NGƯỜI KỂCHUYỆNTRONG TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------------
HÀ HUY DŨNG
NGƯỜI KỂ CHUYỆNTRONG
TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT
NGUYỄN KHẢI
Chuyên ngành: Lí luận Văn học
Mã số: 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TSKH. LÊ NGỌC TRÀ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007


sử văn học Việt Nam hiện đại, trong sự vận động
và phát triển, thành tựu của văn xuôi Việt Nam thời chống Mĩ, thời kì đổi mới, giới nghiên cứu
phê bình luôn đặt Nguyễn Khải ở vị trí hàng đầu của lớp nhà văn cách mạng. Ông là một trong
những người khơi nguồn cho văn xuôi tự sự Việt Nam thời kì đổi mới với cảm hứng “tinh thần
dân chủ và nhâ
n bản”. Tác phẩm của ông phản ánh được những tìm tòi thể nghiệm, những trăn
trở của văn xuôi hiện đại Việt Nam.
Nguyễn K
hải tự nhận mình là “giọt nắng nhạt” nhưng trang viết của ông luôn đậm nồng hơi
thở cuộc sống, kịp thời đem đến cho người đọc nhiều lí giải đúng đắn và khêu gợi suy nghĩ về
những vấn đề xã hội đa
ng đặt ra trong cuộc sống. Vương Trí Nhàn viết: “Ông là một trong những
nhà văn dẫn đầu của thời đại (…). Muốn tìm hiểu con người thời đại trong tất cả cái hay cái dở
của họ, nhất là muốn hiểu cch nghĩ của họ, đời sống tinh thần của họ, phải đọc Nguyễn Khải.”
[91, tr.121].
Nguyễn Khải sớm định hì
nh một dòng viết “đón bắt những vấn đề đan
g đặt ra trong cuộc
sống hôm nay, của cái ngày mai rất gần”. Ông không ngừng tự vượt lên chính mình “tự làm mới
mình” trong hành trình lao động nghệ thuật. Một nhà văn có quan niệm “nghệ thuật là khoa học
thể hiện lòng người”, nên các sáng tác của ông đều có những đóng góp đáng kể trong tiến trình
phát triển văn xuôi hiện đại.
Để truyền tải quan điểm nghệ thuật của m
ình, Nguyễn Khải đã thay đổi sâu sắc từ diện mạo
đến tâm lí nhân vật, nhất là người kể chuyện. Nhân vật người kể chuyện dưới ngòi bút của
Nguyễn Khải mang dáng dấp hình tượng con người nhà văn, nhà báo say sưa khám phá những bí
ẩn cuộc đời. Theo ông đây là “cuộc tìm kiếm mãi mãi” không ngừng nghỉ và hấp dẫn của sáng
tạo văn học. Có lẽ vì thế mà nhà văn Nguyễn Khải là người được trao rất nhiều giải thưởng văn
học. Ngay từ tác phẩm vào nghề, truyện vừa Xây dựng (
1952) được giải khuyến khích về truyện

Nghiên cứu về Nguyễn Khải và các sáng tác của Nguyễn Khải từ trước cho đến nay đã có
khá nhiều c
ông trình nghiên cứu. Chúng ta có thể kể một số nhà nghiên cứu và phê bình quen
thuộc gắn liền với các sáng tác của Nguyễn Khải như Lại Nguyên Ân, Hà Minh Đức, Phan Cự
Đệ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Thị Huệ, Đoàn Trọng Huy, Chu Nga, Vương Trí Nhàn, Đào
Thuỷ Nguyên, Huỳnh Như Phương,
Trần Đình Sử, Bích Thu, Đinh Quang Tốn ... Tuy nhiên, các
tác giả trên mới chủ yếu đi sâu vấn đề Nguyễn Khải với những chặng đường văn học gắn với dân
tộc và thời đại; sức chinh phục của các sáng tác của Nguyễn Khải đối với độc giả cũng như và
chuyện văn chuyện đời của ông.
Hầu như cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về “Người kể chuyện”

trong sáng tác của Nguyễn Khải. Nếu có thì cũng chỉ là một vài ý kiến lẻ tẻ về phương thức trần
thuật, về giọng điệu, về ngôn ngữ kể chuyện, về ngôi kể của chủ thể kể chuyện.
Chúng ta có thể điểm qua một số nhận định về phương diện này trong nghệ thuật trần thuật
của nhà văn Nguyễn K
hải trong sáng tác qua các thời kì như sau:
Về phương thức trần thuật: Đây là vấn đề được bàn tới nhiều nhất trong giới nghiên
cứu phê bình khi nói về nghệ thuật sáng tác của Nguyễn Khải. Ngay từ những năm đầu của
thâp niên 60 của thế kỉ trước, khi Nguyễn Khải mới bắt đầu cho ra mắt những tác phẩm
đầu tay, bắt đầu xá
c định vị trí của mình trên văn đàn, GS. Nguyễn Văn Hạnh (1964) trong
bài “Vài ý kiến về tác phẩm của Nguyễn Khải”, Tạp chí Văn học, số 9. GS.viết: “tác giả
có nhiều lúc bỏ lối tả mà chạy theo lối kể” [57, tr. 61]. Cũng bàn về vấn đề này, nhà nghiên
cứu Vương Trí Nhàn (1996) trong bài “Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học cách
mạng từ sau 1945”, đã phát hiện: “Vẫn thích lối kể hơn tả. Vẫn không để ý nhiều tới cốt
truyện, cái hình dáng của câu chuyện,
mà tập trung vào việc làm nổi bật nhân vật, một kiểu
người, một cách sống. Vẫn có một giọng văn vừa tự nhiên, vừa duyên dáng, cái duyên
dáng dân dã, chứ không phải do làm điệu làm dáng mà có. Dẫu sao, cho đến hôm nay,

123]. Chúng ta có thể nói, Nguyễn Khải là một nhà văn có giọng điệu riêng không ai sánh
được mà cũng không ai học được.
Về ngôn ngữ kể chuyện: Nguyễn Khải là người đặt nền móng về sự cách tân văn
xuôi tự sự Việt Nam “đa thanh”, “đa giọng điệu”. Lê Thành Nghị (1985) với bài viết “Gặp
gỡ cuối năm”, một tiếng nói nghệ thuật khẳng định cuộc sống” đã khẳng định “Một
trong những biểu hiện tài năng của Nguyễn Khải là nghệ thuật kể chuyện, là cách sử dụng
ngôn ngữ đối thoại đầy thuyết phục (...), trong đó tiếng nói của người dẫn truyện – người
“vắng mặt” trong cuộc gặp gỡ, như tiếng nói của một thầy phù thuỷ cao tay đang điều
khiển âm binh trước mặt” [57, tr. 335].
Về ngôi
kể của chủ thể ke chuyện: Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định nhân vật “tôi” là
một sáng tạo riêng, đặc sắc của Nguyễn Khải về kiểu con người tự ý thức trong văn học
những năm đổi mới. Đinh Quang Tốn (1998) trong bài “Nguyễn Khải với Hà Nội”, có
nhận xét: “Tác giả lại dùng phương pháp kể chuyện ngôi thứ nhất (tôi) làm cho người đọc
cuốn hút, hấp dẫn như tất cả những chuyện đó là c
ó thực, từ những chuyện trong cuộc đời
tác giả, xung quanh tác giả mà tác giả đều chứng kiến, chỉ kể lại mà thôi” [57, tr. 376].
Nguyễn Thị Bình (1998) trong bài “Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết”, đã phát hiện:
“Có một người kể chuyện đóng vai tác giả là nhà văn, nhà báo, là “Chú Khải”, “Ôn
g
Khải”... cùng với rất nhiều chi tiết tiểu sử như biểu hiện nhu cầu nhà văn muốn nói về
mình, muốn coi mình là đối tượng của văn chương. Người ấy biết lắng nghe, biết thán
phục, đồng thời cũng biết “bợp tai” thiên hạ. Người ấy biết tự thú, biết khiêm nhường, đặc
biệt là biết rõ chỗ non kém của mình” [141]. Gần đây, Lê Thị Hồ Quang (1999) có bài viết
“Nhân vật “t
ôi”trong truyên ngắn Nguyễn Khải từ sau 1980” đã đưa ra nhận xét: “Đó là
mot cái “tôi” đầy ý thức, luôn tự phân tích, xét nét và không ngần ngại “chường mặt” trên
trang viết”, “Cho nên, trong tác phẩm, nhân vật “tôi” hiện lên như một con người già dặn,
từng trải tuổi đời, tuổi nghề, nhưng lại rất “trẻ” trong cách nhìn đời, nhìn người” [109, tr.
117]. Vương Trí Nhàn khẳng định: “trong những trường hợp thành công nhất của mình,

5- Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm v
i của luận văn, chúng tôi chỉ nghiên cứu Người kể chuyện chứ không nghiên
cứu toàn bộ nghệ thuật trần thuật trong sáng tác Nguyễn Khải.
6- Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài, người viết hướng tới việc giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Tìm hiểu khi niệm n
gười kể chuyện, lm r nội hm khái niệm này và xem đó là chìa khĩa để
mở đối tượng nghin cứu, nhận diện nĩ trong tác phẩm Nguyễn Khải.
- Khảo st thống k, miu tả hình tượng người kể chuyện từng truyện và tiểu thuyết của
Nguyễn K
hải, trên cơ sở đó đưa ra ý kiến bình luận, đánh giá phong cách nghệ thuật của Nguyễn
Khải.
7- Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, người viết sử dụng phối hợp các phương
pháp nghiên cứu sau đây:
7.1. Phương pháp hệ thống
Khối lượng tác phẩm của Nguyễn Khải rất nhiều, chúng tôi sử dụng phương pháp hệ
thống. P
hương pháp này là một trong những phương pháp bao trùm trong thi pháp học. Đây
là một trong những phương pháp cơ bản trong nghiên cứu thi pháp học. Sử dụng phương
pháp này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu truyện và tiểu thuyết Nguyễn Khải như là những
chỉnh thể nghệ thuật thống nhất giữa yếu tố nội dung và nghệ thuật. Hơn nữa, khi sử dụng
phương pháp này, chúng tôi muốn khái quát các hình thức chủ thể người kể chuyện thành
một m
ô hình, trong đó có sự thống nhất hữu cơ các yếu tố, từ đó, giúp người đọc nhận thức
vấn đề người kể chuyện đầy đủ, toàn diện và khoa học hơn.
7.2. Phương pháp thống kê, phân loại
Đề tài bao quát toàn bộ văn xuôi tự sự của Nguyễn Khải, do đó chúng tôi vận dụng phương
pháp thống kê kết hợp với phương pháp phân loại, nhằm chỉ ra các loại hình người kể chuyện và

cơng trình nghin cứu sau làm tư liệu tham khảo.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn sẽ được triển khai trong ba
chương:
Chương 1 : Các hình thức xuất hiện của chủ thể kể chuyện trong truyện và tiểu thuyết
Nguyễn K
hải.
Chương 2: Hình tượng người kể chuyện trong truyện và tiểu thuyết Nguyễn Khải.
Chương 3: Tác giả và người kể chuyện trong truyện và tiểu thuyết Nguyễn Khải.

Chương 1: CC HÌNH THỨC XUẤT HIỆN CỦA CHỦ THỂ KỂ CHUYỆNTRONG
TRUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI
1.1. KHÁI NIỆM NGƯỜI KỂ CHUYỆN
Văn học là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan. Mỗi tác phẩm văn học là một
mảng hiện thực đời sống muôn màu của con người, được thể hiện qua cái nhìn, qua cảm
nhận đá
nh giá mang tính chất chủ quan của nhà văn. Tác phẩm văn học ba
o giờ cũng chứa
đựng một thái độ tư tưởng, lập trường quan điểm và sự sáng tạo nào đó của nhà văn đối
với đời sống.
Mỗi thể loại văn học đều c
ó những nguyên tắc riêng trong việc tái hiện và chiếm lĩnh
hiện thực. Trong tác phẩm trữ tình, đó là nguyên tắc chủ quan - “nguyên tắc tái hiện và
thuyết phục người đọc” [72, tr. 732]. Ngược lại, trong tác phẩm tự sự, nguyên tắc khách
quan lại là nguyên tắc cốt lõi. Nguyên tắc khách quan trong tác phẩm tự sự góp phần qua
n
trọng trong việc xác lập hệ giá trị của tác phẩm. Tác phẩm tự sự từ đầu đến cuối do tác giả
viết, nhưng lại được kể từ một người nào đó. Người đứng ra kể trong tác phẩm tự sự được
gọi bằng các tên như người trần thuật, người thuật chuyện, người dẫn chuyện, người kể
chuyện, chủ thể trần t

à hoạt động hội thoại giữa người kể
chuyện và người nghe kể. Người kể co thể kể về mình (kể về ngôi thứ nhất), hoặc kể về
người khác (ngôi thứ ba), cũng có thể kể về ngôi thứ hai (kể về người nghe).
Người kể chuyện xuất hiện trong tác phẩm có nhiều dạng, hoặc vô hình hoặc lộ diện
với nhiệm vụ dẫn dắt, miêu tả và
kể lại diễn biến đầu đuôi câu chuyện. Anh ta như là chiếc
cầu nối tạo mối quan hệ trung gian giữa nhân vật - người kể chuyện - độc giả. Người kể có
thể dừng mạch kể để phân tích, bình luận những thay đổi của hoàn cảnh, diễn biến tâm lí
của nhân vật. Người kể chuyện có vai trò lớn “Trong tác phẩm tự sự, vấn đề người kể
chuyện có ý nghĩa hết sức qu
an trọng. Nhờ hình thức tường thuật, tác giả có thể trực tiếp
phát biểu những cảm nghĩ, nhận xét của mình về nhân vật, về sự kiện được mô tả và về
cuộc đời chung” [135, tr. 154]. Truyện có nhiều chủ thể kể chuyện, có vai trò không giống
nhau. Đó là ý đồ của nhà văn trong việc mở rộng điểm n
hìn. Từ nhiều góc độ nhìn khác
nhau về nhân vật, về sự kiện sẽ tạo điều kiện cho độc giả ít bị lệ thuộc vào cái nhìn, cũng
như lập trường quan điểm của tác giả. Vì thế, truyện kích thích đến mức cao nhất khả năng
cảm thụ “nghiền ngẫm độc lập” của độc giả, hơn nữa tránh được lối kể đơn điệu, cố định,
ít đổi giọng trong suốt tác phẩm.
1.1.
2. Các hình thức xuất hiện của chủ thể kể chuyện
Trong tác phẩm tự sự, chủ thể kể chuyện có thể xuất hiện dưới các hình thức sau: 1/. Chủ
thể kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba (vô nhân xưng); 2/. Chủ thể kể chuyện
kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất (lộ diện).
Kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba, chủ thể hoà
n toàn ở ngoài cốt truyện,
không thuộc vào thế giới của các nhân vật truyện, mà chỉ thực hiện nhiệm vụ theo dõi nhân vật,
dẫn dắt, đứng sau hành đông để quan sát và kể lại, không trực tiếp tham gia vào sự kiện, biến cố
truyện. Do tính chất hướng ngoại của nhân vật nên điểm nh
ìn của chủ thể kể chuyện hầu hết là từ

chuyện người khác, hoặc cùng tham gia kể chuyện với các nhân vật, hoặc chủ động ủy quyền ch
o
nhân vật tự kể. Chủ thể kể chuyện được cá thể hóa. “Tôi” chủ thể kể chuyện là một trong các
nhân vât của truyện, là người bình luận từ bên trong, đồng thời cũng là người tham gia sự việc
đang diễn ra. Điểm nhìn của chủ the kể chuyện hầu hết hướng nội do tính chất hướng nội của
nhân vật. Ở vị trí điểm nhìn này, nhân vật được soi rọi từ bên trong, chủ thể kể dễ dàng tái hiện
sinh động thế giới tâm hồn nhân vật, chủ động đối thoại để nhân vật phải nói lên ý nghĩ của mình.
Khi chủ thể kể chuyện hướng nội xưng “tôi” ngôi thứ nhất thì điểm
nhìn của chủ thể kể chuyện
và nhân vật trùng nhau, người kể trở thành nhân vật chính của truyện. Người đọc khó phân biệt rõ
ràng nhân vật nói hay người kể ch
uyện nói. Trường hợp chủ thể kể chuyện đóng vai trò dẫn dắt
câu chuyện thì người kể chuyện chỉ là một hình tượng giả định, được tác giả sử dụng làm người
trung gian tưởng tượng ra giúp người đọc về cái được miêu tả. Chủ thể kể luôn giữ vai trò trung
gian của một người đã chứng kiến sự việc, hạn chế tới mức tối đa việc bộc lộ cảm
xúc để tạo điều
kiện cho câu chuyện được kể mang tính khách quan. Trường hợp chủ thể kể chuyện xưng “tôi”
kể lại một câu chuyện mà trong đó anh ta vừa là người dẫn chuyện vừa là một nhân vật thì cái
“tôi” của người kể có mức độ cá thể hóa cao. Tác giả nhập vào chủ thể “tôi” với vai trò người
dẫn, vừa đóng vai nhân vật xuất hiện cùng với các nhân vật khác trong truyện, vừa chứng kiến
vừa tham gia nói chuyện với các nhân vật truyện. Trường hợp chủ thể kể chuyện xưng “tôi” vừa
kể chuyện vưa bình luận thì chủ thể kể chuyện không phải là nhân vật truyện, anh ta chỉ song
song đồng hành với nhân vật chính, gần gũi với nhân vật chính, đôi khi nhập vào đời sống nhân
vật để suy tưởng. Có thể nói, trong tác phẩm tự sự, chủ thể kể chuyện xưng “tôi” với ngôi thứ
nhất (lộ diện) xuất hiện với nhiều kiểu dạng khác nhau. C
hính kiểu trần thuật “chủ quan hóa” với
ngôi thứ nhất xưng “tôi”, lời của chủ thể kể chuyện làm cho tác phẩm tư sự trở nên đa thanh, đa
giọng điệu.
1.2. CÁC HÌNH THỨC XUẤT HIỆN CỦA CHỦ THỂ KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN VÀ
TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI

quan st vừa đóng vai trò dẫn dắt v kể lại những gì thấy được. Hay ở truyện Nằm vạ (1956), với lối
nu vấn đề, truyện cho thấy một kiểu dạng giáo dân mù quáng, tiếp tay cho bọn phản động, tìm
cách phá hoại chế độ mới. Hoặc truyện Đi tới (1958) là chuyện có lối kể theo diễn biến tâm lí, lối
tự sự hay rẽ ngang khi trình bày vấn đề. Cũng hình thức chủ thể kể chuyện kiểu “khách quan
hóa”, tiểu thuyết Một chặng đường (1961 - 1963) lại sử dụng lối kể chuyện khách quan đảo lộn
trình tự thời gian kết hợp lối kể rẽ ngang, giúp cho người đọc có được ấn tượng về một chặng
đường kháng chiến chống thực dân Pháp, đấu tranh với những thế lực phản động đội lốt tôn giáo
để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.
Hiện thực cuộc đấu tranh c
hống Mĩ cứu nước được thể hiện rất sinh động trong truyện Đi
tới, Đường trong mây, Ra đảo… Trong tiểu thuyết Đường trong mây (1969) chủ thể kể tỏ thái độ
ngợi ca những chiến công thầm lặng của cán bộ và chiến sĩ công binh làm nhiệm vụ mở đường,

từ đó hướng người đọc cùng cắt nghĩa những vấn đề đạo đức lối sống, niềm tin và lí tưởng của
con người trong hoàn cảnh chiến tranh. Trong tiểu thuyết Ra đảo (1970) người kể tập trung quan
sát nhân vật ở điểm nhìn hướng nội để làm nổi bật tâm lí chịu đựng những khó khăn gian khổ
cũng như niềm lạc quan của quâ
n dân vùng Vĩnh Linh. Ở tác phẩm này, người kể đã chú ý khai
thác diễn biến tâm lí nhân vật, nhưng chưa đi sâu mổ xẻ thế giới nội tâm nhân vật.
Truyện Sư già chùa Thắm và ông đại tá về hưu (1993) là truyện kể ở ngôi thứ ba nhưng lại
trao cho nhân vật quyền kể chuyện. Đây là truyện kể có nhiều cách tân so với lối kể chuyện
truyền thống. Chủ thể kể chuyện vẫn tỏ thái độ khách quan, chủ động trao điểm
nhìn và quyen
trần thuật cho nhân vật: Sư già kể, ông đại t kể. Người kể thản nhiên ghi lại những điều chứng
kiến, không bộc lộ trực tiếp tư tưởng tình cảm của mình đối với nhân vật. Do đó, hiện thực được
phản ánh hoàn toàn cĩ tính khách quan và gây được ấn tượng cho người đọc.
1.2.1.2. Có bình luận và trữ tình ngoại đề
Nếu ở hình thức người kể chuyện ẩn dạng không bình luận, trữ tình ngoại đề, người kể
chuyện không để lộ mình, thì ở dạng có bì
nh luận ngoại đề người kể lại không giấu mình qua lời

chống m
ê tín tôn giáo và niềm tin tôn giáo. So với tiểu thuyết Một chặng đường thì Xung đột, có
nhiều thành công hơn về khả năng mổ xẻ tâm lí nhân vật, xây dựng được nhiều nhân vật có tính
cách rõ ràng. Tuy nhiên, người kể thường lấn át nhân vật, áp đặt một lối nghĩ, khi vấn đề được
giải quyết thì nhân vật thường bị bỏ quên, có xu hướng mờ nhạt dần sau các sự kiện biến cố của
truyện. N
gười kể ít quan tâm đến những biến cố của câu chuyện, chỉ thuật lại cảnh ngộ của các
nhân vật một cách khách quan theo nguyên tắc không tham gia vào chuyện của bất cứ nhân vật
nào. Nhưng đôi lúc khó giữ được cảm xúc của mình trước nhân vật nên đã đưa ra lời bình luận,
lời trữ tình ngoại đề: “Năm năm chờ đợi và năm năm đã đi qua. Nước da của Huệ nhạt tái, quầng
mắt thâm đen, bàn tay gầy guộc, run rẩy và mớ tóc xanh mượt của t
uổi xanh cũng không còn nữa
(…) chị bước chân vào nhà tu với những khát vọng trần tục, nay ngọn lửa của hi vọng bắt đầu
tàn rụi, thì còn đâu sức mạnh chịu đựng khổ ải ngày thêm nặng nề” [48, tr. 216]. Từ lời trữ tình
thương tâm kia, người đọc hiểu rõ hơn bi kịch của nhân vật Huệ. Về niềm tin tôn giáo trong nhân
vật Mẫn, qua lời bình luận sắc sảo: “Tôn giáo và văn hóa quả thực có nhiều điều không thể đứng
cạnh nhau được. Chẳng lẽ lại giảng là trái đất vuông, qua lớp mây xanh kia là thiên đàng,

Chúa và thiên thần ngự trị, hoặc dưới lòng quả đất này là xứ sở tung hoành của quỷ Lu – xi –
phe. Chẳng lẽ nói cây lúa mọc lên là do ý Chúa, chứ không phải là do sự phát triển biện c
hứng
của nó. Chẳng lẽ nói con người ta là đất bụi hèn hạ, chứ không phải là sinh vật cao quí. Chẳng lẽ
khuyên người ta nhẫn nhục chịu đựng, chứ không phải là dũng cảm đấu tranh. Một đằng dìm con
người xuống, một đằng nâng con người lên. Một đằng mê muội con người, một đằng làm cho con
người trở nên sáng suốt, biết sống một cách có ý thức. Và có thể lấy thêm hàng nghìn ví dụ khác
về sự đối lập không s
ao dung hòa được” [48, tr. 281]. Người đọc sẽ hiểu nhân vật Môn hơn qua
lời trữ tình ngoại đề: “Ngày hôm nay với bao khó khăn và hi vọng! Một trật tự cũ bị tháo tung ra
và một trật tự mới đang được tổ chức lại. Những thói quen cũ bi sụp đổ và những thói quen mới
đang hình thành. Phá hủy và xây dựng. Chấm dứt và mở đầu. Có lẽ sau này người ta không phải

ác của những kẻ cầm đầu giáo hội được bóc tran.
Cuộc sống mới và sự hồi sinh trên nông trường Điện Biên đư
ợc thể hiện cảm động trong
tập truyện Mùa lạc. Truyện Mùa lạc (1959) tiêu biểu cho sự cách tân ngôi kể thứ ba của Nguyễn
Khải. Người kể chuyện vô hì
nh đã nhập vai vào thế giới nội tâm nhân vật, đứng cùng bình diện
với các nhân vật khác trong tác phẩm. Điểm sáng tạo đáng nói trong tác phẩm này là việc di
chuyển điểm nhìn của tác giả linh hoạt, nhuần nhuyễn. Nhân vật có tiếng nói riêng vừa sắc sảo
vừa mang cá tính độc đáo. Người kể không chỉ trần thuật theo con mắt của người ngoài cuộc
chứng kiến, rồi kể lại mà cịn di chuyển điểm
nhìn vào bên trong nhân vật, nhập vai cùng nhân vật
để kể. Từ lối kể chuyện nêu vấn đề, khai thác đường dây tâm lí, đảo trật tự trần thuật: hiện tại –
quá khứ – hiện tại nên truyện đã tái hiện rất sinh động cuộc sống mới. Nông trường Điện Biên l
nơi chị Đào có được tình yêu và hạnh phúc: “Nhưng khi gập lá thư lại thì một cảm giac êm đềm
cứ lan nhanh ra, như mạch nước ngọt rỉ thấm vào những thớ đất khô cằn vì nắng hạn, một nỗi
vui sướng kì lạ dào dạt không thể nén lại nổi, khiến người chị ngây ngất, muốn cười to một tiếng,
nhưng trong mí mắt lại như đã mọng đầy nước chỉ định trào ra” [62, tr. 129]. Lời ngoại đề thấm
đẫm chất trữ tình đã diễn tả được chiều sâu thế giới tâm hồn, thức tỉnh c
on người tự vượt qua
chính mình.
Truyện Đứa con nuôi (1960) là truyện kể về hoàn cảnh đứa trẻ mồ cô
i. Người kể dõi theo
câu chuyện của hai bác cháu, rồi đưa ra lời bình luận: “Nó kể cái câu chuyện không lấy gì làm vui
ấy với vẻ mặt bình thản. Đối với nó những hành động tàn nhẫn của người khác không có gì là lạ
lùng, họ vốn là như thế, còn nó, nó sinh ra để mà
chịu đựng và chỉ ước sao mau lớn lên, khỏe
mạnh ra để chịu đựng được bền bỉ hơn. Ở đời này làm gì có được mấy người tốt, còn đời nó thì
chắc là không thể sung sướng như người khác được”. Mạch kể dồn nén nhiều sự kiện chi tiết,
nhiều đoạn trữ tình ngoại đề đan xen làm cho giọng điệu truyện giàu chất trữ tình: “Nó ở với chị
thấm thoắt được gần bốn tháng. Nó đã đem lại cho cuộc sống cô quạnh của chị những niềm vu

đối với Thi: “Anh ưa thích cùng một lúc đạt được nhiều mục đích…”. Phải chăng “tuổi trẻ có
nhiều việc cần phải làm, nhiều mục đích phải vươn tới? Anh muốn mình thuộc về mọi người và
mọi người phải yêu mến mình. Anh sống vì triển vọng đẹp đẽ, chứ không thể sống vì vợ, vì hạnh
phúc riêng lẻ.” [62, tr. 58]. Người kể phê phán Giao thiếu chín chắn với lời mỉa mai: “Anh ưa
được hưởng thụ mà k
hông muốn mình phải trả lại, anh mong muốn người khác san sẻ cho mình
nhiều tình yêu thương, nhiều sự săn sóc, nhưng bản thân anh tính toán chi li và hết sức tằn tiện
san sẻ cho người khác” [53, tr. 111]; đối thoại với bạn đọc: “Ôi chao! Một con người trai trẻ,
nhiều tài năng và đầy triển vọng như anh lại là một thằng ích kỉ thật sao?” [53, tr. 122].
Truyện Tầm nhì
n xa (1963) được mở đầu bằng cách nêu vấn đề. Năm 1959, một công
trường lấy 160 mẫu đất thuộc xã Đồng Tiến để xây dựng nhà máy bị xã viên phản ứng: “Nông
dân sống vì đất chứ không sống vì tiền” [62, tr. 245]. Từ đây, người kể chuyện ẩn mình dõi theo
con người phĩ chủ nhiệm đầy mưu mẹo, xảo trá. Tuy Kiền làm những chuyện động trời, khiến
cán bộ thiếu tỉnh táo vạ lây, nhưng: “Tuy Kiền vẫn tiếp tục sống cuộc đời vui vẻ và vô tư lự của
mình”. Người kể không hề xuất đầu lộ diện, vẫn vô ca
n trước những sự kiện biến cố truyện. Cách
dẫn dắt nhân vật vào những tình huống, vào những ngã rẽ, buộc nhân vật tự mình biểu lộ tính
cách đến chân thực. Điểm mới của truyện l việc vận dụng lời độc thoại đan xen với đối thoại, lời
bình “Nhưng các anh đừng có nghĩ rằng sở dĩ tôi phải bám lấy cái chức vụ hiện nay để tiện bề xà
xẻo đâu. Chính cái chức vụ này nó buộc tôi nhiều chứ, dù có làm gì, nói gì cũng phải nghĩ tới
mình còn l
à anh phó chủ nhiệm… Sở dĩ tôi phải lăn vào với hợp tác xã, vì tôi không thể ngồi đấy
mà nhì
n anh em khác hoạt động được. Cơm ăn đủ rồi, áo đủ mặc rồi, con cái nhà cửa đề huề,
thật tình chẳng phải ao ước gì nhiều nữa, chỉ còn mong được đóng góp cho phong trào, cho xã,
được hoạt động cùng với các anh. Nó là nguồn vui của tôi, sống chết cũng phải gắn bó với nó.
Trừ phi các anh bảo với tôi rằng: Mày là thằng tham ô, là thằng phá hoại, chúng tao không cần
đến mày!” thì tôi đành phải lạy các anh lui về giữ nhà, trông con…” [62, tr. 274]. Truyện dựng
lại toàn cảnh hiện t

về Người trở về.
Trong tiểu thuyết Chủ tịch huyện (1971) người kể đặt ra vấn đề: phẩm chất đạo đức cách
mạng, năng lực chỉ đạo của người cán bộ nông thôn trong tình hình mới. Người kể tỏ th
ái độ
khách quan nhưng giọng điệu lại tâm tình gợi cảm: “Chúng ta đánh giặc đã nhiều đời nên giặc
đến ai cũng đánh được, đánh rất thạo rất quen (…) sản xuất n
hỏ thì quen nhưng theo một qui mô
lớn thì chưa quen, chưa làm bao giờ nên chưa quen” [48, tr. 434]. Tác phẩm này có hạn chế
giống tiểu thuyết Xung đột, đó là người kể thường nói hết biết hết, thậm chí nói thay cho nhân
vật, nên nhân vật chưa thật sự sinh động.
Bao trùm
lên truyện Đất mỏ (1995) là một giọng kể buồn của người kể. Một gia đình công
nhân mỏ, sống quanh năm im lặng và buồn: “Là một gia đình nhưng không có cái vui cái buồn
chung, không có sự tính toán chung nên cũng không c
ó câu chuyện chung ngoài sự góp lại thành
một món lương hưu của ông bố, lương tháng cua người con và tiền lãi buôn bán vặt của người
mẹ” [54, tr. 15]. Tùng, người con trai duy nhất, làm nghề thợ lò lại hẩm hiu về đường vợ con.
Người kể lướt qua tình cảnh của bố mẹ để tập trung soi chiếu vào tâm hồn cô đơn buồn tủi của
Tùng. Anh đã cố gắng ngỏ lời yê
u thương với một cô gái bỏ quê lên mỏ tìm việc làm nhưng bị từ
chối: “Em chưa yêu ai bao giờ nhưng em vẫn không thể yêu anh, không thể làm vợ anh” [54, tr.
22]. Cơ yêu Tùng nhưng không thể chung sống với Tùng, vì người thợ mỏ, cái vui cái buồn đều
có thể biết trước. Kết truyện là một nỗi buồn khó tả. Người kể diễn tả cụ thể tâm trạng nhân vật
Lượm dằn vặt giữa tình yêu với thực tế đời sống người thợ mỏ: “Với phụ nữ, sự lựa chọn hì
nh
như chỉ được có một lần (…). Em không hối tiếc đã rời nhà đi đến đất mỏ. Nhưng em sẽ ân hận
suốt đời nếu em bằng lòng ở lại đây mãi mãi” [54, tr. 23]. Lời độc thoại của Lượm về sự lựa
chọn, diễn ra gấp gáp ở cuối truyện, trong một không gian mờ tối, lặng lẽ của ngôi nhà, làm người
đọc thương cảm cho những số phận, những cuộc đời rất thật ở đất mỏ, thấy được tâm trạng ngậm
ngùi cảm thông của tác giả.

càn” [53, tr. 298]. So với truyện Người của nghề, chất suy tư, triết lí, chiêm nghiệm của tác giả
trong truyện ny su sắc hơn, mang tính thời sự hơn.
Ở truyện Bạn viết cũ (1998) điểm nhìn của người kể cũng rất linh hoạt nhằm diễn tả niềm
vui của nhân vật khi nhận được giải nhì, một giải trao cho truyện ngắn hay của báo năm 1960.
Giọng điệu người kể trong truyện này khi bình thản tự tin, khi trầm b
uồn, khi lại chiêm nghiệm.
Bằng cách hóa thân vào nhân vật đại diện, lời người kể cũng là lời của nhân vật: “Tờ báo của các
anh ấy mà, nó gói gém nhiều đời người, nhiều đời văn lắm đấy. Những đời văn thăng trầm, vất vả
của một cai nghiệp làm người. Không có những cuộc đời ấy đổ vào cho báo l
àm sao nó sống
được tận hôm nay” [53, tr. 229] tạo được ấn tượng mạnh về người kể.
Trong những truyện Lạc thời, Một cõi nhân gian bé tí, Thượng đế thì cười … người kể có
nhiều suy xét sâu sắc khi quan sát sự đời, kết hợp lời bình luận với lời trữ tình ngoại đề đ tác động
mạnh mẽ đến người đọc. Trong truyện Lạc thời (1994), tác giả đặt nhân vật vào tình huống có
tính kịch. Người kể chăm chú quan sát và tỏ thái độ rất phức tạp, vừa có phần bất bình vừa có
phần chấp nhận hành vi của nhân vật. Trước hành động của ông Trắc, người kể lấy làm tiếc cho
chuyện đã xẩy ra: “Sao lại thế nhỉ”, và bình l
uận: “lẽ ra ông chỉ đến chào bọn nhà văn, hẹn với
chủ tịch huyện xin được gặp lại vào một bữa khác rồi ra về thì rất đẹp, đúng phép tắc, không làm
phiền ai và nhất là không làm nhục mình”, “lẽ ra ông không nên có mặt buổi sáng hôm đó ở ủy
ban huyện”, “Người không mời tự nhiên đâm bổ vào... Ông là người có lỗi, đúng t
hế!”, “Xưa nay
ông nhẫn nhục cam chịu, đã chịu gần hết một đời người nhiều sự bất công thì có thể chịu nốt vài
năm cuối cho nó trọn vẹn một con người tử tế…” (…) “không có tác phẩm để lưu lại cho hậu thế
chí ít cũng để lại cái tiếng tốt. Sao thế nhỉ? Tại sao ông lại có cách cư xử ngược ngạo trái hẳn với
bản tính đến thế nhỉ?” [53, tr. 417]. Hàng loạt câu hỏi đặt ra có sức hút người đọc cùng tham gia
bình luận về nhân cách con người.
Tiểu thuyết

Một cõi nhân gian bé tí

người phải biết lựa chọn cái gì và phải có khả năng thích ứng với thời thế.
Truyện Nơi về (1995) kể về tình cảnh của một đại tá cách mạng về hưu. Một người có nhiều
chục năm ăn rất đói, mặc rất rách nhưng niềm vui thì bất tận. Vui vì đồng đội, vì viết báo: “Viết
sau cơn sốt rét, viết sau ngày phá vây, viết lúc hành quân, viết lúc nằm bệnh viện trông con ốm”.
Ông chỉ mới biết đến cái buồn từ ngày vợ mất, con trai lấy vợ, con
gái lấy chồng. Đời ông chỉ
mong: “Con trai ông sẽ là sĩ quan chuyên nghiệp, con gái lớn là cán bộ khoa học…” [54, tr. 38].
Nào ngờ thời thế đổi thay. Về già, cha con càng ở với nhau càng lạ. Bởi vì cuộc sống giữa cha và
con, của những thế hệ khác nhau đã xuất hiện những mâu thuẫn. Đó là những “Trận đánh của
những quan niệm khác nhau, của những cách sống khác nhau, những niềm tin và nguyện vọng
khác nhau bắt đầu”. Đồng tiền có sức mạnh ghê gớm đã biến các con ông trở thành những kẻ nô
lệ m qung. Người kể hòa vào nhân vật để lên tiếng: “Thắng tất cả mà chịu thua những đứa con.
Giải phóng cả nước nhưng về gi
à lại không còn nơi nào để ở. Buồn cười thay và cũng đau đớn
thay!” [54, tr. 44].
Tiểu thuyết Thượng đế thì cười (2002) là truyện kể mang tính chất tự truyện nhưng lại
đư
ợc kể ở ngôi thứ ba. Nhân vật “hắn” hình tượng hư cấu từ chính nguyên mẫu con người và
cuộc đời nhà văn. Nhân vật không có tên riêng, người kể xưng nhân vật là “hắn”. Gọi “hắn”
giống như một phiê
n bản của cái “tôi” – nhà văn. Tuổi thơ của “hắn” là tuổi thơ của nhà văn.
Nhân vật “Hắn” trở thành nhà văn, thành người nổi tiếng trong thời đại đầy biến động va sóng
gió, “Hắn” là hình bóng của nhà văn Nguyễn Khải, có vẻ đẹp của nhân cách, có cái thấp hèn của
đời thường.
Trong nghệ thuật kể chuyện, nhất là v
iệc vận dụng ngôi kể và chủ thể kể ch
uyện, có thể
thấy trong nhiều tác phẩm, Nguyễn Khải đã có sự kế thừa đối với nhiều bậc đàn anh đi trước,
chẳng hạn như Nam Cao. So sánh một số truyện của Nguyễn Khải với tác phẩm Chí Phèo của
Nam Cao - toàn truyện Chí Phèo là lời gián tiếp của người kể chuyện. Lồng vào cái nhìn theo sự

đọc nhận ra giọng điệu của Chí lấn at giọng điệu người kể. Đó là cách xây dựng “con người ý
thức” của Nam Cao. Vì thế, ngay lời kể đoạn mở đầu tác phẩm Chí Phèo, nó đã có một diện mạo
riêng về sự sáng tạo ngôi kể. Nó là
m nên kiệt tác về truyện ngắn Việt Nam và làm nên tên tuổi,
phong cách nhà văn Nam Cao. Cái độc đáo cá biệt là ở chỗ, lời của một kẻ say đồng thời cũng là
lời xót xa, tiếng kêu đứt ruột về một kiếp người “Chí Phèo như là hiện thân của nỗi đau” của
người kể chuyện. Nó có sức tác động rất lớn đối với những ai đọc tác phẩm Chí Phèo. Các truyện
kể ngôi thứ ba của Nguyễn K
hải phần nào đạt đến sự tinh tế ấy trong việc vận dụng ngôi kể như
đã luận giải ở trên.
33 tác phẩm được chúng tôi khảo sát có dạng người kể chuyện ẩn: không bình luận trữ tình
ngoại đề và có bình luận trữ tình ngoại đề đã góp phần tạo nn phong cách nghệ thuật “hiện thực
tỉnh tá
o” của Nguyễn Khải. Nó đều bộc lộ hình tượng một người kể chuyện thông minh, sắc sảo,
giàu lòng nhân ái. Trong đó 19 tác phẩm sáng tác trước năm 1980 bị chi phối bởi cách nhìn và
đánh giá đời sống của chính tác giả. Do dựa trên bình diện chính trị nên các vấn đề phản ánh đều
in đậm dấu ấn thời đại. Tác phẩm không tránh khỏi giá trị nhất thời, chưa vượt ra khỏi hạn chế có
tính lịch sử, cách giải quyết vấn đề m
ang tính công thức thiên về tinh thần giáo huấn. 14 tác phẩm
viết sau năm 1980 lời kể độc thoại, lời miêu tả đan xen với lời đối thoại, lời trữ tình ngoại đề được
gia tăng tạo nên sự hấp dẫn cho truyện. Những dòng hồi tưởng, suy nghiệm trong tác phẩm đã
làm cho nhịp đieu kể chậm lại. Độ dừng của nhịp điệu trần thuật có điều kiện khắc họa chiều sâu
tâm
lí nhân vật, tạo ra khoảng trống cho người đọc đồng cảm. Từ vấn đề được bình luận, trữ tình
ngoại đề người đọc có điều kiện tự chiem nghiệm, đồng sáng tạo, tự cắt nghĩa số phận nhân vật,
tự giải mã các vấn đề và cùng khám phá thế giới thầm kín của nhân vật với tác giả.
1.2.
2. Người kể chuyện lộ diện xưng “tôi”
Điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng
tạo nghệ thuật. Nhà văn có thể trần thuật theo quan điểm của mình, hoặc theo quan điểm

cả địa chỉ đơn vị của bố tôi” [50, tr. 151]. Sau đó nhân vật xưng “tôi” nhập thân vào vai
ông bố, tường thuật lại cuộc đời của ông bố, “bố tôi kể tiếp: “Thầy bỏ nhà đi năm ba mươi
tuổi, đến nay vừa đúng hai chục năm (từ l
úc này bố tôi xưng thầy, và gọi tôi bằng con)…”
[50, tr. 161].
Truyện Người của ngày xưa (1988) người kể kết hợp miêu tả chân dung nhân vật:
“bà ngoại tôi năm đó đã ngoài 70, còn bà nội của Nghĩa mới 6 chục, tôi thì 12 (…). Nhìn
bề ngoài thì bà tôi như vợ ông thượng thư, còn bà nội Nghĩa như vợ ông chánh tổng. Bà
không được đẹp, ăn mặc xuềnh xoàng, tên gọi cũng không sang, tên là Mặm, cụ tuần
Mặm. Nhưng đã trò chuyện giữa đám đông bà luôn luôn đư
ợc mọi người chú ý vì cách ăn
nói tự nhiên và nhũn nhặn, lại hay pha trò. Bà không hề cười nhưng người nghe thì cười
nghiêng ngả, phun cả nước cốt trầu vào mặt nhau” [54, tr. 287]. Bà Mặm “lấy chồng tuần
phủ nhưng vẫn giữ được gốc gác của mình, bao giờ cũng quí trọng người lao động, tình
yêu thương con người” (…) “một người đàn bà tầm thường thôi nhưng cách ứng xử một
đời không thay đổi của bà lo lại chẳng tầm thường một c
hút nào: biết thích ứng nhanh để
hịa nhập nhưng không chịu để mất những niềm tin riêng, cái cốt cách riêng của mình” [56,
tr. 67]. Hình ảnh người xưa hiện lên đẹp đẽ: “Nhớ lấy cái đức làm đầu. Ở đời chỉ có cái
đức trường tồn, càng có nhiều càng tốt, không sợ thừa”. Người kể đề cao lối sống ngày
xưa và tiếc nuối cho lối sống ngày nay: “H Nội by giờ khơng cịn l của mình nữa. Nĩ sẵn
sng phục vụ cho những tham vọng của các anh” [56, tr. 65]; khi thời thế đổi thay, thời
buổi kinh tế thị trường: “Xưa kia những người chủ gia
đình ở phố này chỉ nói có chuyện
chính trị, chính trị trong nước, chính trị quốc tế và các bà vợ thì ngồi nghe ké. Bây giờ chỉ
có các bà nói, các con nói, nói toàn chuyện tiền bạc, nói sự đối xử bất bình đẳng giữa
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, nói cảnh sát kinh tế, nói cán bộ thuế vụ,
giọng lưỡi chao chát, sát phạt, còn các ông chồng đã về hưu thì ngồi nín lặng với vẻ mặt
sầu muộn của người đã mất quyền”
[54, tr. 194]. Qua lời kể, người đọc nhận ra tâm lí

viết truyện này cũng lấy làm lạ lùng” [54, tr. 5]. Người kể lần lượt tái hiện những sinh hoạt
hàng ngày của ông, kèm theo sự giải thích: “Hình như cái tính hiền lành của con người tử tế,
biết điều quá mức của ông cũng khiến xung quanh coi thường ông thật. Đến vợ con tôi là
những người tử tế hẳn hoi mà cũng coi thường ông huống hồ là người khác” [54, tr. 9]. Và
người kể nghiệm thấy: “Thói thường ai cũng thích làm bạn với người sang người mạnh chứ
ai thích đánh bạn với kẻ hèn yếu” [50, tr. 13].
Trong truyện Mẹ v cc con (1997) người kể dù chỉ tình cờ gặp gỡ, nghe chuyện nhưng
đã thể hiện được nỗi xĩt xa của m
ình cho tình cảnh của bà Mão: “Người già phải sống một
mình l vạn bất đắc dĩ”. Mới hay: “Chuyện thế gian chả có gì l hồn tồn (…) được mẹ hỏng
con, được chồng hỏng vợ” [50
, tr. 188]. Nhiều năm tháng trôi qua, cách đây hơn hai chục
năm: “mỗi lần tôi ra Hà Nội thường đạp xe dọc đường Lí Nam Đế và đường Phan Đình
Phùng đôi lúc lại phảng phất nhớ tới một bà lão” [50, tr. 198]. Bà cụ 73 tuổi, con cái rất
đông “đều là ông nọ bà kia” mà không chịu ở với một đứa con nào, cứ sống lang thang,
khi thì bà lão nhặt hoa rụng, khi thì tìm kiếm những rễ cây lá cỏ chất đầy đôi sọt lớn, tất tả
bước thấp bước cao bên hề đường. Người kể thương tiếc bà cụ “biết chấp nhận vui vẻ mọi
nỗi vất vả, mọi chuyện trớ trêu của một đời người chắc hẳn đã mất từ lâu rồi (…) hay đã
ngủ một giấc dài lặng lẽ dưới các vòm mái góc đường một đêm nào đó thì tôi không được
rõ. Cũng không còn ai quen từ cái năm ấy để ghé lại hỏi thăm, con cái của bà là những ai
tôi cũng không được biết” [50
, tr. 198].
Các truyện xuất hiện chủ thể kể chuyện xưng “tôi” không tham gia biến cố, chỉ có
quan sát, chứng kiến rồi kể lại không để lộ rõ nét tính chủ quan của người kể. Nhờ phương
thức trần thuật này, người đọc luôn bị cuốn hút. Mỗi truyện tác giả chỉ tập trung xây dựng
một vài nhân vật, trì
nh bày một cách sống, cuối truyện thường để người kể bàn bạc với
người đọc về nhứng triết lí, cùng suy gẫm về một vấn đề nhân sinh. Trong các truyện Đàn
ông, Phía khuất mặt người, Nhóm bạn thời kháng chiến, Đời cứ vui v.v. chúng ta cũng
thấy người kể xưng “tôi” cũng với tư cách là người chứng kiến làm vai trò người thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status