XÂY DỰNG hệ THỐNG ĐÁNH GIÁ NĂNG lực CHUỖI CUNG ỨNG - Pdf 29

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Quản lý chuỗi cung ứng
2.1.1. Khái niệm
Theo Beamon (1999) “Chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp trong đó nguyên vật liệu
được sản xuất thành sản phẩm cuối cùng, và giao cho khách hàng thông qua hệ thống
phân phối, bán lẻ hoặc cả hai.” Một chuỗi cung ứng cơ bản được minh họa như sau.
Hình 2.1 Mô hình chuỗi cung ứng cơ bản
Nguồn Midha, V.K., Mathur, G. & Sharma, C. (2007)
Một khái niệm khác về chuỗi cung ứng được phát biểu như sau: “Một mạng lưới các tổ
chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên (upstream) và liên kết dưới
(downstream) bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo giá trị gia tăng cho
sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng” (Christopher, 1992)
Nguồn: Simon Croom, Pietro Romano, Mihalis Giannakis, (2000).
Handfiel & Nichols (1999) phát biểu: “Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt
động liên quan tới dòng chảy và chuyển đổi của sản phẩm từ trạng thái nguyên vật liệu
tới người sử dụng cuối cùng, cũng như dòng chảy thông tin. Cả dòng chảy nguyên vật
liệu lẫn thông tin phải lưu thông phía trên và phía dưới của chuỗi cung ứng”.
Dựa trên những khái niệm về chuỗi cung ứng, Handfield và Nichols (1999) đã phát
biểu: “Quản lý chuỗi cung ứng là sự tích hợp của tất cả các hoạt động sản xuất một sản
phẩm, được sử dụng để tạo ra một lợi thế cạnh tranh bằng cách tăng cường mối quan

tin cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng. Hình 2.2 Các thành phần chuỗi cung ứng mở rộng
Nguồn: Michael Hugos, Essentials of Supply chain management (2010).

2.2. Tổng quan về chuỗi cung ứng ngành dệt may
2.2.1. Chuỗi cung ứng ngành dệt may
Chuỗi cung ứng ngành dệt may rất phức tạp với nhiều doanh nghiệp tham gia từ khắp
mọi miền đất nước. Forza & Vinelli, (1997) đã mô tả những thành phần chính trong
chuỗi cung ứng ngành dệt may như hình 2.3. Trong đó, mục tiêu quản lý chuỗi cung
ứng là giảm thời gian chờ và phản hồi nhanh với thay đổi của môi trường.
Hình 2.3 Các thành phần chuỗi cung ứng dệt may
Nhà
cung cấp
Nhà
cung cấp
Công ty
Khách
hàng
Khách

ra sản phẩm may mặc thường đi qua quy trình 8 bước như sau (Burn & Bryant, 2002)
Hình 2.4 Quá trình tạo sản phẩm may mặc
Nghiên cứu
Thiết kế
Phát triển thiết kế & lựa chọn phong cách
Đánh giá thử mẫu thiết kế
Sản xuất thử
Tìm nguồn cung ứng
Sản xuất và đảm bảo chất lượng
Phân phối và bán lẻ
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 9

Tuy nhiên, một số quy trình sản xuất trong ngành được tổng hợp thành bốn giai đoạn:
(1) phát triển sản phẩm, (2) thu mua, (3) sản xuất và (4) phân phối và bán lẻ, với sự
tham gia ít nhất của bốn thành phần đó là: những nhà bán lẻ, đơn vị quản lý thương
hiệu, doanh nghiệp may mặc và đơn vị phụ trợ nguyên vật liệu. Trách nhiệm của các


Ghi chú: x: vai trò hỗ trợ, *: vai trò chính
Từ bảng 2.1, ta thấy được sự khó khăn trong môi trường kinh doanh ngành dệt may
hiện nay. Các doanh nghiệp trong ngành cần có sự liên kết và chia sẻ thông tin trong
toàn chuỗi cung ứng. Có nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của việc chia sẻ
thông tin trong chuỗi cung ứng để đạt được lợi thế cạnh tranh và hoạt động hiệu quả
như một đơn vị độc lập (Stein & Sweat, 1998). Hơn nữa, Yu et al, (2001) đã chỉ ra
rằng có thể giảm ảnh hưởng của hiệu ứng Bullwhip thông qua việc chia sẻ thông tin
giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Những lợi ích của việc chia sẻ thông tin
trong chuỗi cung ứng có thể nhắc đến đó là giảm tồn kho, tăng thời gian chu kỳ, cải
thiện dự báo, và nâng cao chất lượng sản phẩm với chi phí phù hợp. Vì vậy, chia sẻ
thông tin nên được xem là một thuộc tính quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành dệt
may hiện nay.
Phát triển sản phẩm dệt may yêu cầu mẫu thiết kế và kỹ thuật may phải có khả năng
sản xuất và thị trường cung cấp cũng như tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Theo
Wickett et al, (1999) thì quá trình phát triển sản phẩm trong dệt may cần chú ý các vấn
đề về sự phù hợp của mẫu mã, mô hình sản xuất, nguồn nguyên liệu, dây chuyền lắp
ráp và các chi phí liên quan. Bên cạnh đó các yêu cầu của khách hàng về phong cách,
màu sắc, nguyên liệu, hàm lượng xơ trong vải , cũng cần phải được cân nhắc trong
quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm. Do đó, phát triển sản phẩm là một thuộc tính
quan trọng của chuỗi cung ứng dệt may.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 10

Trong mô hình thẻ điểm cân bằng (Balanced Score Card) của Kaplan & Norton (1992)
thì thẻ điểm học tập và cải tiến, thừa nhận rằng các công ty cần phải không ngừng học
tập và liên tục cải tiến để đảm bảo lợi nhuận tương lai. Trong ngành dệt may cải tiến là
một điều quan trọng để thu hút khách hàng và duy trì lợi nhuận. Các công nghệ mới,
nguyên liệu mới là những nhân tố quan trọng để tạo lợi thế cạnh tranh trong ngành. Vì

qua việc tích hợp các hoạt động và thông tin từ các thành viên khác dọc theo chuỗi
cung ứng gần khách hàng hơn như nhà bán lẻ, nhà phân phối
Cuối cùng đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng sẽ giúp doanh nghiệp thấy được cấu trúc
chi phí của các thành viên trong chuỗi, từ đó đề ra các cơ hội cho việc cải tiến, đồng
thời giúp doanh nghiệp kiểm soát mức dịch vụ khách hàng nhằm gia tăng hiệu quả
hoạt động của chuỗi.
Khi đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng tích hợp sẽ đem đến những kết quả sau:
 Giảm 25 – 50% tổng chi phí toàn chuỗi cung ứng
 Giảm 25 – 60% lượng tồn kho
 Tăng 25 – 80% tính chính xác của dự báo
 Cải thiện 30 – 50% thời gian chu kỳ thực hiện đơn hàng
Qua đó, thấy rằng đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng là rất quan trọng trong việc gia
tăng hiệu quả hoạt động của chuỗi thông qua các kế hoạch cải tiến phù hợp được đề
xuất từ các tiêu chí đánh giá và sử dụng thông tin trong quá trình đánh giá.
2.3.2. Một số mô hình đo lường năng lực chuỗi cung ứng.
Hơn một thế kỷ qua, có rất nhiều phương pháp tiếp cận để đo lường năng lực chuỗi
cung ứng đã được các nhà nghiên cứu tìm ra. Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến
3 mô hình phổ biến hiện nay bao gồm:
(1) Mô hình BSC (The Balanced Scorecard – BSC)
(2) Mô hình SCOR (Supply chain operational reference – SCOR)
(3) Mô hình ROF (Resource – Output – Flexibility)
2.3.2.1. Mô hình BSC
Phương pháp thẻ điểm cân bằng (BSC) được phát triển từ những năm 1992 bởi Kaplan
và Norton như là một công cụ quản lý hoạt động không thể thiếu của các công ty. BSC
cung cấp thông tin phản hồi cho cả quá trình kinh doanh nội bộ và hiệu quả đầu ra một
cách liên tục giúp công ty cải thiện chiến lược và kết quả vận hành. BSC đề nghị các
nhà quản lý cần xem xét tổ chức từ bốn quan điểm khác nhau và phát triển các chỉ số
đo lường thông qua thu thập dữ liệu và phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố trong
bốn thẻ điểm: (1) thẻ điểm tài chính, (2) thẻ điểm khách hàng, (3) thẻ điểm hoạt động
nội bộ và (4) thẻ điểm học hỏi và phát triển.
Hình 2.5 Khung mẫu đo lường chuỗi cung ứng
Lợi ích khách hàng cuối cùng
 Cải tiến chất lượng sản phẩm/ dịch vụ
 Cải tiến thời gian
 Cải tiến sự linh hoạt
 Cải tiến giá trị sản phẩm
Mục tiêu chuỗi cung ứng
 Giảm thời gian lãng phí
 Cạnh tranh trên thời gian
 Phản hồi linh hoạt
 Giảm chi phí đơn vị sản phẩm
Lợi ích tài chính
 Lợi nhuận biên cao
 Cải tiến dòng tiền
 Tăng doanh thu
 Tăng chỉ số đầu tư trên tài sản
Cải tiến chuỗi cung ứng
 Cải tiến sản phẩm/ quá trình

Quản lý quan hệ trong chuỗi
 Dòng thông tin trong chuỗi
 Mối đe dọa/ s thay thế
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 13

các chỉ số xoay quanh 5 thuộc tính của chuỗi cung ứng là: (1) độ tin cậy, (2) độ phản
hồi, (3) độ linh hoạt, (4) chi phí trong chuỗi và (5) hiệu quả quản lý tài sản. Mô hình
được sử dụng để đánh giá quy trình hoạt động hơn là các chức năng cụ thể.
Lợi ích khách hàng cuối cùng
 Cải tiến chất lượng sản phẩm/ dịch vụ
 Cải tiến thời gian
 Cải tiến sự linh hoạt
 Cải tiến giá trị sản phẩm
Mục tiêu chuỗi cung ứng
 Giảm thời gian lãng phí
 Cạnh tranh trên thời gian
 Phản hồi linh hoạt
 Giảm chi phí đơn vị sản phẩm
Lợi ích tài chính
 Lợi nhuận biên cao
 Cải tiến dòng tiền
 Tăng doanh thu
 Tăng chỉ số đầu tư trên tài sản
Cải tiến chuỗi cung ứng
 Cải tiến sản phẩm/ quá trình

Quản lý quan hệ trong chuỗi
 Dòng thông tin trong chuỗi
 Mối đe dọa/ s thay thế
Thẻ điểm
hoạt động nội bộ

Thẻ điểm
khách hàng


Chi phí chuỗi cung ứng
- Giá vốn hàng bán
- Tổng chi phí quản lý chuỗi
- Năng suất gia tăng giá trị
- Chi phí bảo hành
Hiệu quả quản lý tài sản
-Thời gian chu kỳ dòng tiền
- Ngày hàng tồn kho
- Vòng quay tài sản

2.3.2.3. Mô hình ROF
Thông qua các nghiên cứu về mô hình hoạch định chuỗi cung ứng và các hệ thống
đánh giá năng lực (PMSs). Beamon (1999) thấy rằng hệ thống đánh giá năng lực hiện
tại chưa đầy đủ bởi vì chỉ sử dụng các chỉ số đo lường chi phí là cơ bản. Từ đó, mô
hình ROF được đề xuất để đo lường toàn diện các khía cạnh của chuỗi cung ứng.
Trong ROF thì mục tiêu chiến lược của toàn chuỗi cung ứng là chìa khóa để xác định
các chỉ số đánh giá xoay quanh ba thuộc tính là: (1) nguồn lực, (2) đầu ra, (3) tính linh
hoạt. Trong đó mỗi thuộc tính có một mục tiêu đánh giá khác nhau như bảng 2.3.
Hệ thống đánh giá năng lực (PMS) phải đo lường được một trong ba thuộc tính và cần
có ít nhất một chỉ số đo lường riêng cho từng đơn vị trong chuỗi cung ứng và các chỉ
số này phải phù hợp với mục tiêu chiến lược của từng đơn vị trong chuỗi cung ứng.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 15

Bảng 2.3 Mục tiêu của từng thuộc tính đo lường trong mô hình ROF
Thuộc tính
Mục tiêu
Mục đích
Nguồn lực

- Chi phí sản xuất
- Chi phí tồn kho
- Vòng quay tồn kho
Đầu ra
- Doanh thu
- Lợi nhuận
- Tỷ lệ hoàn thành đơn hàng
- Giao hàng đúng hạn
- Đơn hàng trễ/ hết hàng
- Thời gian phản hồi khách hàng
- Thời gian chờ sản xuất
- Sai xót trong giao hàng
- Phản ánh của khách hàng
Độ linh hoạt
- Linh hoạt trong số lượng
- Linh hoạt trong giao nhận
- Linh hoạt trong điều phối
- Linh hoạt trong sản phẩm mới

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 16

Qua thời gian, có nhiều mô hình phát triển hệ thống đánh giá năng lực nói chung và
năng lực chuỗi cung ứng nói riêng được đề xuất. Tuy nhiên, qua nghiên cứu sơ bộ ba
mô hình cơ bản trên, tác giả có những nhận định sau:
(1) Các mô hình đều có cấu trúc phân cấp gồm các thuộc tính cấp một liên kết với
các chỉ số đánh giá cấp hai trong từng thuộc tính đo lường.
(2) Hệ thống đo lường năng lực phải liên kết các tổ chức trong cùng một chuỗi
cung ứng.

Chỉ số đo lường
Thời gian
- Giao hàng đúng hạn
- Thời gian chu kỳ đặt hàng
- Thời gian phản hồi thông tin
- Thời gian chu kỳ hoạch định/ dự báo
- Biến động thời gian chu kỳ hoạch định
Chất lượng
- Sự hài lòng của khách hàng
- Chính xác của quá trình
- Thực hiện đơn hàng hoàn hảo
- Chính xác của dự báo
- Chính xác của hoạch định
- Tuân thủ lịch trình đã thông báo
Chi phí
- Vòng quay tồn kho thành phẩm
- Vòng quay tiền mặt
- Chi phí dịch vụ
- Tổng chi phí giao hàng
- Chi phí dư thừa công suất
- Chi phí thiếu hụt công suất
Chỉ số khác
- Sự sẵn có của thông tin
- Thời gian thay đổi đơn hàng
- Cực tiểu số lượng đơn hàng

2.4.3. Chỉ số đo lường tập trung vào chuỗi cung ứng
Đánh giá hoạt động logistics hướng đến tập trung dọc theo các chức năng tiến tới dọc
theo các tổ chức đã đặt ra yêu cầu cần phải tích hợp các đơn vị tham gia vào hoạt động
gọi chung là chuỗi cung ứng.

- Đáp ứng đơn hàng khẩn
- Kế hoạch phân phối hiệu quả
- Chi phí quản lý thông tin khách hàng
- Chất lượng tài liệu hướng dẫn
- Giao hàng không sản phẩm lỗi
- Chất lượng đóng gói sản phẩm
Quá trình nội bộ
- Thời gian chu kỳ chuỗi cung ứng
- Thời gian giao hàng so với chuẩn của ngành
- Nhà cung cấp giao hàng không sản phẩm lỗi
- Kỹ thuật dự báo chính xác
- Thời gian chu kỳ phát triển sản phẩm
- Thời gian chu kỳ đặt hàng
- Hiệu quả kế hoạch sản xuất tổng thể
- Tổng chi phí tồn kho
- Chi phí tồn kho nguyên vật liệu & đầu vào
- Chi phí tồn kho trong vận chuyển
- Chi phí tồn kho thành phẩm
- Chi phí lãng phí
- Tỷ lệ đơn hàng trả lại
- Hiệu suất chu kỳ đặt hàng
- Tần suất giao hàng
- Sử dụng bảng biểu, số liệu
Khả năng học hỏi
& phát triển
- Đáp ứng với vấn đề kỹ thuật
- Sáng kiến giảm chi phí
- Số lượng nhà cung cấp dự phòng
- Kỹ thuật dự báo chính xác
- Chu kỳ phát triển sản phẩm

- Chi phí vận chuyển bên ngoài
- Tính chính xác mức tồn kho
66%
61%
57%
53%
51%
Chỉ số ít sử dụng
Chỉ số quan trong nhất ở mức độ công ty
logistics
- Chi phí phục vụ
- Đơn vị xử lý trên một đơn vị thời gian
- Đơn hàng xử lý trên một đơn vị t/gian
- Hiệu quả lao động và công suất
- Chu kỳ thời gian dòng tiền
- Thời gian phản hồi hư hỏng
37%
37%
36%
36%
32%
30%
- Giao hàng đúng hạn
- Tỷ lệ lắp đầy
- Tuân thủ cam kết với khách hàng
- Tính chính xác mức tồn kho
- Chi phí vận chuyển bên ngoài
61%
56%
55%

(2) Các chỉ số cần được tích hợp qua nhiều đối tượng trong chuỗi hơn là đánh giá
của khách hàng cuối cùng.
(3) Các chỉ số xoay quanh thuộc tính dịch vụ khách hàng, thực hiện đơn hàng, thu
mua và các lĩnh vực logistics khác.
 Từ đó, yêu cầu các chỉ số của hệ thống phải đánh giá đầy đủ mạng lưới chuỗi
cung ứng cần đo.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 20

2.5. Phương pháp ra quyết định đa thuộc tính (MADM)
2.5.1. Giới thiệu phương pháp MADM
Ra quyết định đa thuộc tính (Multiple Attribute Decision Making) là quá trình ra quyết
định, đánh giá, lựa chọn…dựa trên nhiều phương án khả thi được đặc trưng bởi nhiều
thuộc tính mâu thuẫn nhau (Hwang & Yoon, 1981). MADM là một nhánh của ra quyết
định đa tiêu chí (MCDM) và có liên quan đến quá trình ra quyết định đa mục tiêu
(MODM). Đối lập với MADM, vấn đề của MODM là thiết kế các phương án được
thiết lập từ nhiều mục tiêu mâu thuẫn nhau.
Các yếu tố đặc trưng của phương pháp MADM bao gồm:
 Phương án thay thế: một số hữu hạn các phương án thay thế. Có thể từ một vài cho
đến hàng ngàn phương án được sàng lọc, ưu tiên, chọn lựa và xếp hạng.
 Đa thuộc tính: mỗi vấn đề ra quyết định đều có nhiều thuộc tính. Một người ra
quyết định phải tìm ra mối liên hệ của các thuộc tính cho mỗi vấn đề. Và số lượng
thuộc tính phụ thuộc vào bản chất tự nhiên của vấn đề.
 Vô tỉ đơn vị: mỗi thuộc tính có nhiều đơn vị đo lường khác nhau.
 Trọng số thuộc tính: tất cả các phương án dùng trong MADM đều yêu cầu thông
tin liên quan đến mức độ quan trọng tương đối của mỗi thuộc tính và được đánh
giá bởi thang đo thứ tự, tỉ lệ hoặc khoảng cách. Các trọng số có thể được đánh giá
trực tiếp bởi người ra quyết định hoặc hình thành qua nghiên cứu thực nghiệm.
 Ma trận ra quyết định: một vấn đề MADM có thể được thể hiện thông qua dạng

người ra quyết định.
2.5.2.2. Lý thuyết độ hữu dụng (MAUT)
Phương pháp tiếp cận MAUT (Multiattribute Utility Theory) được phát triển chủ yếu
bởi Keeny & Raiffa (1976). Về mặt lý thuyết phương pháp dựa trên giả định về sự hợp
lý của các mô hình độ hữu dụng được đưa ra bởi Neumann & Morgenstern (1944).
Ý tưởng cơ bản của phương pháp là các vấn đề lựa chọn có thể chia nhỏ thành nhiều
phương án với các thuộc tính. Sự đánh đổi giữa các thuộc tính, trọng số quan trọng của
người sử dụng thì giá trị định lượng và độ hữu dụng của một thuộc tính được đo. Cuối
cùng, độ hữu dụng của một thuộc tính được kết hợp để phát triển một chỉ số hữu dụng
tổng hợp cho mỗi phương án thay thế. Cách xác định giá trị hữu dụng tổng hợp được
tính như sau:
u (x
1
, x
2,
x
3, ….,
x
n)
= f [u
1
(x
1
), u
2
(x
2
), u
3
(x

án quyết định tốt nhất” được đặt ở đỉnh đầu của mô hình, tượng trưng cho mục tiêu
cần phân tích (cấp độ 1). Sau đó, mô hình phân cấp được chia thành các tiêu chí định
lượng quan trọng (cấp độ 2). Ở cấp độ 3 của mô hình chúng ta có các phương án loại
trừ nhau cần được xem xét. Hình 2.7 Mô hình phân cấp thứ bậc
[2]. Đánh giá: được sử dụng để so sánh các yếu tố ở một cấp độ của mô hình với
một yếu tố ở cấp độ ngay trên nó. Quá trình so sánh được thực hiện từng cặp với thang
điểm từ 1 – 9. Khi n yếu tố được so sánh với mỗi yếu tố khác sẽ có tổng cộng n x n ma
trận đối xứng và có n (n – 1)/2 phép so sánh. Phương pháp vector riêng được sử dụng
để ước tính sự liên quan của các yếu tố được so sánh.
Quyết định tốt nhất
Tiêu chí 1
Tiêu chí 2
Phương án 1
Phương án 2
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 23

Sử dụng phương pháp vector riêng và trị riêng để xác định trọng số của các nhân tố từ
ma trân so sánh cặp. Giả sử chúng ta muốn so sánh bộ k nhân tố trong cặp theo trọng
số tương đối của chúng. Biểu thị các nhân tố bởi F

1


w
1


w
1
w
1w
jw
kF
1

.

.

F
i

w
1w
jw
k.
.

.

.

.
.

.

.

.

k



F
1

F
j


F
k

w
1


w
1


w
1

.

.

.
.

.
.
.

.

.
.

.
.
w
i


w
i


w
i

.


.
.
.

.

.
.

.
.
.

.

.
.

.
F
k
w
k


w
k








= tr (A) = tổng các yếu tố đường chéo = k. Do chỉ
một trong số những y
i
được gọi là y
max
và y
1
= 0, y
i
= y
max.
Nếu A
^
là ma trận của cặp
giá trị so sánh, khi đó trị riêng W
^
tương ứng với y
max
sẽ thỏa mãn phương trình A
^
W
^
= y
max
W

j
là trọng số được đánh giá cho tiêu chí j
W
ij
là trọng số của phương án i trong tiêu chí j
Phân tích AHP sử dụng so sánh cặp để đo lường tác động của các nhóm tiêu chí ở cấp
độ một của mô hình phân cấp lên các nhóm ở mức độ cao hơn thông qua thang đo tỷ
lệ. Thang đo tỷ lệ là một công cụ trong việc so sánh giữa các thuộc tính và có khả năng
đo lường các nhân tố hữu hình và vô hình
Một ưu điểm khác của AHP là cho phép những phán đoán không thống nhất. Tuy
nhiên, AHP cũng đo lường mức độ không đồng nhất và thiết lập mức điều chỉnh phù
hợp cho các ý kiến bất đồng.
2.6. Logic mờ trong kỹ thuật ra quyết định
Kỹ thuật ra quyết định đặc trưng bởi quá trình chọn lựa và sàng lọc các phương án “đủ
tốt” từ các phương án được xem xét nhằm thỏa mãn một hoăc nhiều mục tiêu đặt ra.
Hầu hết quá trình ra quyết định thường liên quan đến các yếu tố không chắc chắn. Do
đó, một trong những khía cạnh quan trọng của một quyết định hữu dụng là cung cấp
khả năng xử lý thông tin không chính xác và mơ hồ chẳng hạn như: lợi nhuận “cao”,
tốc độ “nhanh”, giá “rẻ”…
Theo như Bellman & Zadeh (1970) thì nhiều quá trình ra quyết định trong thực tiễn
xảy ra trong môi trường với nhiều mục tiêu, những hạn chế và hậu quả không được
biết một cách chính xác. Một mô hình ra quyết định hữu dụng phải xử lý những thông
tin và tri thức cũng như các thuộc tính và quan điểm không chắc chắn, không đầy đủ.
Đồng thời mô hình phải bao gồm những quá trình hỗ trợ việc xác định, đo lường và
kết hợp tiêu chí cùng các phương án được để tạo ra một mô hình khái niệm cho việc ra
quyết định và đánh giá trong môi trường mờ. Năm 1965, L.A. Zade đã giới thiệu lý
thuyết tập mờ dựa trên khái niệm ranh giới của các tập hợp liên quan đến các dữ liệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 25

(1974), được khái quát như định nghĩa thông thường của một phép đo bằng việc thay
thế một thuộc tính cộng thông thường bằng một thuộc tính biến thiên trong tập hợp.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 26

Sugeno cho rằng độ đo phù hợp với các lớp mờ và những phát biểu định tính mà phụ
thuộc nhiều vào ý kiến chủ quan của người đánh giá.
Một độ đo trong không gian hữu hạn (X, Ω), bao gồm một tập hợp X và một số σ –
algebra (đại số) là một tập con của X. Một tập con A của X được gọi là độ đo hoặc độ
đo liên quan tới Ω nếu A ɛ Ω. Một độ đo μ trong một không gian đo lường (X, Ω) là
một hàm thiết lập các số thực không âm được xác định cho tất cả các tập hợp của Ω
với μ (ϕ) = 0, và nếu 


là một họ không tách rời của những tập hợp với 

ɛ Ω,
với i  0, khi đó:





 =






Ω > là một hàm g: Ω  [0, 1], thỏa mãn các yêu cầu sau:
1. g(ϕ) = 0, g(X) = 1
2. 



 



nếu A  B
3. Nếu 


là một chuỗi các giá trị tăng của những tập hợp đo lường, khi đó


(

 = 




Do bản chất định nghĩa của độ đo mờ g, nên độ đo liên hợp của hai tập con rời rạc
không thể tính toán trực tiếp từ các thành phần của phép đo. Trong ý tưởng đó, Sugeno
đã giới thiệu chỉ số λ gọi là độ đo mờ đáp ứng. Theo như thuộc tính cộng thêm cho tất
cả các tập hợp A, B thỏa điều kiện:
A, B  X và A  B = ϕ,
g (A  B) = g(A) + g(B) + λg(A)g(B) cho những λ > -1. (2.1)

}  X. Tập A có
m phần tử x
i1
là phần tử đầu tiên của phân lớp i và x
in
là phần tử thứ m trong phân lớp
i – là tên chung cho phân lớp, khi đó có biểu thức:
g(A)=






+ λ
 










+ + 






 là tổng của tất cả các mật độ mờ từ
yếu tố thứ 1 đến m của phân lớp i (m là số phần từ trong tập con A).
 Phần thứ hai trong biểu thức 2.2 (
 










 nghĩa là ảnh hưởng liên
hợp của hai mật độ mờ, trong đó 


là mật độ mờ thứ j trong phân lớp i và 



mật độ mờ thứ k của phân lớp i.
 Phần thứ ba của biểu thứ 2.2 (





Xét một ví dụ đơn giản của một tập hợp X với ba cấp độ hiểu biết. Tập hợp X được
biểu diễn như sau X = { x
1
, x
2
, x
3
}, trong đó giá trị mật độ của từng tập con trong X
như sau: g
1
= 0,1, g
2
= 0,3, g
3
= 0,2.
Sử dụng độ đo mờ g theo định nghĩa Sugeno, thì cần phải tính tham số đáp ứng  qua
phương trình: 0,006 λ
2
+ 0,11 λ – 0,4 = 0.
Nghiệm duy nhất lớn hơn -1 của phương trình là λ = 3,109 và đó là quá trình độ đo mờ
của tập X. Bảng 2.8 bên dưới trình bày kết quả đạt được ứng với từng tập con A trong
tập tổng X. Theo như mong đợi, các tập con của phần tử { x
2,
x
3
} thì quan trọng đáng
kể hơn để khẳng định các giả thuyết hơn các tập con {x
1,
x
2

x
2
}
0,493
{x
1,
x
3
}
0,362
{x
2,
x
3
}
0,687
{x
1,
x
2,
x
3
}
1

2.7.1.2. Tích phân mờ
Dựa trên khái niệm độ đo mờ, Sugeno (1974) đã đưa ra định nghĩa tích phân mờ là
một hàm chức năng phi tuyến, rất giống với tích phân Lebesque, trong đó tích phân
được định nghĩa dựa trên tập hợp mờ.
Cho một không gian độ đo mờ (X, Ω) và hàm h : X  [0,1] là một hàm chức năng đo




 




trong đó 

   .
Để giải thích tích phân mờ, ta giả sử rằng một đối tượng được đánh giá từ quan điểm
của một tập hợp nguồn X. Một hàm h(x) € [0,1] tượng trưng cho quyết định của đối
tượng khi giá trị x € X được xem xét và hàm g({x}) biểu thị mức độ quan trọng của
giá trị x. Với giả định rằng đối tượng được đánh giá sử dụng các giá trị từ A  X. Điều
đó thì phù hợp để xem xét một hàm định lượng: W(A) = 

 như là một
quyết định an toàn nhất mà đối tượng cung cấp và g(A) nhấn mạnh tầm quan trọng của
lớp con trong tập tổng. Giá trị đạt được từ so sánh hai số trên về cực tiểu toán tử được
giải thích như mức độ đồng ý giữa khả năng thực sự h(x) và sự mong đợi, g. Do đó,
tích phân mờ được giải thích như là quá trình tìm kiếm thứ hạng cao nhất của sự đồng
ý giữa đánh giá khách quan và sự mong đợi.
Các tính chất của tích phân mờ theo quan điểm của Wierzchon, 1976 như sau:
1. Nếu h(x) = c, với mọi x € X,     , thì










 








Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trang 29

4. Với {A
i
: i = 1,2, , n} là một phần của tập X, thì





 













 trong đó A
i
= {x
1
, …, x
i
}.
Chú ý rằng khi độ đo mờ g chính là λ, thì giá trị của g(A
i
) có thể được xác định đệ qui
như sau:
g(A
i
) = g({x
1
}) = g
1

g(A
i
) = g({x
1

  













 









 




 






 




  







Trong đó, H
1
= {x
1
}, H
2
= {x
1
, x
2
}, H
n

Một trong những ưu điểm chính của phương pháp này là dễ hiểu và áp dụng với nhiều
thông tin, tiêu chí định tính lẫn định lượng. Các phép tính toán trong AHP không quá
phức tạp và liên quan đến nhiều công thức toán. Tuy nhiên, AHP không phản ánh cách
suy nghĩ của con người bởi sự không chắc chắn và mơ hồ từ nhận thức chủ quan và
kinh nghiệm của người ra quyết định.
Để giải quyết vấn đề trên, nhiều phương pháp phân tích thứ bậc mờ FAHP đã được
trình bày bởi nhiều tác giả khác nhau. Người ra quyết định thường sẽ tự tin cung cấp
những phán đoán ước lượng hơn là những phán đoán với giá trị chính xác vì họ không
thể thể hiện rõ ràng các mong muốn của mình do bản chất mờ của quá trình so sánh.
Một số ưu điểm của FAHP được đề cập bởi Satty (1980) so với phương pháp AHP cố
điển như sau:
 Số mờ là một lợi thế cho việc mở rộng phạm vi đánh giá bởi một ma trận quyết
định đặc trưng trong phương pháp AHP cổ điển.
 Số mờ cho phép người ra quyết định có không gian tự do cho những ước lượng
liên quan đến nhiều mục tiêu. Các đánh giá có thể đi từ bi quan đến lạc quan, từ
không quan trọng đến quan trọng.
 Sự kết hợp các đánh giá từ các tiêu chí nhỏ đến các tiêu chí lớn hơn thì tốt hơn
phương pháp vector riêng truyền thống, với một ma trận so sánh vuông cho tất cả
các tiêu chí.
Bảng 2.9, tác giả tổng hợp một số nghiên cứu về FAHP để thấy được những ưu và
nhược điểm của phương pháp.
Bảng 2.9 Tổng hợp một số ưu, nhược của FAHP qua các nghiên cứu
Nghiên cứu
Đặc điểm phương pháp
Ưu (A), nhược điểm (D) phương pháp
Buckley
(1985)
- Sử dụng số mờ theo phân bố
hình thang
- Sử dụng phương pháp trung bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status