Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu bộ ba bất khả thi ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2012 - Pdf 29

B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP.HCM
V MINH HÀ
NGHIÊN CU B BA BT KH THI  VIT NAM
GIAI ON 2011 - 2012
Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng
Mã s : 60.31.12

3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu 26
4. Nội dung và kết quả nghiên cứu 28
4.1 Kết quả tính toán các chỉ số trong bộ ba bất khả thi tại Việt Nam 28
4.2 Tam giác bộ ba bất khả thi của Việt Nam 34
4.3 Đồ thị kim cương của Việt Nam 35
4.4 Kiểm định tương quan tuyến tính các chỉ số bộ ba bất khả thi tại Việt Nam 37
4.5 Kiểm định mối quan hệ giữa bộ ba bất khả thi, dự trữ ngoại hối và lạm phát tại
Việt Nam 38
5. Kết luận 41
Tài liệu tham khảo 45
Phụ lục 47
ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á (The Asian Development Bank)
DTNH Dự trữ ngoại hối trừ vàng
ES Chỉ số ổn định tỷ giá
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
FED Cục dự trữ liên bang Mỹ (Federal Reserve System)
FII Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Indirect Investment)
FO Chỉ số hội nhập tài chính
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)
MI Chỉ số độc lập tiền tệ
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
OER Tỷ giá hối đoái chính thức (Official Exchange Rate)
SBV Ngân hàng nhà nước Việt Nam (State Bank of Vietnam)
UNCTAD Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển (United


1
Tóm tắt
Trong bài nghiên cứu này, tác giả xem xét thực trạng bộ ba bất khả thi ở Việt Nam.
Bài nghiên cứu sử dụng thước đo 3 chỉ số bộ ba bất khả thi theo phương pháp của Ito
và Kawai (2012) để xây dựng các chỉ số bộ ba bất khả thi ở Việt Nam giai đoạn 2001-
2012. Tác giả cũng dựa trên mô hình về tương quan tuyến tính của Aizenman, Chinn
và Ito (2008) và mô hình về tác động của bộ ba bất khả thi, dự trữ ngoại hối lên lạm
phát của Cortuk và Singh (2011) để thực hiện một số kiểm định tương tự cho Việt
Nam. Kết quả cho thấy xu hướng chính sách của Việt Nam là ngày càng hướng tới tỷ
giá hối đoái linh hoạt, hội nhập tài chính sâu hơn và cố gắng duy trì độc lập tiền tệ ở
mức cao. Kết quả cũng khẳng định Việt Nam có những bằng chứng thực nghiệm
chứng minh sự đánh đổi giữa các chỉ số trong bộ ba bất khả thi như lý thuyết. Cuối
cùng, bài nghiên cứu phát hiện tác động của các chỉ số bộ ba bất khả thi và dự trữ đối
với lạm phát của Việt Nam: ổn định tỷ giá, hội nhập tài chính và dự trữ ngoại hối kết
hợp với hội nhập tài chính có tác động làm giảm lạm phát.

Từ khóa: bộ ba bất khả thi, dự trữ ngoại hối, lạm phát.

2
1. Giới thiệu
1.1. Lý do chọn đề tài
Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa hội nhập quốc tế, và gần đây là sự kiện chính
thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007, Việt Nam đã từng bước
hội nhập sâu rộng vào cộng đồng kinh tế khu vực và quốc tế, từng bước thay đổi trong
cấu trúc tài chính, các chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của mình. Bên cạnh những
kết quả đạt được thị trường thương mại toàn cầu thì Việt Nam cũng đã và đang phải
đối mặt với không ít thách thức do quá trình hội nhập quốc tế mang lại. Sau những tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất của thế kỷ 21 trên toàn cầu thì
việc điều hành các chính sách vĩ mô theo Lý thuyết bộ ba bất khả thi – giả thuyết rằng

Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu truớc đây
Chuơng 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Chuơng 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chuơng 5: Kết luận
1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: đề tài đã hệ thống lý thuyết bộ ba bất khả thi từ lý thuyết nền tảng
đến phiên bản mới của bộ ba bất khả thi, từ đó thấy được tầm quan trọng của mức độ
DTNH để ổn định kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, cung cấp cho người đọc phương pháp mới
trong việc tính các chỉ số của bộ ba bất khả thi được đề xuất bởi Ito và Kawai (2012)
nhằm khắc phục những hạn chế của các phương pháp trước đây.
Về mặt thực tiễn: đề tài phân tích thực trạng bộ ba bất khả thi của Việt Nam giai đoạn
2001-2012. Về việc nghiên cứu thực tiễn Bộ ba bất khả thi ở Việt Nam, đa số các bài
nghiên cứu đều chủ yếu sử dụng phương pháp của Aizenman, Chinn và Ito (2008) để
tính toán, đo lường các chỉ số trong bộ ba bất khả thi và đưa ra sự lựa chọn chính sách.
Trong khi đó, phương pháp này không phải là không có những hạn chế nhất định về
mặt chỉ số cũng như chưa chỉ ra được mối tương quan giữa bộ đôi chính sách được lựa
chọn. Chính vì vậy, bài nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp mới Ito và Kawai
4
(2012) nhằm khắc phục được những thiếu sót trong các tính toán của Aizenman, Chinn
và Ito (2008) và từ đó có thể đưa ra được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn cho thực
tiễn bộ ba bất khả thi ở Việt Nam, tạo nền tảng cho việc lựa chọn chính sách để thực
hiện các mục tiêu tại Việt Nam.

5
2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây
2.1. Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Robert Mundell và Marcus Fleming đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế
quốc tế vào đầu thập niên 1960, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ cũng như
đặt nền móng cho lý thuyết bộ ba bất khả thi. Hai ông đã chỉ ra rằng ở những quốc gia

Hội nhập tài chính nghĩa là dòng vốn được tự do ra vào nền kinh tế. Việc này cho
phép công dân của nước đó đa dạng hóa tài sản bằng cách đầu tư ra nước ngoài. Nó
cũng khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đem theo các nguồn lực, kinh nghiệm,
chuyên môn để đầu tư vào nước đó. Lợi ích của hội nhập tài chính đến từ hai mặt: hữu
hình và vô hình. Về mặt hữu hình, lợi ích của hội nhập tài chính giúp quốc gia tăng
trưởng nhanh hơn và phân bổ nguồn lực tốt hơn. Chúng cũng giúp nhà đầu tư đa dạng
hóa đầu tư, nhờ vậy mà họ mới mạnh dạn bỏ vốn vào nền kinh tế, thị trường tài chính
nội địa nhờ đó mà cũng phát triển theo. Lợi ích lớn nhất – lợi ích vô hình – mang lại từ
hội nhập tài chính là tạo ra động lực giúp cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và
đưa ra chính sách tốt hơn để theo kịp những thay đổi từ hội nhập. Mặc dù vậy, hội
nhập tài chính cũng được cho là nguyên nhân dẫn đến bất ổn kinh tế những năm gần
đây.

Hình 2.1: Tam giác bộ ba bất khả thi
Nguồn:
7
Hình trên minh họa nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi. Mỗi cạnh tượng trưng
cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và hội
nhập tài chính. Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách
tại các đỉnh. Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn, mục tiêu
ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn, mục tiêu chính sách tiền tệ độc
lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ. Mỗi cạnh mô tả một mục tiêu kì vọng của nền
kinh tế, tuy nhiên không nền kinh tế nào có thể thực hiện được đồng thời cả ba cạnh
của tam giác trên. Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt được bằng một chế độ tỷ
giá tương ứng nhưng phải từ bỏ mục tiêu chính sách còn lại:
- Ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá
cố định nhưng phải từ bỏ độc lập tiền tệ. Điều này có nghĩa chính phủ đã mất đi một
công cụ để điều chỉnh lãi suất trong nước độc lập với lãi suất nước ngoài.
- Độc lập tiền tệ và hội nhập tài chính được kết hợp bằng cách lựa chọn chế độ tỷ giá
thả nổi nhưng phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá. Với lựa chọn này, NHTW được

Taguchi và cộng sự (2011) đã tiếp cận bộ ba bất khả thi ở một góc nhìn khác: độc lập
tiền tệ được xem là biến trung tâm trong mối quan hệ với các biến còn lại của bộ ba
bất khả thi và DTNH. Nghiên cứu của ông đặc biệt quan trọng trong bối cảnh độc lập
tiền tệ đang ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với các quốc gia mới nổi ở Châu Á
và Mỹ Latinh hiện nay. Mục tiêu căn bản của chính sách tiền tệ đó là thúc đẩy tăng
trưởng, việc làm bằng cách ổn định giá cả, tuy nhiên, với xu hướng gia tăng hội nhập
tài chính mạnh mẽ, độc lập tiền tệ còn đóng vai trò đảm bảo cho sự ổn định của hệ
thống tài chính các quốc gia này. Taguchi và cộng sự (2011) đã xây dựng mô hình
kiểm định độc lập tiền tệ trong mối tương quan với các biến số bất khả thi khác đối với
các nước mới nổi ở Châu Á và Mỹ Latinh trong 2 thập kỷ gần đây cũng như kiểm định
vai trò của DTNH trong việc góp phần gia tăng độc lập tiền tệ hay không.
2.2. Những lựa chọn chính sách của bộ ba bất khả thi
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay khi mà hội nhập tài chính là điều tất yếu, có 3 sự
lựa chọn cơ bản của bộ ba bất khả thi mà các nước hướng đến đó là: (1) tỷ giá cố định
và hội nhập tài chính; (2) tỷ giá thả nổi và hội nhập tài chính và (3) chế độ trung gian.
9
(1) Tỷ giá cố định và hội nhập tài chính
Với mục đích tạo ra cái neo danh nghĩa để củng cố niềm tin của thị trường vào giá trị
đồng nội tệ và kiềm chế lạm phát, tỷ giá cố định kết hợp với hội nhập tài chính có lẽ là
một sự lựa chọn tối ưu cho các quốc gia đang phải đối mặt với một tỷ lệ lạm phát cao,
đặc biệt là đối với những quốc gia mà niềm tin của thị trường vào những cái neo danh
nghĩa khác đã bị mất tín nhiệm; ví dụ như cái neo kỉ luật tài khóa không được chính
phủ xem trọng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi mà tình trạng vô kỷ luật tài
khóa quá nghiêm trọng, nguyên nhân của lạm phát xuất phát từ những cú sốc trong
nguồn cung (giá nguyên liệu, lương thực tăng lên), hoặc cung tiền gia tăng quá mức,
nhất là để tài trợ cho những chương trình chi tiêu của chính phủ thì cái neo danh nghĩa
của tỷ giá cũng khó lòng giúp quốc gia đó có thể kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô.
Với sự lựa chọn chính sách này, rõ ràng chính phủ đã mất đi tính độc lập trong việc
thực thi các công cụ của chính sách tiền tệ nên chỉ còn trông chờ vài tác dụng của
chính sách tài khóa để thực hiện chính sách phản chu kì trong điều kiện thâm hụt ngân

cú sốc từ cuộc khủng hoảng tài chính của các nước trong khu vực tác động xấu đến hệ
thống tài chính, tăng tỷ lệ lạm phát và méo mó nguồn lực của quốc gia, chính vì vậy
mà nhiều nhà kinh tế cho rằng, nhiều khi việc đánh đổi của chính sách tỷ giá thả nổi để
có được độc lập tiền tệ không mang lại kết quả mà quốc gia mong muốn.
(3) Chế độ trung gian
Chế độ trung gian có thể hiểu là: một cơ chế tỷ giá linh hoạt tức tỷ giá thả nổi có quản
lý, kết hợp với mức tự chủ tương đối về tiền tệ, và tự do hóa tài chính nhưng không
quên kiểm soát vốn. Nghĩa là chính phủ sẽ thực hiện một số biện pháp kiểm soát dòng
vốn nhằm tạo điều kiện để thực thi chính sách tiền tệ cũng như triển khai chính sách tỷ
giá một cách chủ động. Chẳng hạn với mục tiêu kiềm chế lạm phát, NHTW sẽ giảm
cung tiền hoặc tăng lãi suất, nhưng với động thái gia tăng lãi suất sẽ làm dòng vốn
nước ngoài đổ vào nhiều hơn, điều đó sẽ làm cho đồng nội tệ tăng giá. Khi đó chính
phủ sẽ áp đặt những biện pháp kiểm soát dòng vốn vào, để giữ cho tỷ giá ổn định hoặc
thông qua việc kiểm soát vốn chính phủ vẫn có thể chủ động để cho tỷ giá dao động
trong một biên độ nhất định. Để đạt được những mục tiêu đó, bên cạnh việc chính phủ
11
cần có những công cụ kiểm soát dòng vốn một cách hiệu quả và tự chủ, thì đòi hỏi
phải có một kho DTNH đủ lớn để chống lại những cú sốc khi dòng vốn đảo chiều đột
ngột gây ra những thay đổi bất lợi về tỷ giá.
Tất nhiên, kiểm soát vốn cũng có cái giá phải trả do dòng vốn có thể chuyển hướng
sang các quốc gia khác có cơ chế thu hút vốn thông thoáng hơn.
Một ví dụ điển hình và thành công trong việc sử dụng chế độ trung gian trong điều
hành kinh tế là nước láng giềng Trung Quốc. NHTW Trung Quốc có nhiều điều kiện
để thực hiện chính sách tiền tệ khá độc lập và duy trì kiểm soát chặt chẽ đối với tỷ giá
đồng nhân dân tệ. Để đạt được điều này, Trung Quốc phải hạn chế dòng vốn quốc tế,
bao gồm cả việc hạn chế công dân Trung Quốc chuyển tài sản ra nước ngoài. Trước
sức ép của cộng đồng quốc tế về việc định giá thấp đồng nhân dân tệ để tăng cạnh
tranh, Trung Quốc cũng đã nhượng bộ một phần bằng cách để cho đồng nhân dân tệ
lên giá, nhưng kèm theo đó là tăng lãi suất để kìm hãm nền kinh tế đang có dấu hiệu
phát triển nóng lên vào cuối năm 2010. Như vậy, việc kiểm soát vốn trong một chừng


stdev

(∆(log(exch

_

rate))
Cách thức đo lường độ ổn định tỷ giá như trên có ưu điểm là giúp chúng ta xác định
được mức độ ổn định tỷ giá trên thực tế mà một quốc gia đang áp dụng chứ không phải
dựa trên chính sách tỷ giá mà quốc gia đó tuyên bố.
Tuy nhiên, mức độ ổn định của tỷ giá hối đoái như tính toán bằng độ lệch chuẩn không
phải luôn luôn có liên quan đến chế độ tỷ giá bởi vì ngay cả trong chế độ tỷ giá thả nổi
linh hoạt cũng có thể đưa ra các số liệu về độ lệch chuẩn thấp nếu các điều kiện kinh tế
đang ổn định, và một chế độ tỷ giá neo cố định cũng có thể tạo ra các số liệu về độ
lệch chuẩn lớn trong trường hợp phá giá hay nâng giá.
Yếu tố thứ hai của bộ ba là độc lập tiền tệ.
Rose (1996)
2
có đề xuất đo lường độc lập tiền tệ bằng cách xem xét phản ứng của tỷ
giá đối với những thay đổi trong sản lượng, lãi suất và cung tiền. Tuy nhiên đối với
cung tiền, phương pháp này có nhược điểm là khó thể nào phân biệt được trong thực tế
đâu là một cú sốc cung và cú sốc cầu tiền tệ, đó là chưa kể phải giả định tốc độ lưu
thông tiền tệ là không đổi.
Obstfeld, Shambaugh và Taylor (2005) đề xuất cách tiếp cận khác để đo lường độc lập
tiền tệ, dựa vào mức độ thay đổi của lãi suất danh nghĩa ngắn hạn. Phương pháp này
gây tranh cãi vì chỉ dựa chủ yếu vào trực giác khi cho rằng điều hành chính sách tiền tệ
chủ yếu dựa vào mức lãi suất mục tiêu hơn là dựa trên số lượng tiền tệ.
Aizenman, Chinn và Ito (2008) đo lường mức độ độc lập tiền tệ bằng hàm nghịch đảo
của mức tương quan hằng năm của lãi suất hằng tháng giữa quốc gia sở tại j và quốc

tính dừng của từng lãi suất hay tính đồng liên kết giữa lãi suất quốc gia sở tại và quốc
gia cơ sở. Trong trường hợp này, phương pháp tính này không phải luôn luôn phát
hiện ra được độ nhạy cảm thực sự của lãi suất quốc gia nghiên cứu so với sự thay đổi
trong lãi suất nước ngoài.
Yếu tố khó đo lường nhất của bộ ba là hội nhập tài chính, tức là đo lường mức độ mà
một quốc gia tiến hành kiểm soát vốn. Tuy nhiên, việc đo lường mức độ kiểm soát vốn
rất phức tạp vì rất khó để có thể nhận diện và lượng hóa tất cả những hình thức kiểm
soát vốn trong thực tế. Thường thì các nhà kinh tế dựa vào phương thức kiểm soát vốn
của mỗi quốc gia theo phân loại của IMF để xem xét chỉ số độ mở của tài khoản vốn.
Tuy nhiên, điều mà các nhà kinh tế thực sự quan tâm là mức độ hội nhập tài chính trên
thực tế. Có thể một quốc gia tuy tuyên bố kiểm soát chặt các giao dịch vốn nhưng trên
thực tế các chính sách lại khá thông thoáng.
Lane và Milesi-Ferretti (2001, 2007) có đề xuất sử dụng chỉ số độ mở tài khoản vốn
trên thực tế, đo lường hội nhập tài chính trên thực tế bằng tỷ lệ tổng nợ và tài sản nước
ngoài trong cán cân thanh toán. Khi đo lường tổng lượng nợ và tài sản nước ngoài
trong cán cân thanh toán, ta sẽ thấy được mức độ kiểm soát vốn trên thực tế mà một
quốc gia đang theo đuổi. Ngoài ra còn một phương pháp thứ hai để đo lường độ mở
của tài khoản vốn trên thực tế, đó là tính toán tỷ số dòng tài chính xuyên biên giới
trong cán cân thanh toán quốc tế so với GDP.
Chinn và Ito (2008)
3
đưa đề xuất sử dụng độ mở tài khoản vốn KAOPEN để đo lường
mức độ hội nhập tài chính. KAOPEN dựa trên thông tin trong báo cáo hằng năm về cơ
chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối do IMF phát hành (Annual Report on Exchange
Arrangements and Exchange Restrictions AREAER). Nhìn vào KAOPEN ta sẽ thấy
một quốc gia trên thực tế có tiến hành chính sách đa tỷ giá hay không. Đây là dạng cơ
chế mà một loại tỷ giá áp dụng cho giao dịch trên tài khoản vãng lai và một loại tỷ giá

3
Trích Aizenman, Chinn và Ito (2008)

đã giới thiệu bộ chỉ số mới của bộ ba bất khả thi. Trong khi không có thước đo hoàn
hảo cho cả ba mục tiêu chính sách, Ito và Kawai (2012) cố gắng để khắc phục nhược
điểm của các chỉ số trước đây bằng cách đưa ra phương thức đo lường mới cho các chỉ
số của bộ ba bất khả thi. Với cách tiếp cận dựa trên các phương pháp được giới thiệu
15
trong các tài liệu trước đây và sử dụng các lý thuyết phù hợp, hai ông đã cố gắng tạo ra
một tập hợp các chỉ số để có thể hiểu rõ hơn trong những khía cạnh của ba chính sách
trong bộ ba bất khả thi.
Độ ổn định tỷ giá
Để tạo một chỉ số đo lường mức độ ổn định tỷ giá, Ito và Kawai (2012) sử dụng
phương pháp được giới thiệu đầu tiên bởi Frankel và Wei (1994).
(1)
trong đó e
kt
là tỷ giá hối đoái của đồng tiền k (= i, US, JP,…,K) so với một số đơn vị
tiền tệ như là đồng france Thuỵ sĩ và Quyền rút vốn đặc biệt (SDR). Những đồng tiền
được tính đến bên tay phải của phương trình ước lượng, như là đồng Đô la Mỹ, đồng
Yên, đồng Mark Đức, đồng Euro hoặc bảng Anh, có thể xem như bao gồm một rổ các
đồng tiền chính ngầm định trong chính sách của các nhà quản lý tiền tệ. Do đó,
, hệ
số được ước lượng từ tỷ lệ thay đổi trong tỷ giá của k đồng tiền chính so với đơn vị
tính toán, biểu thị trọng số của k đồng tiền trong rổ ngầm định.
Ito và Kawai (2012) thực hiện nhiều điều chỉnh so với mô hình ước lượng của Frankel
và Wei. Thứ nhất, áp dụng mô hình ước lượng cho mỗi đồng tiền trong mẫu nghiên
cứu trải qua giai đoạn 36 tháng. Nói cách khác, các
, trọng số của các đồng tiền
chính trong rổ ngầm định, thay đổi theo thời gian là hợp lý hơn để giả định rằng các
nhà quản lý tiền tệ luôn cập nhật tập hợp thông tin. Hơn nữa, sau khi thực hiện ước
lượng ban đầu, những ước lượng mà giá trị p lớn hơn 20% bị loại bỏ khỏi phương
trình ước lượng, mà chỉ để lại những đồng tiền có kết quả ước lượng có ý nghĩa thống

là tỷ lệ lạm phát CPI hằng năm; là tỷ lệ
thay đổi trung bình trong sản xuất công nghiệp của nhóm G7 và Brazil, Russia, India
và PRC (các quốc gia BRIC); và
là tỷ lệ thay đổi trong giá dầu thô hằng năm. D
là véctơ các biến giả để kiểm soát cho lạm phát cao và siêu lạm phát cũng như khủng
hoảng đồng tiền mà được nhận diện dựa trên những chỉ số áp lực thị trường ngoại hối
thường được sử dụng, được phát triển đầu tiên bởi Eichengreen, Rose, và Wyplosz
(1995; 1996).
Cùng với phương trình (4) chúng tôi cũng xem xét 2 phương trình ước lượng khác sau
đây:
(5)
(6)
Việc sử dụng những mô hình ước lượng này và tập trung vào
điều chỉnh của chúng,
tác giả đưa ra 2 loại thang đo sau đây cho mức độc lập chính sách tiền tệ:
17
(7)
(8)
Nếu
điều chỉnh của phương trình (5) lớn hơn tổng của điều chỉnh của phương
trình (6) và sai số chuẩn của sự khác biệt giữa hai
điều chỉnh, thì chúng tôi lấy
MI_1 là chỉ số MI. Nếu
điều chỉnh của phương trình (6) lớn hơn tổng của điều
chỉnh của phương trình (5) và sai số chuẩn của sự khác biệt giữa hai
điều chỉnh, thì
chúng tôi lấy MI_2 là chỉ số MI. Nếu sự khác biệt giữa hai
điều chỉnh nằm trong
sai số chuẩn của nó, thì chúng tôi sử dụng trung bình của hai chỉ số MI.
Độ mở thị trường tài chính

Trong hơn hai thập kỉ gần đây, ngày càng nhiều các nền kinh tế đang phát triển có xu
hướng thiên về lựa chọn chế độ tỷ giá trung gian giữa cố định và thả nổi, như chế độ tỷ
giá thả nổi có quản lý, neo tỷ giá, hoặc dải băng tỷ giá. Chế độ tỷ giá hỗn hợp như thế
đòi hỏi các quốc gia phải gia tăng DTNH để bảo đảm duy trì tỷ giá trong một vùng
mục tiêu nào đó theo kế hoạch của chính phủ.
Sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, nhiều nước đang phát triển bắt đầu chuyển
sang cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, tức hướng về thị trường nhiều hơn. Mặc dù vậy,
DTNH ở các nước đang phát triển vẫn tiếp tục tăng lên ấn tượng. DTNH toàn cầu tăng
từ khoảng 1000 tỷ đô la đến hơn 5000 tỷ đô la trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2006.
So sánh mức DTNH của các nước bằng con số tuyệt đối có vẻ hơi khập khiễng, vì mỗi
nền kinh tế có quy mô, phạm vi và tính chất khác nhau. Để bỏ qua quy mô nền kinh tế,
ta sử dụng chỉ số IR/GDP, tức là tỷ lệ DTNH trên tổng sản phẩm quốc nội. Trong khi
IR/GDP tại các nước công nghiệp tương đối ổn định xấp xỉ dưới 5% thì tỷ lệ này tại
các nước đang phát triển tăng từ 5% đến khoảng 27%. Gần đây các nước đang phát
triển nắm giữ đến ba phần tư DTNH toàn cầu, phần lớn tập trung ở Châu Á, nơi tỷ lệ
IR/GDP đã gia tăng từ khoảng 5% vào năm 1980 lên khoảng 37% vào năm 2006.
Đương nhiên, Trung Quốc là quốc gia có DTNH tăng ấn tượng nhất cả về khối lượng
DTNH tuyệt đối lẫn tỷ lệ DTNH trên GDP từ khoảng 1% vào năm 1980 lên xấp xỉ
48% vào năm 2010.
19

Hình 2.2: Dự trữ ngoại hối/GDP giai đoạn 1980-2010
Nguồn: Aizenman, J., M.D Chinn and H. Ito (2012). The Impossible Trinity Hypothesis
in an Era of Global Imbalances: Measurement and Testing
DTNH gia tăng một phần do chính phủ các nước đang phát triển phải đối phó với xu
hướng dòng vốn mang tính đầu cơ. Dòng tiền nóng từ đầu cơ rất dễ dừng lại đột ngột
và đảo chiều, vì vậy tích lũy DTNH là phương thức mà chính phủ các quốc gia đang
phát triển hướng đến như là một tấm đệm can thiệp vào thị trường ngoại hối để phòng
ngừa rủi ro nguồn vốn đảo chiều.
Trong các nhân tố thương mại và tài chính, nhân tố nào là chủ yếu để giải thích cho

như khủng hoảng Mexico (1994), Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc (1997), Nga và
Brazil (1998), Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ (1998). Trong cùng thời gian đó các quốc gia
không theo chế độ neo tỷ giá bao gồm Israel và Nam Phi (1998) lại tránh được khủng
hoảng. Các cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ việc các quốc gia không tuân theo
hoặc vận dụng cứng nhắc nguyên lý của bộ ba bất khả thi và câu chuyện của các quốc
gia Hàn Quốc, Mexico, Argentina là những ví dụ.

Hàn Quốc
Mexico
Thị trường vốn đóng
và neo chặt tỷ giá
hoảng
Khủng
Độc lập tiền tệ Ổn định tỷ giá
Thả nổi có quản lý,
Gia tăng dự trữ, Vô hiệu hóa

Tỷ giá thả nổi
Argentina
Liên minh tiền tệ
hay Chuẩn tiền tệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status