Tiểu luận tài chính quốc tế Nghiên cứu về bộ ba bất khả thi THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM - Pdf 27

Mục lục
PHẦN 1. LÍ DO NGHIÊN CỨU 1
PHẦN 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
PHẦN 3. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 3
3.1. Mô hình Mundell-Fleming và các hàm ý về chính sách tài khoá. 3
3.1.1. Chính sách tiền tệ dưới các chế độ tỷ giá 3
3.2. Lý thuyết bộ ba bất khả thi 6
3.2.1.Thuyết bộ ba bất khả thi của GS. Robert Mundell 6
3.2.2.Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian 7
3.3. Thuyết tứ diện (A tetrahedron Hypothesis) 9
3.3.1.Cơ chế tỷ giá trung gian - nền tảng của thuyết tam giác mở rộng và thuyết tứ
diện 9
3.3.2.Thuyết tứ diện 10
PHẦN 4. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
PHẦN 5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
5.1. Kiểm soát vốn: 14
5.1.1. De jure Controls: Cơ sở dữ liệu Chinn-Ito 14
5.1.2. Sự mở cửa tài khoản vốn trong thực tế 17
5.2. Chế độ tỷ giá hối đoái 24
5.2.1. Phương pháp 24
5.2.2. Bằng chứng về tỷ giá hối đoái linh hoạt của Châu Á-11 25
5.3. Phân tích chính sách 30
5.3.1. Châu Á và bộ ba bất khả thi 30
PHẦN 6. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở VIỆT NAM 35
6.1. Tình hình áp dụng bộ ba bất khả thi của Việt Nam năm 2007 36
6.1.1. Chính sách tiền tệ: 37
6.1.2. Chính sách tỷ giá 37
6.2. Tình hình áp dụng bộ ba bất khả thi của Việt Nam năm 2008 37
1
6.2.1. Chính sách tỷ giá 37
6.2.2. Chính sách tiền tệ 40

thú vị về tình trạng hiện tại và sự phát triển có thể có của chính sách tiền tệ của Châu Á,
và tìm ra một khuôn khổ chính sách tiền tệ phù hợp.
Bên cạnh các nước nói trên thì bài viết này cũng đề cập đến tình hình áp dụng bộ ba bất
khả thi đối với Việt Nam trong những năm gần đây. Thực tế đã cho thấy mặc dù nền kinh
tế Việt Nam có những bước tiến đáng kể trong những năm gần đây tuy nhiên Việt Nam
vẫn chưa có một cơ chế phù hợp nhất. Bài viết này sẽ góp phần nào trả lời được hai câu
hỏi trên đồng thời liên hệ đến Việt Nam để tìm ra một cơ chế phù hợp nhất cho nền kinh
tế Châu Á.
PHẦN 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi kiểm tra tính rộng mở của tài khoản vốn và tính linh
hoạt trong tỷ giá hối đoái ở 11 nền kinh tế châu Á. Châu Á đã có sự phát triển chậm chạp
trong sự mở rộng tài khoản vốn. Trong khi đó là sự gia tăng từng bước trong sự linh hoạt
của tỷ giá hối đoái, hầu hết các nền kinh tế châu Á tiếp tục với cơ chế tỷ giá hối đoái cố
định. Sự kết hợp giữa tài khoản vốn cùng với cơ chế tỷ giá hối đoái không linh hoạt đã
dẫn đến chính sách tiền tệ phản chu kỳ. Bài viết này nhằm nhấn mạnh sự cần thiết cho
một khuôn khổ chính sách tiền tệ phù hợp.
Một ý tưởng cốt lõi trong kinh tế vĩ mô hiện đại là bộ ba bất khả thi, với khái niệm là một
quốc gia chỉ có thế có 2 trong 3 mục tiêu sau đây: hội nhập tài chính, tỷ giá hối đoái cố
định, chính sách tiền tệ độc lập. Một quốc gia có thể lựa chọn một chính sách tỉ giá cố
định hoặc điều hành một chính sách tiền tệ độc lập nhưng không thể có cả hai. Ngoại trừ
các nước châu Âu, hầu hết các quốc gia phát triển đều có một tài khoản vốn mở, tỷ giá
hối đoái thả nổi và chính sách tiền tệ độc lập.
Ở châu Á, một vài nước ví dụ như HongKong, Trung Quốc có tỷ giá hối đoái cố định, tài
khoản vốn mở và không có tính độc lập trong chính sách tiển tệ. Tuy nhiên, nói chung
3
các nước châu Á có xu hướng thiếu một chính sách tiền tệ xác định, và hầu hết đều kết
hợp 2 mục tiêu là có tài khoản vốn và tỷ giá hối đoái cố định.
Vậy mục đích của bài nghiên cứu này là xác định được một khuôn khổ chính sách tiền tệ
phù hợp kết hợp với một tỷ giá hối đoái cố định và hội nhập tài chính cho các nước Châu
Á.

IS dịch chuyển đến IS’ và LM dịch chuyển đến LM’) nhưng vẫn có được một cán cân
thanh toán cân bằng (điểm H trong hình 3.1). Điểm H là một điểm cân bằng bền vững
trong dài hạn.
Khi cán cân thanh toán thặng dư, NHTW sẽ dùng nội tệ để mua ngoại tệ vào. Ngược lại,
khi cán cân thanh toán thâm hụt, NHTW sẽ bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu trên thị
trường. Do đó, một cán cân thanh toán thặng dư hay thâm hụt sẽ làm tăng hoặc giảm
cung tiền của nền kinh tế vì NHTW sẽ mua vào hoặc bán ra ngoại tệ. Kết quả là, một cán
cân thanh toán thặng dư hay thâm hụt sẽ không được duy trì, nhưng điều này lại tác động
5
đến lạm phát trong nước. Luận điểm này sau đó được Frankel và Krugman khai thác và
xây dựng nên lý thuyết bộ ba bất khả thi.
Nhằm tránh những tác động của việc mua bán ngoại tệ đến lạm phát trong nước như đã
nói ở trên, NHTW sử dụng một công cụ gọi là “chính sách vô hiệu hoá”. Giả định, có
một sự mở rộng chính sách tiền tệ và tạo ra một cán cân thanh toán thâm hụt như điểm F
trong hình 3.1. Nếu NHTW bán ngoại tệ nhằm đáp ứng cầu ngoại tệ sẽ làm giảm cung
tiền nội địa và làm đường LM’ dịch chuyển trở lại đường LM, hay mức cân bằng sẽ trở
lại điểm E. Để duy trì vị trí tại F, NHTW phải tiến hành cái gọi là “chính sách vô hiệu
hoá”, tức là NHTW sẽ mua các chứng khoán trên thị trường mở nhằm cung ứng ra lưu
thông một lượng nội tệ đúng bằng lượng nội tệ giảm đi khi NHTW bán ngoại tệ để duy
trì cán cân thanh toán thâm hụt. Ngược lại, để duy trì một cán cân thanh toán thặng dư,
chính sách vô hiệu hoá của ngân hàng được thực hiện theo chiều ngược lại. Nghĩa là,
NHTW sẽ bán các chứng khoán trên thị trường mở để hút lượng nội tệ được dùng mua
ngoại tệ trước đó.
Thật quan trọng để hiểu các hàm ý về chính sách tài khóa và tiền tệ dưới các mức độ khác
nhau của luân chuyển dòng vốn, cơ chế tỷ giá và chính sách vô hiệu hoá. Nếu chúng ta
vẫn tiếp tục giả định chế độ tỷ giá hối đoái là cố định và không có chính sách vô hiệu
hoá, thì sau đó tất yếu rằng, chính sách tài khoá trở nên hiệu quả hơn chính sách tiền tệ.
Hãy nhìn lại hình 3.1 một lần nữa. Bắt đầu tại điểm E, một sự mở rộng chính sách tiền tệ
sẽ chuyển đường LM sang LM’ và do đó đạt được một cán cân thanh toán thâm hụt tại
điểm F. Tuy nhiên, không có sự vô hiệu hoá, cung tiền sẽ giảm và sau đó LM’ sẽ dịch

Như vậy, trong điều kiện tương đối, một chính sách tài khoá mở rộng dưới chế độ tỷ
giá linh hoạt là ít hiệu quả hơn dưới chế độ tỷ giá cố định.
Hình 3.2: Mô hình IS-LM của Mundell-Fleming với tỷ giá linh hoạt.
7
3.2.LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI
3.2.1.Thuyết bộ ba bất khả thi của GS. Robert Mundell
Từ những hàm ý của mô hình Mundell-Fleming ở trên ta thấy rằng: hiệu quả của chính
sách tiền tệ và chính sách tài khoá phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái và mức độ kiểm
soát vốn. Ví dụ, quốc gia nào có chuyển dịch dòng vốn tự do và tỷ giá cố định, thì các
nhà quản lý tiền tệ không thể theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập. Trong một quốc
gia có cơ chế tỷ giá cố định thì không có rủi ro tỷ giá, và lãi suất trong nước biến động
cùng với lãi suất nước ngoài. Từ những nhận định trên, các nhà kinh tế như Krugman
(1979) và Frankel (1999) đã mở rộng mô hình Mundell-Fleming thành “mô hình bất khả
thi”. Giống như trong hình 3.3, Frankel (1999) cho rằng, một quốc gia phải từ bỏ một
trong 3 mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của chính sách tỷ giá, và hội nhập
thị trường tài chính. Các nội dung này được tóm tắt trong bảng 3.1.
Hình 3.3 là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi. Mỗi cạnh thể hiện
cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của tỷ giá, và
hội nhập tài chính hoàn toàn. Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ
chính sách tại các đỉnh. Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn;
mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn; mục tiêu chính sách tiền tệ
độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ. Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt
được bởi một đỉnh nằm giữa. Ví dụ, mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và tỷ giá ổn định
đạt được bởi đỉnh kiểm soát vốn hoàn toàn. Mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và hội
nhập tài chính hoàn toàn có thể khả thi với đỉnh thả nổi hoàn toàn. Cuối cùng, mục tiêu tỷ
giá ổn định và hội nhập tài chính đạt được bởi đỉnh liên minh tiền tệ. Hoàn toàn không
khả thi để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu.
Hình 3.3 tam giác bộ ba bất khả thi.
8
Bảng 3.1- Nguyên lí của bộ ba bất khả thi

đáy K, tượng trưng cho dòng vốn lưu động hoàn hảo; và cạnh phải E, tượng trưng cho ổn
định tỷ giá. Ba đỉnh của góc tam giác tượng trựng cho 3 cam kết tỷ giá: A1 = cố định, A2
= Thả nổi hoàn toàn, A3 = liên minh tiền tệ. Gọi Ms, Kc và Ev là các khoảng cách từ
điểm O tuỳ ý đến 3 cạnh, tượng trưng lần lượt cho mức độ của độc lập chính sách tiền tệ,
mức độ kiểm soát vốn và mức độ biến động tỷ giá. Một tính chất quan trọng của tam giác
đều là: tổng khoảng cách của bất kỳ điểm nào ở bên trong tam giác đến ba cạnh bằng
chiều cao của tam giác. Do đó ta có Ms + Kc + Ev = Mh. Để đơn giản, đặt chiều cao của
tam giác đều Mh = 1, thì ta có Ms + Kc + Ev = 1 và 0 <= Ms, Kc, Ev <= 1.
Hình 3.4: Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian
Trong đó: (1) Khi Kc = 0, tức là dòng vốn lưu động hoàn toàn và Kc = 1 tức là kiểm soát
vốn hoàn toàn. (2) Ms = 0, nghĩa là chính sách tiền tệ hoàn toàn và Ms = 1, nghĩa là mất
độc lập về chính sách tiền tệ. (3) Ev = 0, tức là tỷ giá cố định và Ev = 1, tức là tỷ giá thả
nổi.
Chúng ta xét 3 trường hợp sau:
Trường hợp 1: Khi Kc = 0, dòng vốn hoàn toàn lưu động, ta có Ms + Ev = 1. Ở đây nếu
Ms=0 thì Ev=1; nếu Ms=1 thì Ev=0; nếu 0<Ms<1 thì 0<Ev<1. Do đó, có ba sự kết hợp:
(1) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách độc lập tiền tệ hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi
tự do; (2) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ mất độc lập về chính sách tiền tệ ∩ tỷ giá cố
định; (3) dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ độc lập chính sách tiền tệ có giới hạn ∩ tỷ giá
thả nổi có giới hạn.
10
Trường hợp 2: Khi Kc=1, kiểm soát vốn hoàn toàn, chúng ta có Ms + Ev = 0. Ở đây,
Ms=0 và Ev=0, chúng ta có các kết hợp: kiểm soát vốn hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ
độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định. Thực tế, chế độ tỷ giá cố định thường có trong các
quốc gia đang phát triển với thị trường tài chính yếu kém.
Trường hợp 3: Khi 0<Kc<1, dòng vốn lưu động giới hạn, chúng ta có 0<Ms+Ev<1. Nếu
Ms=0, thì 0<Ev<1; nếu 0<Ms<1 thì 0<Ev<1 hoặc Ev=0. Có ba sự kết hợp: (1) dòng vốn
lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn;
(2) dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi
có giới hạn; (3) dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ

đổi giữa nhiều loại cơ chế tỷ giá trung gian khác nhau, phụ thuộc vào tình hình tăng
trưởng kinh tế, lạm phát, và các cú sốc từ bên ngoài.
3.3.2.Thuyết tứ diện
Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian (2001) thực sự đã chuẩn hoá tam giác
bất khả thi của Mundell. Tuy nhiên, giống như mô hình của Mundell, lý thuyết này chưa
xem xét đến sự khác nhau về khả năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ trong các nền
kinh tế khác nhau sẽ tác động trực tiếp đến biến động tỷ giá. Hausmann (2000) phát hiên
ra một mối quan hệ vững chắc giữa mẫu hình thả nổi tỷ giá của một quốc gia với khả
năng vay mượn quốc tế bằng nội tệ của quốc gia đó. Cụ thể, quốc gia nào có khả năng
vay mượn nước ngoài bằng nội tệ nhiều hơn có khuynh hướng nắm giữ mức dự trữ ngoại
hối nhỏ hơn, và cho phép tỷ giá biến động cao hơn so với biến động trong dự trữ ngoại
hối hoặc lãi suất. Hausmann cũng phát hiện một bằng chứng yếu hơn và ít bền vững hơn
về tầm quan trọng của tác động tỷ giá đến giá cả (exchange rate pass-through) như là
một yếu tố xác định sự khác nhau trong quản lý tỷ giá của các quốc gia. Guobing Shen
(2004) đã đưa biến số khả năng vay mượn nước ngoài bằng đồng nội tệ vào các yếu tố
khác để xác định việc lựa chọn cơ chế tỷ giá, và đã mở rộng tam giác bất khả thi của
Mundell thành thuyết tứ diện.
Hình 3.5: Thuyết tứ diện
Trong hình 3.5, chúng ta có một tứ diện đều. Đặt mặt dưới C tượng trưng cho khả năng
vay mượn nước ngoài bằng đồng nội tệ; mặt M bên trái tượng trưng cho chính sách tiền
tệ độc lập hoàn toàn; mặt đối diện K tượng trưng cho dòng vốn lưu động hoàn toàn; mặt
12
phải E tượng trưng cho sự ổn định tỷ giá. Giống như trước đây, chúng ta có tổng khoảng
cách từ bất kỳ điểm O nào đến các mặt của tứ diện đúng bằng chiều cao của tứ diện. Đặt
Cb, Ms, Kc và Ev là khoảng cách từ điểm O đến bốn mặt, lần lượt tượng trưng cho khả
năng vay mượn nước ngoài bằng nội tệ, mức độ độc lập tiền tệ, mức độ kiểm soát vốn và
mức độ biến động tỷ giá. Về phía các góc, 3 góc mà chúng ta đề cập ban đầu là giống như
hình trên, chỉ riêng góc A4 thể hiện cho khả năng cao nhất để vay mượn quốc tế bằng
đồng nội tệ. Để đơn giản, đặt chiều cao của tứ diện Mh=1, thì sau đó 0<= Cb, Ms, Kc,
Ev<=1 và Cb+Ms+Kc+Ev=1.

- Đầu tiên, khi Kc=0, thì 0<Ms+Ev<1. Ở đây nếu Ms=0, thì 0<Ev<1; nếu 0<Ms<1 thì
0<Ev<1 hoặc Ev=0. Có ba kết hợp là : (1) khả năng vay nước ngoài có giới hạn ∩ dòng
vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới
hạn; (2) khả năng vay nợ có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ
độc lập có giới hạn ∩ tỷ gía thả nổi có giới hạn; (3) khả năng vay nợ nước ngoài có giới
hạn ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá cố
định.
- Thứ hai, khi 0<Kc<1, thì 0<Ms+Ev<1, hoặc Ms+Ev=0. Ở đây, nếu Ms=0, thì 0<Ev<1;
nếu 0<Ms<1, thì 0<Ev<1 hoặc Ev=0; và Ms=0 và Ev=0. Có 4 kết quả là: (1) khả năng
vay nước ngoài có giới hạn ∩ lưu động vốn có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn
toàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn; (2) khả năng vay nợ nước ngoài có giới hạn ∩ dòng vốn
lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn;
(3) khả năng vay nợ giới hạn ∩ dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập
giới hạn ∩ tỷ giá cố định; (4) khả năng vay nợ có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động có
giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định.
So sánh những kết hợp lựa chọn cơ chế tỷ giá trong bảng 3.2 và bảng 3.3, chúng ta thấy
tam giác bất khả thi của Mundell chỉ là một trường hợp đặc biệt của thuyết tứ diện với
Cb=0. Khi Cb=0, hàm ý quốc gia đó không có khả năng vay nợ nước ngoài bằng nội tệ,
góc thứ tư là A4 và ba cạnh sẽ không xuất hiện trong mặt dưới C. Do đó tứ diện đều trở
thành tam giác đều (hình 3.6).
Hình 3.6: Tam giác bất khả thi là trường hợp đặc biệt của Thuyết tứ diện
14
PHẦN 4. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong bài báo này, chúng tôi tập trung vào 11 nền kinh tế lớn ở châu Á: Ấn Độ, Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa (PRC), Hongkong,… đây là một nhóm rất không đồng nhất, từ
thành phố nhỏ giống như Singapore đến các thành phố khổng lồ như PRC, từ nền kinh tế
nghèo như Ấn Độ đến nền kinh tế giàu có như Đài Loan, Trung Quốc hoặc Hàn Quốc.
Chúng tôi đề cập đến những nền kinh tế của 11 quốc gia Châu Á.
Chúng tôi khảo sát 11 nước châu Á đứng trên khía cạnh 3 góc của bộ ba bất khả thi:
kiểm soát nguồn vốn, chế độ tỷ giá hối đoái, quyền tự chủ chính sách tiền tệ. Chúng tôi

pháp kiểm soát vốn vì thế nó cứ tiếp tục đưa ra những chỉ số giống nhau trừ khi nền kinh
tế đó loại bỏ hoàn toàn các biện pháp kiểm soát nguồn vốn. Thứ hai, chỉ số này sẽ tăng
đáng kể đối với các nước có nền công nghiệp phát triển trong những nằm gần đây bởi vì
họ đã thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn tài chính của nền kinh tế như: chống rửa
tiền, chống khủng bố, … và một số biện pháp khác tương tự như vậy.
Hình 5.1: Mật độ các biện pháp Chinn-Ito trên tất cả các nền kinh tế năm 1970 và
2007
Biểu đồ này cho thấy mật độ các nước có kiểm soát vốn và không có các biện pháp kiểm
soát vốn. Đường màu xanh và đường màu đỏ thể hiện tình trạng về việc kiểm soát vốn
vào năm 1970 và 2007. Nhìn chung cả hai đường đều có 2 chóp đỉnh, chóp đỉnh bên âm
thể hiện tập trung các nước kiểm soát vốn chặt chẽ còn chóp đỉnh bên dương thể hiện tập
trung chủ yếu các nước hoàn toàn hội nhập tài chính. Biểu đồ này sẽ cho ta chúng ta một
khung tham khảo để giải thích thông tin từ cơ sỡ dữ liệu Chinn-Lto.
16
Cở sở dữ liệu Chinn-Ito cho thấy sự bãi bỏ kiểm soát tài chính diễn ra trên toàn thế giới.
Hình 5.1 đã cho thấy điều đó trên tất cả nền kinh tế năm 1970 và 2007. Trong tất cả hai
năm đều có hai chóp đỉnh: một chóp chủ yếu tập trung các nước kiểm soát nguồn vốn,
một chóp chủ yếu tập trung các nước tự do vốn. Điều này đã thể hiện rõ một sự thay đổi
chung từ việc kiểm soát nguồn vốn sang tự do vốn. Vào năm 1970 có 1 chóp đỉnh rất cao
xoay quang giá trị -1 nhưng sang 2007 thì chóp đỉnh đã giảm hẳn. Ngày nay sự phân bố
này càng đều hơn với giá trị các nền kinh tế kiểm soát nguồn vốn và tự do vốn tương
đương nhau.
Hình 5.2: Sự phát triển độ Chinn-Ito của các nước Châu Á -11
Biểu đồ thể hiện giá trị trung bình qua từng năm của biện pháp Chinn-LTO của các nền
kinh tế Asia 11. Dòng màu xanh thể hiện sổ liệu của toàn cầu còn dòng màu đỏ thể hiện
số liệu của các nền kinh tế Châu Á 11. Kết quả cho thấy những nằm gần đây chỉ số về
việc tự do vốn của các nước Châu Á 11 đã gần hơn so với thế giới. Điều này đã làm đảo
ngược xu hướng chung là “kiểm soát nguồn” của các nước Châu Á trong nhiều thập kỉ
trước. Nhìn chung thì thông qua biểu đồ ta có thể kết luận các nước Châu Á đã hội nhập
hơn so với các nước trên thế giới.

Quốc cũng có mặt ở -1,13 đến năm 2000. Điều này ảnh hưởng chủ yếu bởi chính
sách tự do hóa tài khoản vốn, và vào năm 2007, bằng biện pháp của mình đã tăng
lên 0,18.
18
5.1.2. Sự mở cửa tài khoản vốn trong thực tế
5.1.2.1. Bằng chứng từ dòng Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Tỷ số thương mại/GDP được định nghĩa là tổng hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu, được
thể hiện dưới dạng phần trăm của GDP. Tỷ số này đo lường sự mở cửa của thương mại.
Một phần mở rộng đơn giản của ý tưởng này là tỷ số giữa tổng các dòng vốn xuyên biên
giới trong cán cân thanh toán (BOP) so với GDP. Tỷ lệ này đo lường sự hội nhập tài
chính.
Khả năng ảnh hưởng của ngân hàng trung ương đến tỷ giá hối đoái dựa vào khối lượng
dòng vốn chảy qua biên giới xảy ra trong thị trường ngoại hối. Kể cả giao dịch ròng trong
năm, thanh toán nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu, và các dòng vốn ảnh hưởng đến tỷ giá
hối hoái trên cơ sở hằng ngày. Ngoài ra, trong khi các dòng chảy tổng bao gồm cả tài
khoản vãng lai và các giao dịch tài khoản vốn, lớn hơn các giao dịch tài khoản hiện tại có
19
thể bao hàm sự mở rộng hơn tài khoản vốn, do có thể chuyển nhượng vốn qua biên giới
thông qua giao thương thương mại. Patnaik, Sengupta, và Shah (2009) đã chỉ ra rằng giao
thương thương mại lớn hơn xảy ra khi tài khoản vãng lai lớn hơn, và hoạt động như một
cơ chế để phá vỡ các biện pháp kiểm soát vốn. Patnaik and Shah (sắp xuất bản) đã bất
ngờ khám phá ra được rằng hội nhập tài khoản vãng lai trên thực tế đã làm phát sinh các
tập đoàn kinh tế đa quốc gia đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Các tài liệu có liên
quan khác đã nhấn mạnh liên kết hai chiều giữa việc mở rộng tài khoản vốn và tài khoản
vãng lai (Aizenman 2003; Aizenman and Noy 2004). Vì thế chúng tôi quan sát tổng các
dòng chảy thương mại và tài khoản vốn như là một cách đo lường sự toàn cầu hóa của
một nền kinh tế. Điều này đưa cả thương mại và hội nhập tài chính vào tài khoản.
Hình 5.3 cho thấy làm thế nào mà biện pháp toàn cầu hóa này đã phát triển qua thời gian
của khu vực Châu Á ( trừ Việt Nam, vì dữ liệu không có sẵn). Việc mở cửa trung bình
tăng từ khoảng 100% GDP năm 1998 lên khoảng 160% GDP trong năm 2008. Các giá trị

này đã phát triển một cơ sở dữ liệu về bảng điều khiển phát triển tài chính trong 26 nền
kinh tế mới nổi. Cơ sở dữ liệu này thì bao gồm tất cả các nền kinh của Asia 11 (ngoại trừ
Việt Nam ) Các giá trị này chạy từ 0 tới 1: 0 là các nước có nền tài chính kém phát triển,
1 là các nước có nền tài chính phát triển.
Hình 5.4: thể hiện giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer-Circel, and Santabarbara
(2009) để đo sự phát triển tài chính tại khu vực Châu Á.
Dorrucci, Meyer-Circel, and Santabarbara (2009) báo cáo một bảng thống kê về sự phát
triển của nhiều nền kinh tế trong nhiều năm. Con số này báo trên 2 vị trí ước lượng ( giá
trị trung bình và trung vị ) cho các nền kinh tế Châu Á-11 từ 1990-2005. Có một sự suy
giảm rõ rệt về tình hình tài chính của khu vực ngay sau khung hoảng kinh tế Châu Á. Từ
năm 2000 trở đi thì cải thiện rỏ rệt.
Hình 5.4 là biểu đồ xu hướng của điểm số trung bình về nền tài chính của Châu Á. Thông
tin của Dorrucci, Meyer-Circel, and Santabarbara (2009). Ở cả hai đương chúng ta đều
thấy sự tăng trưởng của hệ thống tài chính trước cuộc khủng hoảng. Từ năm 2000 trở đi cả
hai đường đều co xu hướng tăng. Bảng 5.3 cho ta thấy được giá trị về chỉ số của cách đo
lường này đối với Ấn Độ , Hàn Quốc , Trung Quốc và trung bình của 11 nền kinh tế Asia-
11 nền kinh tế Châu Á vươn tới đỉnh vào năm 1995 với điểm là 0.55. Tất cả đều giảm
trong cuộc khủng hoảng và vào năm 2000 là 0.45. Vào năm 2001 các nền kinh tế Châu Á
đã đạt lại giá trị trung bình và 2006 đạt 0.51. Biểu đồ này cho ta thấy khả năng kiểm soát
vốn hiệu quả vào khoảng năm 1998. Năm 2004 số điểm của hệ thống tài chính thấp.
22
Bảng 5.3 đo chỉ số phát triển của hệ thống taì chính. Báo cáo của Dorrucci, Meyer-Circel,
và Santa barbara (2009) cho biết chỉ số phát triển tài chính của các nền kinh tế qua nhiều
năm. Bảng báo cáo này cho biết tinh hình của Ấn Độ ,Trung Quốc, Hàn Quốc và trung
bình của 11 nước Asia. Trong tất cả các trường hợp, đã có một sự cải thiện tích cực
nhưng khiêm tốn giữa 2000-2006. Tuy nhiên, Ấn Độ và Trung Quốc tiếp tục tụt
hậu so với trung bình của châu Á-11, và nền kinh tế thậm chí khá cao cấp như Hàn
Quốc vẫn tụt hậu so với các nền kinh tế OECD như Vương quốc Anh.
5.1.2.3. Bằng chứng từ cơ sở dữ liệu của Lane và Milesi-Ferretti:
Phương pháp thứ hai để đo chỉ số hội nhập kinh tế của nền kinh tế sử dụng số liệu từ cơ sở

Quốc thì có giá trị kiêm tốn hơn 58%, 103%, 109%. Tương ứng năm 2000-2004 hôi nhập
tốt hơn nên chỉ số thay đổi là 16%,18%,26%,22% của GDP India, PRC, Korea và trung
bình 11 nền kinh tế Asia.
25

Trích đoạn Chính sách tiền tệ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status