GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆTNAM - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠ O
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THỊ MINH KHUÊ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO THANH TOÁN
QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH T
ẾGIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO THANH TOÁN
QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG
CHỨNG TỪ TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Tài Chính - Ngân hàng
Mã s
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH T
Ế NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. ĐOÀN ĐỈNH LAM

HOÀNG THỊ MINH KHUÊ


1.3.3 Đối với ngân hàng chiết khấu L/C 18
1.3.4 Ðối với ngân hàng xác nhận 19

1.3.5 Đối với nhà nhập khẩu 19
1.3 6 Đối với nhà xuất khẩu 19
1.4 Nguyên nhân xảy ra rủi ro thanh toán ñối với ngân hàng 20
1.4.1 Nguyên nhân chủ quan 20
1.4.2 Nguyên nhân khách quan 21
1.5 Luật ñiều chỉnh của phương thức TDCT 21
1.5.1 Hệ thống pháp luật quốc tế 21
1.5.2 Hệ thống pháp luật quốc gia 23
1.5.3 Mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế 23
1.6 Tình huống kinh ñiển và bài học kinh nghiệm trong tranh chấp giữa các ngân
hàng khi thanh toán TDCT 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO
PHƯƠNG THỨC TDCT TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM.
2.1 Tình hình TTQT theo phương thức TDCT tại các NHTM Việt Nam giai ñoạn
2007-2011 30
2.1.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu 30
2.1.2 Tình hình TTQT theo phương thức TDCT tại NHTM Việt Nam 31
2.1.3 Đánh giá hiệu quả hoạt ñộng thanh toán TDCT tại NHTM Việt Nam 33
2.2 Thực trạng rủi ro về thanh toán ñối với ngân hàng trong TDCT 34
2.2.1 Những rủi ro về thanh toán mà ngân hàng thường gặp 35
2.2.1.1 Rủi ro về tín dụng 35
2.2.1.2 Rủi ro về kỹ thuật 40
2.2.1.3 Rủi ro về thanh khoản 41
2.2.2 Nguyên nhân chính dẫn ñến rủi ro thanh toán tín dụng chứng từ 44
2.2.2.1 Sự vận dụng các quy tắc quốc tế trong ñánh giá bộ chứng từ 44

3.3.4 Kiến nghị với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 70
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75
KẾT LUẬN CHUNG 76
PHỤ LỤC 1

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU

SƠ ĐỒ
Sơ ñồ 1.1 : Quy trình mở, thông báo và xác nhận L/C 8
Sơ ñồ 1.2 : Quy trình thanh toán theo L/C 9

HÌNH VẼ
Hình 2.1 : Kim ngạch xuất nhập khẩu giai ñoạn 2007-2012 30
Hình 2.2 Tỷ lệ rủi ro trong quá trình tác nghiệp của các ngân hàng 35
Hình 2.3: Mức tăng/giảm bình quân tỷ giá USD/VND giai ñoạn 2007-2012 42

BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 : Kim ngạch thanh toán quốc tế của 5 NHTM giai ñoạn 2007-2011 33
Bảng 2.2 : Tỷ lệ thanh toán dùng L/C ở một số khu vực trên thế giới 34 1

LỜI MỞ ĐẦU

thiện phương thức tín dụng chứng từ, trả nó về với đúng ý nghĩa ban đầu, là công cụ
2

thanh toán, không phải công cụ từ chối thanh toán như thực tiễn hoạt động này
trong thời gian gần đây.
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề
tài

Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp,
phân tích các số liệu liên quan hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng
thương mại Việt Nam. Ngoài ra, các phương pháp như so sánh, đối chiếu cũng
được sử dụng nhằm tìm ra quy luật vận động của các yếu tố trong một giai đoạn cụ
thể.
Phạm vi nghiên cứu: hoạt động thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam giai đoạn 2007-2011.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề
tài

Đề tài nghiên cứu về bản chất những rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ,
đặt trong bối cảnh hoạt động thực tiễn của ngân hàng thương mại Việt Nam, đi sâu
vào phân tích nguyên nhân, để giúp cho ngân hàng hiểu rõ hơn về những rủi ro mà
mình có thể gặp phải, từ đó có biện pháp thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro, nâng cao
hiệu quả của hoạt động thanh toán quốc tế cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.
Bên cạnh đó đề xuất một số ý kiến với các Bộ ngành liên quan, nhằm tạo môi
trường kinh tế lành mạnh, trang bị cho ngân hàng và doanh nghiệp những công cụ
đủ mạnh để tự bảo vệ mình trong môi trường kinh doanh đầy bất ổn.
5. Kết cấu của luận
văn

Luận văn được chia thành 3 chương với nội dung cụ thể như sau:

1.1.1 Khái niệm
Theo ICC (2007, trang 10) “Tín dụng chứng từ (TDCT) là một sự thoả thuận
bất kỳ, cho dù được mô tả hoặc gọi tên như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn
và không huỷ ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù
hợp”.
Đối với nhà xuất khẩu: được ngân hàng phát hành (NHPH) đảm bảo chắc chắn
thanh toán nếu xuất trình bộ chứng từ phù hợp.
4

Đối với nhà nhập khẩu: được NHPH đảm bảo không phải thanh toán khi nào
chưa nhận được bộ chứng từ phù hợp.
Rõ ràng là ngân hàng, với vai trò tổ chức trung gian đã đứng giữa để dung hoà
lợi ích, rủi ro của nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu có cơ sở để tin
chắc rằng NHPH sẽ không thanh toán trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, còn nhà
xuất khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng nếu giao cho NHPH bộ chứng từ
hợp lệ.
1.1.2 Đặc điểm của giao dịch tín dụng chứng từ
Do có tính tùy ý về cách gọi, nên trong thực tế, có thể gặp rất nhiều thuật ngữ
khác nhau được dùng để chỉ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bằng tiếng
Anh và tiếng Việt như sau:
- Tiếng Anh: Letter of Credit (viết tắt là LC hoặc L/C); Credit; Documentary
Credit (viết tắt DC hoặc D/C),
- Tiếng Việt: Tín dụng thư (TDT); Thư tín dụng (TTD); Tín dụng chứng từ
(TDCT),
Giao dịch tín dụng chứng từ có những đặc điểm sau:
Là hợp đồng kinh tế hai bên
Một L/C liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi của 3 bên: nhà xuất khẩu, nhập
khẩu, NHPH, nhưng bản thân L/C là hợp đồng kinh tế độc lập của nhà xuất khẩu và
NHPH, mọi yêu cầu, chỉ thị của nhà nhập khẩu đã do NHPH đại diện, do đó tiếng
nói chính thức của nhà nhập khẩu không được thể hiện trong L/C.

1.1.4 Các bên tham gia giao dịch TDCT
Về cơ bản, một giao dịch TDCT liên quan đến bốn bên sau đây:
- Người yêu cầu mở L/C (Applicant): thường là nhà nhập khẩu.
- Nguời thụ hưởng L/C (beneficiary): là người hưởng số tiền thanh toán hay sở
hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C, thường là nhà xuất khẩu.
- NHPH L/C (Issuing Bank): là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn
của người yêu cầu, NHPH là ngân hàng:
6

Với điều kiện là các chứng từ quy định được xuất trình tới ngân hàng chỉ định
hoặc tới NHPH và với điều kiện việc xuất trình là phù hợp, NHPH phải thanh toán
nếu tín dụng có giá trị thanh toán.
NHPH bị ràng buộc không thể hủy bỏ đối với việc thanh toán kể từ khi ngân
hàng đó phát hành tín dụng.
NHPH cam kết hoàn trả tiền cho một ngân hàng chỉ định mà ngân hàng này đã
thanh toán hoặc đã thương lượng thanh toán cho một xuất trình phù hợp và đã
chuyển giao các chứng từ cho NHPH. (ICC, 2007, trang 14)
- Ngân hàng đại lý/ ngân hàng được uỷ thác việc thanh toán bộ chứng từ
 Ngân hàng thông báo (NHTB): là chi nhánh của NHPH tại nước nhà xuất
khẩu. Theo ICC (2007, trang 16): “Tín dụng và bất cứ sửa đổi nào có thể được
thông báo cho người thụ hưởng thông qua NHTB. NHTB, nhưng không phải là
ngân hàng xác nhận (NHXN), thông báo tín dụng và các sửa đổi mà không cam kết
về thanh toán hoặc thương lượng thanh toán”.
NHTB có thể sử dụng dịch vụ của một ngân hàng khác (NHTB thứ hai) để
thông báo tín dụng và các sửa đổi cho người thụ hưởng.
Ngân hàng sử dụng dịch vụ của NHTB hoặc NHTB thứ hai để thông báo tín
dụng thì cũng phải sử dụng các ngân hàng đó để thông báo các sửa đổi của tín dụng.
 Ngân hàng xác nhận:
Theo ICC (2007, trang 16) thì NHXN là ngân hàng “Với điều kiện là các chứng
từ quy định được xuất trình đến NHXN hoặc đến bất cứ một ngân hàng chỉ định nào

nhận tại một ngân hàng khác, uy tín hơn. Với việc xác nhận L/C, người bán được
đảm bảo thanh toán 2 lần bởi NHPH và NHXN. Phí xác nhận là rất cao, đôi khi
NHXN buộc NHPH phải ký quỹ 100% trị giá L/C.
- NHTB, thường do người bán chọn để tiện cho việc giao dịch, nếu NHTB này
không có quan hệ đại lý với NHPH thì xuất hiện thêm NHTB thứ 2, làm cầu nối
giữa NHPH và NHTB do người thụ hưởng chọn.
8

Hợp đồng mua bán
Yêu cầu thông
báo/ xác nhận L/C
- Nếu L/C quy định có giá trị tại bất kỳ ngân hàng nào thì thông thường người
thụ hưởng sẽ xuất trình chứng từ tại NHTB. Nhưng đôi khi, L/C chỉ định một ngân
hàng khác thanh toán bộ chứng từ, lúc này xuất hiện thêm ngân hàng trả tiền. Ngân
hàng trả tiền sau khi thanh toán bộ chứng từ hợp lệ, tuỳ theo chỉ thị của NHPH mà
có thể đòi tiền NHPH hay một ngân hàng khác, gọi là ngân hàng hoàn trả.
Sự tham gia của số lượng các ngân hàng vào giao dịch TDCT là rất đa dạng, tuỳ
theo nhiệm vụ, sẽ có những tên khác nhau. Càng nhiều ngân hàng, quy trình càng
phức tạp, chứa đựng càng nhiều rủi ro.
1.1.5 Quy trình nghiệp vụ
Sơ đồ quy trình nghiệp vụ phương thức thanh toán bằng L/C có thể tóm gọn các
bước cơ bản như sau:
Quy trình mở, thông báo, và xác nhận L/C

1
Chứng từ
Thanh toán
(3): Căn cứ vào đơn yêu cầu phát hành L/C, ngân hàng sẽ phát hành một L/C
bằng điện Swift, gửi cho NHTB, trong đó ngân hàng cam kết thanh toán cho người
bán nếu người này xuất trình được chứng từ thanh toán phù hợp với các quy định
của L/C.
(4): NHTB nhận được L/C thì phải xác minh tính chân thật bề ngoài của L/C sau
đó thông báo và gửi bản gốc L/C cho người hưởng lợi L/C. Người bán nhận được
L/C thì phải kiểm tra L/C, nếu không chấp nhận L/C thì yêu cầu người mua sửa đổi
bổ sung L/C. Khi đã chấp nhận L/C, người bán tiến hành giao hàng.

Quy trình thanh toán theo L/C
Sơ đồ 1.2 Quy trình thanh toán theo L/C

(5): Người bán giao hàng cho người mua.
(6): Thể hiện dòng lưu chuyển của bộ chứng từ.
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, người bán lập chứng từ thanh toán theo
yêu cầu, xuất trình chứng từ đến NHPH thông qua NHTB.

cho người mua về bộ chứng từ hợp lệ và yêu cầu người mua thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán bộ chứng từ.
(7): Thể hiện dòng lưu chuyển của tiền hàng, ngược với dòng lưu chuyển của bộ
chứng từ.
Người mua kiểm tra chứng từ, nếu phù hợp thì thanh toán hoặc chấp nhận thanh
toán cho NHPH.
NHPH sau đó mới thanh toán cho NHTB, và cuối cùng NHTB thanh toán cho
người bán. Kết thúc giao dịch TDCT.
Trên đây là sơ đồ một giao dịch L/C căn bản nhất, ít rủi ro nhất đối với ngân
hàng. Tất cả các ngân hàng liên quan thanh toán theo đúng trình tự, và chỉ đồng ý
thanh toán khi được sự chấp nhận của người có trách nhiệm thanh toán cuối cùng –
Người mở L/C.
Tuy nhiên, trên thực tế, người bán thường muốn nhận tiền nhanh để xoay vòng
vốn, lập kế hoạch kinh doanh mới, nên họ thường yêu cầu NHTB/ NHXN chiết
khấu bộ chứng từ. Ngân hàng được yêu cầu nếu như đồng ý, họ tiến hành thanh
toán trước khi nhận được chỉ thị của NHPH/ người mua. Rủi ro thuộc về
NHTB/NHXN nếu sau này NHPH/ người mua từ chối thanh toán.
Để đi sâu vào độ phức tạp của giao dịch TDCT, ta tìm hiểu thêm hai khái niệm,
đó là chiết khấu truy đòi và chiết khấu miễn truy đòi.
Theo ICC (2007, trang 9) “Chiết khấu bộ chứng từ là việc các NHĐCĐ mua các
hối phiếu đòi nợ (ký phát đòi tiền ngân hàng khác không phải là NHĐCĐ) và /hoặc
các chứng từ khi xuất trình phù hợp, bằng cách trả tiền trước hoặc ứng tiền trước
cho người thụ hưởng vào / hoặc trước ngày làm việc ngân hàng mà vào ngày đó
tiền phải được hoàn trả”. Có hai hình thức chiết khấu:
- Chiết khấu truy đòi cho phép NHĐCĐ có quyền yêu cầu người hưởng lợi
hoàn trả lại số tiền đã được NHĐCĐ trả trước cộng với lãi phát sinh trong trường
hợp NHĐCĐ không nhận được tiền hoàn trả từ NHPH hoặc NHXN (nếu có).
11

- Chiết khấu miễn truy đòi là việc NHCK mua đứt hối phiếu và/hoặc chứng từ

khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp L/C.
- L/C không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C): là
loại L/C mà sau khi người hưởng lợi đã được trả tiền thì NHPH không có quyền
được đòi tiền nguời hưởng lợi trong bất cứ trường hợp nào.
- L/C chuyển nhượng (Transferable L/C): là L/C không hủy ngang, trong đó
người hưởng lợi thứ nhất chuyển nhượng một phần hay toàn bộ nghĩa vụ thực hiện
L/C cũng như quyền đòi tiền mà mình có được cho những người hưởng lợi thứ hai.
- L/C giáp lưng (Back to back L/C): là loại L/C mà sau khi nhận được L/C do
người mở mở cho mình, nhà xuất khẩu căn cứ vào nội dung L/C này và dùng đúng
L/C này để thế chấp, mở một L/C khác cho nguời hưởng lợi khác với nội dung gần
giống như nội dung ban đầu. L/C giáp lưng cũng được dùng trong mua bán trung
gian như L/C chuyển nhượng. Ðiều khác nhau giữa L/C giáp lưng và L/C chuyển
nhượng là NHPH L/C giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ
hợp lệ theo L/C mà mình mở, không ràng buộc bởi L/C gốc.
- L/C tuần hoàn (Revolving L/C): là L/C không thể hủy ngang mà sau khi đã sử
dụng hết giá trị của nó hay đã hết hạn hiệu lực thì nó lại có giá trị như cũ và tiếp tục
được sử dụng một cách tuần hoàn trong một thời gian nhất định cho đến khi tổng
giá trị hợp đồng các bên được thực hiện. L/C tuần hoàn thường được sử dụng đối
với các đơn hàng ổn định, lặp lại trong một khoảng thời gian nhất định.
- L/C dự phòng (Standby L/C) : là loại L/C đuợc mở ra để bảo vệ quyền lợi của
nhà nhập khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu đã nhận được L/C, tiền đặt cọc hoặc
tiền ứng trước, nhưng lại không có khả năng giao hàng hoặc không hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C. Khi đó, theo L/C dự phòng, nhà
xuất khẩu sẽ hoàn trả lại tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước, chi phí mở L/C cho nhà
nhập khẩu.
- L/C đối ứng (Reciprocal L/C) : là loại L/C không thể hủy ngang, chỉ bắt đầu có
hiệu lực khi L/C kia đối ứng với nó được mở ra. Trong L/C ban đầu thường phải ghi
“L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở lại một L/C đối ứng với nó để
13



1.2.1 Rủi ro quốc gia, rủi ro chính trị pháp lý:
- Rủi ro quốc gia: là khả năng mà một quốc gia hoặc người đi vay của một quốc
gia nhất định không muốn hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ cam kết của mình với
đối tác nước ngoài. Rủi ro quốc gia có thể tồn tại dưới các dạng sau:
+ Quá trình quốc hữu hoá của chính phủ, đột ngột xóa bỏ mọi cam kết trước đó
trong hoạt động kinh tế.
+ Quy chế quản lý ngoại hối ngăn chặn việc chuyển trả tiền thanh toán ra nước
ngoài.
+ Lệnh cấm xuất khẩu để bảo vệ tài nguyên quốc gia.
- Rủi ro chính trị: Tính ổn định của một quốc gia đóng vai trò rất quan trọng
trong giao thương quốc tế. Bất cứ một sự thay đổi nào về thể chế, chính sách của
chính phủ đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Chẳng hạn, khi
một quốc gia có chiến tranh, cuộc chiến sẽ phá vỡ mối quan hệ giữa quốc gia tham
chiến với một số nước khác trên thế giới. Sự tàn phá của chiến tranh có thể làm cho
quốc gia đó giảm hoặc không còn khả năng thực hiện các cam kết đã ký với đối tác
quốc tế.
- Rủi ro kinh tế: Bối cảnh kinh tế của một quốc gia sẽ tác động đến niềm tin của
nhà kinh doanh, đầu tư quốc tế đến quốc gia đó. Nếu một quốc gia suy thoái hoặc bị
khủng hoảng kinh tế, khả năng thu hút vốn và giao thương quốc tế của nước đó sẽ
giảm sút và ngược lại.
1.2.2 Rủi ro về quản lý ngoại hối
Quản lý ngoại hối là hệ thống kiểm soát luồng ngoại hối nhập vào hoặc chuyển
ra khỏi một đất nước. Trong quản lý kinh tế, các chính phủ thường ban hành các
chính sách nhằm khơi thông hoặc hạn chế luồng ngoại hối nhằm thực hiện chính
sách phát triển kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ. Những biện pháp này có thể
tạo ra sự chậm trễ trong thanh toán, làm gia tăng chi phí và thời gian của các thương
gia và nhà đầu tư quốc tế.

16

1.3 Rủi ro đối với các bên trong thanh toán TDCT
Ngân hàng tham gia một giao dịch TDCT để bảo vệ các bên khỏi những rủi ro
khôn lường trong giao thương quốc tế, khi mà người mua- người bán ở cách xa
nhau, tập quán, ngôn ngữ khác nhau, bối cảnh kinh tế, thị trường cũng không giống
nhau. Trở thành mắt xích không thể thiếu trong TDCT, với mỗi vai trò ngân hàng
đối mặt với những rủi ro khác nhau.
1.3.1 Ðối với ngân hàng phát hành
- Rủi ro phát sinh từ phía người mở L/C: khi thực hiện mở L/C thì người mở
phải ký quỹ cho ngân hàng, tỷ lệ ký quỹ từ 0-100% giá trị L/C, tuỳ theo mức độ tín
nhiệm của doanh nghiệp. Trong trường hợp người mở L/C chỉ ký quỹ một phần trị
giá L/C, phần còn lại được đảm bảo bằng tài sản hoặc là tín chấp, khi đến hạn thanh
toán mà nguời mở L/C không thanh toán, NHPH buộc phải dùng phần vốn của
mình trả cho phía nước ngoài, đồng thời thu hồi lại phần vốn này từ tài sản đảm bảo,
hàng hóa nhập khẩu- đây vốn là một quá trình vất vả, và phụ thuộc rất nhiều vào
loại hàng hoá, tình hình thị trường tại thời điểm đó trong khi ngân hàng không phải
là một đơn vị chuyên kinh doanh hàng hóa. Nếu NHPH không thể thu hồi được vốn,
khoản tiền này trở thành nợ xấu, ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng.
- Rủi ro từ người thụ hưởng L/C: thanh toán bằng TDCT chỉ dựa trên chứng từ,
do đó, NHPH phải thực hiện thanh toán khi người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ
hoàn toàn phù hợp với L/C. Trong trường hợp người thụ hưởng không giao hàng
mà lại làm bộ chứng từ giả thì NHPH phải gánh chịu rủi ro thiệt hại toàn bộ trị giá
bộ chứng từ.
- Rủi ro từ ngân hàng chiết khấu: sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, người
thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng được chỉ định thanh toán để thanh
toán/ chiết khấu bộ chứng từ. Trong trường hợp điện đòi tiền theo L/C đã được
NHPH thanh toán, nhưng sau đó phát hiện bộ chứng từ không phù hợp, NHPH có
thể gặp rủi ro do không thể truy đòi từ người nhập khẩu.

- Rủi ro do giao L/C không đúng người thụ hưởng: nếu NHTB không giao L/C
đúng nguời thụ hưởng thì có thể rủi ro như L/C bị lợi dụng, chứng từ giả mạo,
người thụ hưởng không thực hiện đúng hợp đồng với nhà nhập khẩu
18

1.3.3 Đối với ngân hàng chiết khấu L/C
Trong trường hợp chiết khấu miễn truy đòi thì NHCK không có quyền truy đòi
người thụ hưởng khi không nhận đuợc tiền thanh toán từ NHPH do chứng từ bất
hợp lệ hoặc NHPH mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, trong trường hợp chiết
khấu có truy đòi, NHCK có thể truy đòi số tiền đã cấp cho người thụ hưởng nếu
NHPH từ chối thanh toán.
- Rủi ro phát sinh từ NHPH/ ngân hàng hoàn trả : nếu NHPH cố tình tìm các
điểm bất hợp lệ của bộ chứng từ để từ chối thanh toán thì gây rủi ro cho NHCK vì
không thu hồi lại được số tiền đã cấp cho người thụ hưởng dựa trên hối phiếu / bộ
chứng từ nếu L/C quy định chiết khấu miễn truy đòi.
Hoặc có thể do tình hình kinh tế, chính trị- xã hội tại nước của NHPH: Theo ICC
(2007, trang 43) “Ngân hàng không chịu trách nhiệm đối với các hậu quả phát sinh
từ gián đoạn kinh doanh của mình do thiên tai, bạo động, dân biến, nổi dậy, chiến
tranh, khủng bố, đình công hoặc bế xưởng hoặc bất cứ nguyên nhân nào khác vượt
ngoài sự kiểm soát. Khi bắt đầu kinh doanh trở lại, ngân hàng không phải thanh
toán hoặc thương lượng thanh toán cho các tín dụng đã hết hạn trong thời gian
gián đoạn kinh doanh của ngân hàng”. Do đó, NHCK sẽ không thu hồi đuợc tiền từ
NHPH khi gửi bộ chứng từ trong thời gian này.
- Rủi ro phát sinh từ người thụ hưởng: trong trường hợp L/C chiết khấu có truy
đòi và NHCK đã thanh toán cho người thụ hưởng nhưng không thể đòi tiền NHPH/
ngân hàng hoàn trả thì việc NHCK có đòi lại được tiền từ người thụ hưởng hay
không phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí, uy tín của người thụ hưởng.
- Rủi ro phát sinh từ việc thực hiện nghiệp vụ:
Khi kiểm tra bộ chứng từ: đây là khâu quan trọng đối với NHCK vì nếu việc
kiểm tra không cẩn trọng sẽ gây rủi ro cho ngân hàng vì có thể bị từ chối thanh toán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status