Luận văn thạc sĩ Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác thu thuế trên địa bàn thị xã Tây Ninh - Pdf 29



B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T TP. H CHÍ MINH

T
T
R
R




N
N
G
GN
N
H
H


T
T

TP.H CHÍ MINH – NM 2012
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chuyển đổi từ cơ chế quản lý nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
phải đổi mới nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tài chính nói chung và thuế nói
riêng. Từ năm 1990 đến nay, Nhà nước đã từng bước thực hiện cải cách hệ thống
chính sách thuế, và bộ máy ngành thuế được tổ chức thông nhất theo ngành dọc từ
trung ương đến xã, phường. Quản lý thuế đã được đổi mới căn bản , từng bước
hiện đại hoá và phát huy vai trò tích cực trong việc thực hiện các Luật thuế mới,
tăng thu cho nhân sách Nhà nước.
Thị xã Tây Ninh thuộc Tây Ninh là một trung tâm chính trị - kinh tế-văn
hoá-du lịch của tỉnh. Trong quá trình phát triển kinh tế, Thị xã đã luôn quan tâm
xây dựng ngành tài chính - thuế tạo nguồn thu ngân sách, đáp ứng được nhiệm vụ
chi tiêu ngày càng cao của Thị xã
Kết quả thu ngân sách qua các năm ngày càng tăng, nhờ chính sách thuế đã
phần nào hợp lý, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển; nuôi
dưỡng được nguồn thu; Hệ thống quản lý thu thuế đã từng bước cải cách, hiện đại

Huỳnh Huy Quế, 2006, ngành thuấ sẵn sàng hành trang bước vào kế hoạch
5 năm 2006-2010, Tạp chí Tài chính ( số 496)
Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Ngọc Thanh, 2001, Giáo trình thuế , NXB
Thống kê Hà Nội
Các tác phẩm trên đây đã có những đóng góp quan trong trên cả hai phương
diện lý luận, thực tiễn và giá trị khoa học nhất định khi phân tích và lý giải về quản
lý nhà nước trong công tác thu thuế. Song các công trình nghiên cứu trên được
nghiên cứu trên phạm vị toàn quốc, do đó việc vận dụng vào thực tiễn Thị xã Tây
Ninh hết sức khó khăn, vì vậy đề tài “ Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong
công tác thu thuế trên địa bàn Thị xã Tây Ninh” có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
3. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG:
Luận văn được thực hiện nhằm đạt được những mục đích sau đây: 3
- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý
luận về thuế và công tác quản lý thuế.
- Phân tích đánh giá thực trạng về công tác quản lý thu thuế trên địa bàn Thị
xã Tây Ninh.
- Nghiên cứu, đề xuất những giải pháp để hoàn thiện tổ chức bộ máy và
nâng cao hiệu quả công tác thu thuế trên địa bàn,
Đối tượng nghiên cứu là các sắc thuế chủ yếu đang thực hiện.
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Phạm vi nghiên cứu là công tác quản lý thu thuế trong đó có nhấn mạnh đến
công tác thu thuế tại Thị xã Tây Ninh. Với phạm vi đó, trọng tâm của vấn đề
nghiên cứu chủ yếu bao gồm các loại thuế chủ yếu và các đối tượng quản lý thu
thuế của địa phương. Nội dung chủ yếu của Luận văn : Từ phân tích kết quả thu
thuế qua từng năm chỉ ra ưu, nhược điểm và tác động của chính sách thuế đến số
thu Ngân sách, và phát triển kinh tế, thực hiện công bằng xã hội ở địa phương;
nghiên cứu các nguyên nhân về mặt chính sách, chế độ, về tổ chức quản lý thu

Nhà nước về công tác quản lý thu thuế
Chương 2 : Thực trạng công tác thu thuế trên địa bàn Thị xã Tây Ninh.
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu
thuế trên địa bàn Thị xã Tây Ninh .
Dưới đây là nội dung của luận văn 5

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ
1.1 Một số khái niệm và vai trò của quản lý thu thuế:
1.1.1 Khái niệm, chức năng, phân lọai về thuế, các nguyên t ắc xây dựng
hệ thống thuế
1.1.1.1 Khái niệm về thuế:
Thuế là hình thức huy động tài chính cho Nhà nước. Khi Nhà nước ra đời,
thuế là công cụ để Nhà nước có nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà
nước. Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân
cư và các đối tượng khác trong nền kinh tế đóng góp cho Nhà nước.
Thuế là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên nguyên tắc luật

càng có nhu cầu cao về hàng hóa công cộng Nhìn chung đại bộ phận hàng hóa
công cộng do Nhà nước sản xuất và cung cấp. Để sản xuất và cung cấp hàng hóa
công cộng tất yếu phải bỏ chi phí, các chi phí đó phải được bù đắp từ nguồn thu
nhập của những người thụ hưởng hàng hóa công cộng.
Tuy nhiên tính bắt buộc của thuế không có nội dung hình sự, nghĩa là hành
động đóng thuế cho Nhà nước không phải là hành động xuất hiện khi biểu hiện
phạm pháp, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người
công dân.
Từ đặc trưng này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính
khác của ngân sách Nhà nước như phí, lệ phí, công trái hoặc hình thức phạt bằng
tiền.
Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không mang tính chất hoàn
trả trực tiếp, biểu hiện ở các khía cạnh: 7
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối
giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước
không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và
hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp .Người nộp thuế cũng không có quyền
đòi hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình
mới phát sinh khoản chuyển giao khoản thu nhập cho Nhà nước, mặt khác mức độ
cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng mức
độ chuyển giao .
Thứ hai, Khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không hoàn trả
trực tiếp có nghĩa là người nộp thuế suy cho cùng sẽ nhận được các dịch vụ công
cộng của Nhà nước. Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt sự khác nhau giữa thuế
và các khoản phí, lệ phí .
Việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế được quy định trước bằng
pháp luật.

Khi xem xét hệ thống thuế của một quốc gia nhất định, người ta ít chú ý
đến số lượng của các sắc thuế, các loại thuế trong hệ thống đó, mà chủ yếu đánh
giá, xem xét đến khía cạnh chất lượng của nó. Mỗi quốc gia tùy theo điều kiện lịch
sử, kinh tế, xã hội ở từng giai đoạn cụ thể mà định hướng xây dựng hệ thống thuế
riêng của mình. Hệ thống thuế đó phản ánh những mục tiêu của Nhà nước đặt ra.
Ở Việt nam, hệ thống chính sách thuế đã được cải cách đáng kể, đã xây
dựng được một hệ thống chính sách thuế gồm các sắc thuế, cụ thể :
- Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp ,thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu, nhập khẩu ,thuế sử dụng đất

nông nghiệp, thuế tài nguyên, thuế
nhà, đất, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế môn bài.
Hệ thống chính sách thuế hiện nay được xây dựng và hoàn chỉnh có tính
pháp lý cao nhất đó là các văn bản Luật và đã đáp ứng được một số yêu cầu của
một hệ thống chính sách thuế hiện đại, đó là : 9
+ Về tài chính: Đã bao quát hết mọi nguồn thu có thể bồi dưỡng, khai thác
và động viên nhằm đáp ứng được nhu cầu chi tiêu cần thiết ngày càng tăng của
ngân sách nhà nước, tạo được phần tích lũy cho phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở
hạ tầng.
+ Về kinh tế : Thực sự phát huy tác dụng là công cụ có hiệu lực của Nhà
nước tích cực góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tăng cường hạch
toán kinh tế, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh. Thực hiện tốt chính
sách kinh tế đối ngoại trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới.
+ Về xã hội : Từng bước thực hiện yêu cầu động viên đóng góp công bằng,
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư, giảm dần khoảng cách
chênh lệch về thu nhập và tiêu dùng xã hội, góp phần ổn định chính trị, kinh tế, an
toàn xã hội.

cá nhân .
- Thuế đánh vào tài sản, như: thuế nhà, thuế đất, thuế chuyển quyền sử dụng
nhà, đất
- Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu công cộng, như: thuế tài nguyên,
thu vốn ngân sách.
Vận dụng cách phân loại này trong thực tế cho thấy hệ thống thuế bao gồm
nhiều loại thuế với những tác dụng riêng có khác nhau, từng loại thuế phát huy vai
trò điều tiết trong các lĩnh vực nhất định song chúng vừa hổ trợ, bổ sung cho nhau
để đảm bảo thực hiện chức năng toàn diện của hệ thống thuế.
1.1.3. Nguyên tắc xây dựng hệ thống thuế
Nguyên tắc minh bạch: các quy định về thuế phải rõ ràng và mang tính đại
chúng nhằm ngăn ngừa hiện tượng lạm dụng thu đối với người nộp, ngăn ngừa
hiện tượng tham ô và biển lận thuế ở cán bộ thuế, đồng thời cho thấy thái độ tôn
trọng người nộp thuế của Nhà nước. Nguyên tắc minh bạch thể hiện qua các điểm
sau: 11
+ Thuế phải được xây dựng theo một trình tự pháp lý nghiêm ngặt
+ Nhà nước và các cơ quan hành thu phải tạo điều kiện để doanh nghiệp và
dân chúng thực hiện quyền được biết một cách minh bạch về số tiền thuế phải nộp,
thủ tục thu nộp thuế, những chính sách ưu đãi về thuế,
+ Những quy định về thuế phải phổ thông và nhất quán, tính toán thuế phải
đơn giản, dễ thực hiện và dễ kiểm tra.
+ Thuế thu phải thuận tiện cho người nôp theo thời gian và không gian.
- Nguyên tắc hiệu quả: Việc xây dựng các sắc thuế phải chú trọng đến tính
hiệu qủa kinh tế - xã hội. Hệ thống thuế có hiệu quả khi được phát huy tối đa tác
dụng. Thuế không những tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà nó còn có tac
dụng tăng cường quan lý các hoạt đông kinh tế xã hôi, điều chỉnh các hoạt động
kinh tế vĩ mô theo hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện, tạo hành lang

phát huy tốt tác dụng điều tiết vĩ mô của chính sách thuế, nhìn chung ở nước ta
cũng như các nước khác trên thế giới, nội dung của chính sách thuế thường xuyên
thay đổi cho phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế xã hội và phù hợp với tình
hình kinh tế, tài chính. Các sắc thuế đang áp dụng chủ yếu hiện đang được áp dụng
gồm có: Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế môn bài
Thuế gián thu (thuế tiêu dùng, thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế xuất nhập
khẩu ) là những loại thuế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh
hưởng đến tiêu dùng xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thu nhập và quan hệ
cung cầu trên thị trường. Thông qua thuế gián thu, Nhà nước có thể chi phối đến
việc lựa chọn và sản xuât "cái gì", sản xuất "như thế nào", "sản xuất cho ai" Dựa
vào công cụ thuế gián thu, Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc tích luỹ,
đầu tư và tiêu dùng. Từ chính sách thuế phân biệt theo thuế suất cao, thấp khác
nhau đối với từng ngành nghề kinh doanh, đối với từng sản phẩm dịch vụ, tuỳ
thuộc vào sự cần thiết của sản xuất và đời sống xã hội, tự nó đã có tác dụng điều
chỉnh việc phân bổ nguồn vốn trong xã hội.
Thông qua thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Nhà nước có thể
điều tiết hướng dẫn tiêu dùng, bảo vệ sản xuất trong nước, đồng thời khuyến khích 13
các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thay thế nguyên liệu nhập khẩu bằng nguyên
liệu sản xuất trong nước theo mức độ tỷ lệ nội địa hoá, góp phần tăng khả năng
cạnh tranh của hàng hoá trong nước, làm cho hàng hoá trong nước có sức cạnh
tranh ngay trong thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế.
Thuế trực thu (thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân) là những
loại thuế mà nhà nước có thể sử dụng để khuyến khích mở rộng đầu tư, đổi mới
công nghệ. Với chính sách ưu đãi qua thuế suất, thời gian miễn giảm thuế của thuế
TNDN, Nhà nước có thể khuyến khích đầu tư trong nước cũng đầu tư nước ngoài
vào những ngành, những lĩnh vực nhà nước khuyến khích đầu tư. Chẳng hạn áp

- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được ban hành thay thế luật thuế lợi tức
với một mức thuế suất thống nhất đã khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế tăng cường đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Chính sách
thuế TNDN hiện nay của Việt Nam đã khá tương đồng với chuẩn mực quốc tế.
Mức thuế suất 28% là tương đối thấp so với các nước trong khu vực. Việc bãi bỏ
chính sách thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài đã đáp ứng kịp thời yêu cầu
khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài.
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao cũng đựợc điều chỉnh 7 lần
thông qua việc giảm mức thuế suất luỹ tiến cao nhất và tăng khoảng giãn cách
giữa các bậc thuế, góp phần thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao ngoài nước.
Việt Nam cũng đã đàm phán và ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 46 nước
trên thế giới, tạo cơ sở pháp lý khuyến khích các nhà đầu tư và cá nhân người
nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Thứ tư: Thuế góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thuế phục vụ định hướng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ cung cầu của thị
trường. Có nhu cầu tất yếu đòi hỏi phải phát triển sản xuất, dịch vụ để cung ứng đủ
nhu cầu và ngược lại. Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là làm tăng tổng
cung gắn với kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt kết quả tốt.
Tổng cầu tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, chủ yếu là thu nhập
của các tầng lớp dân cư, giá cả từng sản phẩm, cơ cấu hàng hoá trên thị trường. 15
Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễn
giảm, các chế độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến việc tạo nên
tổng cầu theo hai hướng, khuyến khích phát triển hay hạn chế. Thuế cũng có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường. Đó là việc đánh thuế cao
hay thấp và các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập. Bên cạnh sự can thiệp của
thuế vào cả hai lĩnh vực cung và cầu, chính sách thuế cũng có tác động đến lạm

- Quản lý thuế có các vai trò sau:
Thứ nhất, quản lý thuế là thực hiện một chức năng quan trọng của Nhà nước
trong lĩnh vực tài chính.
Thứ hai, huy động nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước

Thứ ba, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc
sống.

Thứ tư, tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, công bằng thúc đẩy
đầu tư phát triển kinh tế.

- Tính tất yếu khách quan vai trò Nhà nước về quản lý thuế
+ Thứ nhất, vai trò Nhà nước về quản lý thuế nhằm tạo ra khuôn khổ pháp
lý về thuế
Trong những năm vừa qua, nhằm hướng tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành các cuộc cải cách
thuế, không ngừng hoàn thiện và kiện toàn hệ thống quản lý thuế nhằm đảm bảo
tính hiệu lực của các Luật thuế trong cả nước và tính hiệu quả của công tác quản lý
thu thuế. Nhờ vậy, công tác thuế đã góp phần tích cực vào nguồn thu Ngân sách
nhà nước và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trước những
yêu cầu đặt ra của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, cơ chế quản lý hiện nay đã bộc
lộ những hạn chế. Như vậy để tạo bộ khung pháp lý về quản lý thuế hoàn chỉnh,
phù hợp với những thay đổi của sự phát triển kinh tế quốc tế thì vai trò hoạch định,
cải cách chính sách về quản lý thuế nhằm nâng cao vai trò của nhà nước về quản
lý thuế là rất cần thiết. 17
+ Thứ hai, vai trò Nhà nước về quản lý thuế góp phần làm giảm những

18
thông lệ quốc tế về chính sách tài chính; đồng thời tạo điều kiện tối đa cho cho
người nộp thuế trong việc kê khai nộp thuế thì đòi hỏi Nhà nước mà đại diện là cơ
quan thuế phải nâng cao vai trò của mình trong quản lý thuế .
1.3.3- Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế
+ Hệ thống chính sách, pháp luật thuế
Hệ thống chính sách, pháp luật thuế được áp dụng thống nhất đối với mọi
thành phần kinh tế phải đảm bảo được sự động viên đóng góp bình đẳng và thực
hiện công bằng xã hội. Hệ thống thuế phải thực sự khuyến khích mọi thành phần
kinh tế, mọi ngành nghề kinh doanh, các tổ chức và cá nhân bỏ vốn, lao động, đầu
tư trang thiết bị và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cho sản xuất kinh doanh
theo quỹ đạo của kế hoạch nhà nước .
Hệ thống thuế mang tính chấp vá, chồng chéo, thiếu căn cứ kinh tế, có thể
vừa gây lạm thu, vừa gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, hệ
thống chính sách thuế khoa học, đơn giản, dễ hiểu và ổn định trong thời gian dài
tạo điều kiện nâng cao hiểu biết và nhận thức về nghĩa vụ công dân đối với thuế,
tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp dân cư và tự giác
chấp hành luật thuế, từ đó tác dụng thúc đẩy hạch toán kinh tế, thực hiện nghiêm
chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ .
+ Tổ chức bộ máy quản lý thuế
Yếu tố này có vai trò quan trọng mang tính quyết định cho việc thực thi chủ
trương, chính sách, bảo đảm thắng lợi cho công cuộc cải cách thuế. Hệ thống bộ
máy quản lý thuế phải được kiện toàn, củng cố để có đủ điều kiện thực hiện có
hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của cả hệ thống thuế. Bộ máy quản lý thuế phải
thống nhất từ trung ương đến địa phương, bảo đảm hiệu lực của cả hệ thống trong
quá trình triển khai hệ thống chính sách thuế mới .
Phẩm chất cách mạng và năng lực toàn diện của các cán bộ quản lý thuế
phải được nâng cao về quan điểm, lập trường, đạo đức, về trình độ nghiệp vụ thuế,
về khả năng tổ chức quản lý, thông thạo về kế toán, kiểm toán, có trình độ ngoại

20
biến, giáo dục pháp luật về thuế còn có ý nghĩa nâng cao tính tự giác, ý thức về
nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước và sự kiểm tra giám sát của xã hội đối với
việc thực thi các chính sách, pháp luật về thuế, đảm bảo tính công khai, công bằng
xã hội .
+ Sự phối hợp giữa các ban ngành chức năng
Thuế là một trong những chính sách lớn của Đảng, Nhà nước. Là công cụ
quan trọng để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hội hay nói một cách khác
thuế là một phạm trù kinh tế - chính trị tổng hợp, do đó thực hiện chính sách thuế
không phải là công việc đơn phương của ngành thuế. Cần có sự phối hợp với các
đoàn thể và cơ quan có liên quan để triển khai đồng bộ việc thi hành chính sách
thuế với các chính sách khác và quản lý kinh tế- xã hội trên địa bàn .
Tóm lại, công tác quản lý thu thuế có nhiều nhân tố tác động, chúng ta cần
chú trọng đến những nhân tố cơ bản nhất, nhưng cũng không nên bỏ qua những
yếu tố khác về kinh tế-xã hội và tác động của môi trường.
1.4 - Nội dung cơ bản của công tác quản lý thuế
1.4.1. Tổ chức bộ máy
Để thực hiện công tác quản lý thu thuế, trước hết bộ máy quản lý thuế phải
được tổ chức thống nhất từ trung ương đến địa phương, mỗi bộ phận có chức năng
riêng biệt, không chồng chéo đồng thời có sự phối hợp thống nhất chặt chẽ, hỗ trợ
nhau trong công tác quản lý thu thuế.

- Bộ máy thu thuế nhà nước được tổ chức thống nhất, thành hệ thống dọc từ
Trung ương đến các Quận, Huyện. Ở Trung ương có Tổng Cục Thuế thuộc Bộ Tài
Chính. Ở Tỉnh, Thành Phố, Đặc khu trực thuộc trung ương có Cục Thuế thuộc
Tổng Cục Thuế đồng thời chịu sự chỉ đạo của UBND cùng cấp. Ở các Huyện, thị
xã, thành phố trực thuộc tỉnh có Chi cục thuế chịu sự quản lý song trùng của Cục
thuế và UBND huyện, thị cùng cấp. Các đội thuế phường, xã trực thuộc chi cục

pháp khấu trừ, lệ phí trước bạ và một số đơn vị thu khác ngân sách.
- Chi Cục Thuế 22
Về cơ cấu tổ chức, Chi Cục Thuế gồm các tổ chuyên môn, nghiệp vụ và các
đội, tổ, trạm trực tiếp quản lý thu thuế. Chi cục Thuế có các nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Lập kế hoạch thu thuế hàng năm, quý, tháng trên địa bàn.
+ Tham gia với các cơ quan chức năng xét duyệt đăng ký kinh doanh, đăng
ký nộp thuế. Trực tiếp quản lý đăng ký tính thuế của các đối tượng nộp thuế do
Chi cục quản lý.
+ Tổ chức các biện pháp thu thuế: tính thuế lập sổ thuế, thông báo số thuế
phải nộp; đôn đốc thực hiện đầy đủ, kịp thời mọi khoản thu vào Kho bạc nhà
nước; xem xét và đề nghị xét miễn, giảm thuế và các khoản thu khác theo quy định
của nhà nước; thực hiện thanh quyết toán kết quả thu thuế đến từng hộ nộp thuế.
+ Tổ chức kiểm tra chống khai man lậu thuế; kiểm tra và xử lý các vi phạm
chính sách chế độ thuế; vi phạm kỷ luật trong nội bộ ngành thuế; giải quyết các
đơn khiếu nại theo thẩm quyền và theo sự ủy quyền của cơ quan thuế cấp trên.
+ Tổ chức công tác thống kê, kế toán, thông tin báo cáo tình hình và kết quả
thu nộp thuế theo chế độ quy định.
+ Quản lý kinh phí chi tiêu, trang phục, ấn chỉ của bộ máy thuế ở Quận,
Huyện.
1.5. Nhiệm vụ cơ bản của công tác quản lý thuế
Nhiệm vụ của công tác quản lý thuế là làm thế nào để quản lý tốt đối tượng
nộp thuế, quản lý đối tượng tính thuế, tính thuế đúng và nộp thuế vào ngân sách
nhà nước kịp thời, đúng quy định.
1.5.1. Quản lý đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế là cá nhân, đơn vị, tổ chức có thu nhập có nhiệm vụ
chuyển giao một bộ phận thu nhập của mình cho nhà nước thông qua việc đóng
thuế. Đối tưọng nộp thuế thưòng rất đông và đa dạng do đó công tác quản lý

+ Mọi sự vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề trên tuy rằg pháp luật đều có quy định, nhưng thực chất sự chấp
hành của các tổ chức, cá nhân kinh doanh chưa thật nghiêm túc: đối với doanh
nghiệp nhà nước thì thực hiện khá chặt chẽ, nhưng đối với khu vực kinh tế ngoài 24
quốc doanh thì quá trình kinh doanh gắn với lợi ích cá nhân nên rất khó quản lý
được doanh số tính thuế một cách đầy đủ .
1.5.3. Công tác tính thuế
Nếu quản lý tốt đối tượng nộp thuế, xác định đúng đối tượng tính thuế thì
tính thuế sẽ dễ dàng. Tuy nhiên việc xác định đối tượng tính thuế rất phức tạp, việc
tính thuế, lập sổ thuế, tính thuế nợ, tính phạt, miễn giảm thuế, là công việc rất
tốn nhiều công sức và rất dễ nhầm lẫn, gây thất thu thuế hoặc không công bằng
trong đối tượng nộp thuế. Cần phải cải tiến phương pháp tính thuế thủ công sang
tự động hoá bằng máy vi tính và cập nhật kịp thời các thông tin về kết quả kinh
doanh và khả năng nộp thuế của các tổ chức, cá nhân kinh doanh để tính thuế
nhanh chóng, chuẩn xác, thông báo nộp thuế kịp thời đến đối tượng nộp thuế.
Về phía đối tượng nộp thuế, do trình độ còn hạn chế và không đồng đều do
đó đòi hỏi cần phải có chính sách thuế đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu và tạo điều kiện
cho đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế vào ngân sách nhà nước.
1.5.4. Nộp thuế vào ngân sách nhà nước
Nộp thuế vào ngân sách nhà nước kịp thời là kết quả sau cùng của công tác
hành thu. Đối với các doanh nghiệp tự kê khai, nộp thuế trực tiếp vào Kho bạc
Nhà nước thì khâu kiểm tra tờ khai thuế cần được thực hiện nhanh và chuẩn xác để
đối tượng nộp thuế trực tiếp nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước. Đồng thời cơ quan
thuế phải cập nhật số liệu nộp thuế của từng đối tượng để nắm chắc thông tin, đôn
đốc hoặc xử lý các trường hợp chậm nộp thuế.
Đối với các hộ kinh doanh ngoài quốc doanh nộp thuế trực tiếp tại Kho bạc
hoặc đội thuế thì công tác kiểm tra, đôn đốc nộp thuế khá vất vả, bởi vì số lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status