lệ người
già, tỷ lệ trẻ em, tỷ lệ phụ nữ); nhóm địa điểm sinh sống; nhóm đặc tính hộ (tuổi,
13
tuổi bình phương của chủ hộ, tôn giáo, số năm đi học của chủ hộ, các biến kỹ năng);
nhóm biến về tiện nghi (điện, nước sạch, nhà vệ sinh…). Tất cả các biến trong mô
hình đều tác động có ý nghĩa thống kê lên mức chi tiêu cho y tế của hộ.
Nghiên cứu về tác động của tín dụng vi mô lên chi tiêu cho giáo dục và chi
tiêu cho y tế của người dân Việt Nam (Tinh Doan et al, 2011) cho thấy tín dụng vi
mô có tác động dương có ý nghĩa thống kê lên chi tiêu cho y tế. Các hộ nghèo được
vay sẽ chi nhiều hơn ít nhất 93 nghìn đồng/hộ/tháng so với các hộ nghèo tương tự
nhưng không được vay. Số mẫu của nghiên cứu bao gồm 411 hộ gia đình nghèo ở
mức dưới 6 triệu đồng/năm (gồm 304 hộ vay và 107 hộ không vay) tại quận 9,
TpHCM Việt Nam vào đầu năm 2008.
Trong nghiên cứu của Le Hong Chung (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến
việc chi trả bảo hiểm của người dân Việt Nam. Với bộ dữ liệu VHLSS 2010 được
sử dụng, kết quả cho thấy các yếu tố như số người trong hộ, khu vực hộ sinh sống
(thành thị - nông thôn), các chỉ số đại diện cho tài sản của hộ và số người phụ thuộc
(NCT và trẻ em) ảnh hưởng đến việc thanh toán bảo hiểm. Theo đó, các hộ đông
con, sống ở nông thôn và có chỉ số tài sản cao thì có tỉ lệ sử dụng dịch vụ bảo hiểm
thấp. Ngược lại, các hộ có số người sống phụ thuộc nhiều thì lại sử dụng dịch vụ
bảo hiểm nhiều hơn.
2.5 Khung phân tích và mô hình của nghiên cứu
Quyết định chi tiêu cho hàng hóa – dịch vụ của người tiêu dùng chắc chắn sẽ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ
1. Thu nhập NCT
2. Thu nhập của hộ
MỨC CHI TIÊU CHO Y
TẾ CHO NCT
ĐẶC ĐIỂM NHÂN
KHẨU
1. Tổng số người trong hộ
2. Số người sống phụ
thuộc (trẻ em, NCT)
3. Đặc điểm NCT (giới
tính, hôn nhân, học vấn,
sắc tộc, sống với con
cháu)
4. Địa điểm sinh sống
(vùng, thành thị).
SỰ HỖ TRỢ VỀ Y TẾ
1. Tín dụng ưu đãi
2. Sự hỗ trợ từ bên ngoài
ĐIỀU KIỆN CHĂM
SÓC SỨC KHỎE
1. Bảo hiểm y tế
2. Cơ sở y tế
15
Với mục tiêu nghiên cứu chi tiêu cho y tế của NCT hướng đến đối tượng cụ
là sai số
Những tham số trong mô hình trên sẽ được ước lượng bằng phương pháp bình
phương bé nhất (OLS).
Tóm tắt ý chính chương 2:
Nội dung chương 2 đã trình bày rõ ràng các lý thuyết về cầu của một loại hàng
hóa - dịch vụ, lý thuyết hành vi tiêu dùng, lý thuyết về quyết định của hộ gia đình.
Dựa theo các nghiên cứu tương tự ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, tác giả đã
lựa chọn và phát triển mô hình của UNFPA Việt Nam (2011) PAHE (2012, trang
31) và Knodelet al (2013) cùng với nghiên cứu thực nghiệm Tarmo Räty et al,
(2003) làm nền tảng để xây dựng khung phân tích cho nghiên cứu. Theo đó, chi tiêu
cho y tế của NCT Việt Nam chịu tác động của 4 nhân tố như đặc điểm kinh tế của
16
hộ gia đình, đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện chăm sóc sức khỏe và sự hỗ trợ từ
bên ngoài.