Chương 1: Giới thiệu đề tài
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về đánh giá năng lực chuỗi cung ứng
Từ những năm 80, chuỗi cung ứng được biết đến như là một tập hợp các phương pháp
được sử dụng để tích hợp một cách hiệu quả các nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà kho
và các cửa hàng để sản phẩm được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng vị trí và
đúng thời điểm nhằm cực tiểu chi phí toàn bộ hệ thống trong khi thỏa mãn được các
mức độ nhu cầu. Tuy nhiên, hiệu quả vận hành của chuỗi cung ứng đòi hỏi việc thiết
kế và phân tích chuỗi cung ứng như là tổng thể xuyên suốt các thành phần tham gia
vào chuỗi, thay vì chỉ xem xét và đánh giá hiệu quả vận hành ở một công ty duy nhất.
Nghiên cứu của Clark và Scarf (1960) đã đặt nền tảng cho các nghiên cứu về thiết kế
chuỗi cung ứng qua nhiều giai đoạn mà chỉ tiêu đo lường hiệu quả chuỗi là giảm các
chi phí liên quan đến tồn kho trong toàn chuỗi cung ứng.
Nghiên cứu về thiết kế và phân tích chuỗi cung ứng, các nhà nghiên cứu thường giải
quyết một hoặc hai mục tiêu như giảm chi phí hoặc tăng khả năng phục vụ khách
hàng…, và các tiêu chí đó sau này được sử dụng để đánh giá hiệu quả vận hành hay
hiệu quả thiết kế chuỗi. Một tổng hợp nghiên cứu của Benita M. Beamon (1998) về
các mô hình trong thiết kế và phân tích chuỗi cung ứng, tác giả đã chỉ ra hai nhóm
thang đo dùng để đánh giá hiệu quả chuỗi cung ứng là thang đo định tính và thang đo
định lượng với các tiêu chí xoay quanh hai vấn đề là chi phí và dịch vụ khách hàng.
Khi môi trường trở nên cạnh tranh hơn, nguồn lực sản xuất bị hạn chế, thời gian phát
triển sản phẩm nhanh, đòi hỏi chuỗi cung ứng phải linh hoạt trước sự thay đổi của nhu
cầu để có thể cạnh tranh trong điều kiện thực tế. Khi đó thang đo độ linh hoạt được sử
dụng để đánh giá hiệu quả vận hành của các chuỗi cung ứng. Để giải quyết vấn đề nút
cổ chai trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp hóa chất ở Mỹ, Voudouris (1996) đã
đánh giá tính linh hoạt của chuỗi cung ứng thông qua thời gian đáp ứng đơn hàng.
Trong xu hướng toàn cầu hóa, hoạt động cung ứng không chỉ diễn ra trong nội bộ một
công ty, mà mở rộng ra bên ngoài và thế giới. Các sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ
ở nhiều nước khác nhau. Khi đó, để đánh giá hiệu quả vận hành của chuỗi không chỉ
dựa trên các yếu tố nội bộ, mà còn ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như nhà cung
giảm đi tính cạnh trạnh hiệu quả vốn có của chuỗi cung ứng.
Thang đo toàn diện với các chỉ số đo lường tích hợp sẽ cung cấp cho doanh nghiệp
một hệ thống xem xét và đánh giá hiệu quả chuỗi cung ứng bao gồm các mối quan hệ
bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Tuy nhiên, mỗi chuỗi cung ứng cần có một hệ
thống tiêu chí đánh giá khác nhau và trong đề tài này, tác giả tập trung vào chuỗi cung
ứng ngành dệt may vì:
Trang 2
Chương 1: Giới thiệu đề tài
[1]. Dệt may là một trong những ngành có vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng
kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và là chìa khóa để giải quyết việc làm cho người dân Việt
Nam. Trong năm 2013, tổng lượng xuất khẩu dệt may Việt Nam vào Mỹ đạt 3,94 tỷ
USD, chiếm 44,8% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Xuất khẩu sang thị trường
Châu Âu đạt 1,29 tỷ USD, chiếm 14,7% tổng kim ngạch, thị trường Nhật Bản đạt 1,1
tỷ USD, chiếm 12,5% tổng kim ngạch, thị trường Hàn Quốc đạt 660 triệu USD, chiếm
tỷ trọng 7.5%, các thị trường khác đạt 1,85 tỷ USD. Những con số trên đang dần
khẳng định vị thế cạnh tranh và khả năng phát triển của ngành dệt may Việt Nam trên
thị trường thế giới. (Nguồn: Tổng cục Hải Quan và Hiệp Hội Dệt may Việt Nam, 2013)
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của ngành hiện nay còn quá thấp do phụ thuộc nhiều
vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển. So
với hình thức sản xuất gia công trước đây (CMT – cut, make, trim) thì công nghiệp dệt
may đang chuyển dần sang hình thức sản xuất FOB (Free – On – Board). Trong đó các
doanh nghiệp chủ động từ việc thu mua nguyên vật liệu đến cho ra sản phẩm cuối
cùng. Để mô hình sản xuất theo FOB hiệu quả, tạo được lợi thế gia tăng thì nhiều
doanh nghiệp trong ngành đã hình thành và bắt đầu quản lý theo chuỗi cung ứng. Để
đánh giá và kiểm soát hoạt động của chuỗi cung ứng thì cần phải có một hệ thống tiêu
chí đánh giá phù hợp cho ngành.
[2]. Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may lớn và liên tục tăng nhưng hiệu quả hoạt
ứng ngành dệt may” là rất cần thiết hiện nay.
1.3. Mục tiêu đề tài
Với các nghiên cứu lý thuyết và kiểm chứng thực tế, đề tài hướng đến giải quyết các
mục tiêu sau:
[1]. Xây dựng hệ thống đánh giá năng lực chuỗi cung ứng ngành dệt may khu vực
TP.HCM dưới dạng mô hình phân bao gồm các thuộc tính cấp một và chỉ số đánh giá
cấp hai.
[2]. Đánh giá mức độ quan trọng của từng thuộc tính trong hệ thống đánh giá năng
lực chuỗi cung ứng ngành dệt may khu vực TP.HCM thông qua trọng số của từng
thuộc tính.
[3]. Xây dựng mô hình đánh giá năng lực chuỗi cung ứng tại một doanh nghiệp nhất
định hoạt động trong lĩnh vực dệt may khu vực TP.HCM dưới các chỉ số chung của
toàn ngành đã được xác định.
1.4. Ý nghĩa đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những thành viên tham gia vào chuỗi cung ứng
ngành dệt may – là một ngành được nhận định sẽ tăng trưởng nhanh và nhiều cạnh
tranh trong giai đoạn sắp tới. Chính vì vậy, nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn là cung
Trang 4
Chương 1: Giới thiệu đề tài
cấp cho các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng một hệ thống với các tiêu chí đánh
giá, được thống nhất bởi các thành viên của chuỗi cung ứng. Từ đó giúp doanh nghiệp
đánh giá năng lực toàn diện và quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả. Trọng số độ quan
trọng của từng thuộc tính sẽ giúp doanh nghiệp xác định được thuộc tính nào có ảnh
hưởng nhiều nhất đến năng lực vận hành chuỗi cung ứng. Qua đó, doanh nghiệp sẽ đề
ra các biện pháp cải tiến tập trung hiệu quả. Với chỉ số đánh giá tích hợp, năng lực
chuỗi cung ứng của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng bởi năng lực của tất cả các mắc
xích trong chuỗi và của toàn ngành. Mô hình đánh giá sẽ giúp doanh nghiệp xác định
Theo Beamon (1999) “Chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp trong đó nguyên vật liệu
được sản xuất thành sản phẩm cuối cùng, và giao cho khách hàng thông qua hệ thống
phân phối, bán lẻ hoặc cả hai.” Một chuỗi cung ứng cơ bản được minh họa như sau.
Nhà
cung cấp
Nhà
sản xuất
Nhà
phân phối
Nhà
bán lẻ
Khách
hàng
Dòng sản phẩm & dịch vụ
Dòng nhu cầu, thông tin & tài chính
Hình 2.1 Mô hình chuỗi cung ứng cơ bản
Nguồn Midha, V.K., Mathur, G. & Sharma, C. (2007)
Một khái niệm khác về chuỗi cung ứng được phát biểu như sau: “Một mạng lưới các tổ
chức có mối quan hệ với nhau thông qua các liên kết trên (upstream) và liên kết dưới
(downstream) bao gồm các quá trình và hoạt động khác nhau để tạo giá trị gia tăng cho
sản phẩm hoặc dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng” (Christopher, 1992)
Nguồn: Simon Croom, Pietro Romano, Mihalis Giannakis, (2000).
Nhà
cung cấp
Khách
hàng
Công ty
Khách
hàng
Nhà cung
cấp dịch vụ
Hình 2.2 Các thành phần chuỗi cung ứng mở rộng
Nguồn: Michael Hugos, Essentials of Supply chain management (2010).
2.2. Tổng quan về chuỗi cung ứng ngành dệt may
2.2.1. Chuỗi cung ứng ngành dệt may
Chuỗi cung ứng ngành dệt may rất phức tạp với nhiều doanh nghiệp tham gia từ khắp
mọi miền đất nước. Forza & Vinelli, (1997) đã mô tả những thành phần chính trong
chuỗi cung ứng ngành dệt may như hình 2.3. Trong đó, mục tiêu quản lý chuỗi cung
ứng là giảm thời gian chờ và phản hồi nhanh với thay đổi của môi trường.
Sản xuất sợi
Sản xuất vải
May
mặc
Thiết kế
Phát triển thiết kế & lựa chọn phong cách
Đánh giá thử mẫu thiết kế
Sản xuất thử
Tìm nguồn cung ứng
Sản xuất và đảm bảo chất lượng
Phân phối và bán lẻ
Hình 2.4 Quá trình tạo sản phẩm may mặc
Trang 8
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Tuy nhiên, một số quy trình sản xuất trong ngành được tổng hợp thành bốn giai đoạn:
(1) phát triển sản phẩm, (2) thu mua, (3) sản xuất và (4) phân phối và bán lẻ, với sự
tham gia ít nhất của bốn thành phần đó là: những nhà bán lẻ, đơn vị quản lý thương
hiệu, doanh nghiệp may mặc và đơn vị phụ trợ nguyên vật liệu. Trách nhiệm của các
mắc xích trong chuỗi với bốn quá trình trên được minh họa trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Vai trò của các thành viên trong chuỗi cung ứng dêt may
Đơn vị
bán lẻ
x
x
Đơn vị quản lý
thương hiệu
*
Phát triển sản phẩm
thông tin nên được xem là một thuộc tính quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành dệt
may hiện nay.
Phát triển sản phẩm dệt may yêu cầu mẫu thiết kế và kỹ thuật may phải có khả năng
sản xuất và thị trường cung cấp cũng như tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Theo
Wickett et al, (1999) thì quá trình phát triển sản phẩm trong dệt may cần chú ý các vấn
đề về sự phù hợp của mẫu mã, mô hình sản xuất, nguồn nguyên liệu, dây chuyền lắp
ráp và các chi phí liên quan. Bên cạnh đó các yêu cầu của khách hàng về phong cách,
màu sắc, nguyên liệu, hàm lượng xơ trong vải.., cũng cần phải được cân nhắc trong
quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm. Do đó, phát triển sản phẩm là một thuộc tính
quan trọng của chuỗi cung ứng dệt may.
Trang 9
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trong mô hình thẻ điểm cân bằng (Balanced Score Card) của Kaplan & Norton (1992)
thì thẻ điểm học tập và cải tiến, thừa nhận rằng các công ty cần phải không ngừng học
tập và liên tục cải tiến để đảm bảo lợi nhuận tương lai. Trong ngành dệt may cải tiến là
một điều quan trọng để thu hút khách hàng và duy trì lợi nhuận. Các công nghệ mới,
nguyên liệu mới là những nhân tố quan trọng để tạo lợi thế cạnh tranh trong ngành. Vì
vậy, cải tiến là một thuộc tính quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành dệt may.
Mục tiêu của chuỗi cung ứng ngành dệt may là cung cấp sản phẩm đúng phong cách,
thời gian tới thị trường với chi phí thấp và tốc độ nhanh để tối đa hóa lợi nhuận. Do
đó, những thuộc tính về chi phí, thời gian, chất lượng, tính linh hoạt, và lợi nhuận
trong chuỗi cung ứng đều rất quan trọng khi đánh giá chuỗi.
Tóm lại, chuỗi cung ứng ngành dệt may có những đặc tính riêng biệt vốn có, như thiết
kế và phát triển sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng. Thông qua
tìm hiểu các lý thuyết, tác giả cho rằng có tám thuộc tính quan trọng cần phải xem xét
khi xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chuỗi cung ứng ngành dệt may đó là: (1) thiết
kế và phát triển sản phẩm trong chuỗi cung ứng, (2) chia sẻ thông tin trong chuỗi cung
Tăng 25 – 80% tính chính xác của dự báo
Cải thiện 30 – 50% thời gian chu kỳ thực hiện đơn hàng
Qua đó, thấy rằng đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng là rất quan trọng trong việc gia
tăng hiệu quả hoạt động của chuỗi thông qua các kế hoạch cải tiến phù hợp được đề
xuất từ các tiêu chí đánh giá và sử dụng thông tin trong quá trình đánh giá.
2.3.2. Một số mô hình đo lường năng lực chuỗi cung ứng.
Hơn một thế kỷ qua, có rất nhiều phương pháp tiếp cận để đo lường năng lực chuỗi
cung ứng đã được các nhà nghiên cứu tìm ra. Trong nghiên cứu này, tác giả đề cập đến
3 mô hình phổ biến hiện nay bao gồm:
(1) Mô hình BSC (The Balanced Scorecard – BSC)
(2) Mô hình SCOR (Supply chain operational reference – SCOR)
(3) Mô hình ROF (Resource – Output – Flexibility)
2.3.2.1.
Mô hình BSC
Phương pháp thẻ điểm cân bằng (BSC) được phát triển từ những năm 1992 bởi Kaplan
và Norton như là một công cụ quản lý hoạt động không thể thiếu của các công ty. BSC
cung cấp thông tin phản hồi cho cả quá trình kinh doanh nội bộ và hiệu quả đầu ra một
cách liên tục giúp công ty cải thiện chiến lược và kết quả vận hành. BSC đề nghị các
nhà quản lý cần xem xét tổ chức từ bốn quan điểm khác nhau và phát triển các chỉ số
đo lường thông qua thu thập dữ liệu và phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố trong
bốn thẻ điểm: (1) thẻ điểm tài chính, (2) thẻ điểm khách hàng, (3) thẻ điểm hoạt động
nội bộ và (4) thẻ điểm học hỏi và phát triển.
Trang 11
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
[1]. Nghiên cứu của Brewer & Speh (2000), đã sử dụng biến thể mô hình BSC như
Giảm chi phí đơn vị sản phẩm
Cải tiến chuỗi cung ứng
Cải tiến sản phẩm/ quá trình
Quản lý quan hệ trong chuỗi
Dòng thông tin trong chuỗi
Mối đe dọa/ s thay thế
Lợi ích tài chính
Lợi nhuận biên cao
Cải tiến dòng tiền
Tăng doanh thu
Tăng chỉ số đầu tư trên tài sản
Hình 2.5 Khung mẫu đo lường chuỗi cung ứng
Trang 12
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Cải tiến chuỗi cung ứng
Cải tiến sản phẩm/ quá trình
Quản lý quan hệ trong chuỗi
Dòng thông tin trong chuỗi
Mối đe dọa/ s thay thế
Thẻ điểm
hoạt động nội bộ
Thẻ điểm
khách hàng
Thẻ điểm
tài chính
Thẻ điểm
học hỏi & cải tiến
Hình 2.6 Mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng & thẻ điểm cân bằng
2.3.2.2.
Mô hình SCOR
2.3.2.3.
Chỉ số cấp độ 1
- Năng lực giao hàng
- Thực hiện đơn hàng hoàn hỏa
- Tỷ lệ lắp đầy đơn hàng khi giao
- Thời gian chờ khi thực hiện đơn hàng
- Thời gian phản hồi
- Linh hoạt trong sản xuất
- Giá vốn hàng bán
- Tổng chi phí quản lý chuỗi
- Năng suất gia tăng giá trị
- Chi phí bảo hành
-Thời gian chu kỳ dòng tiền
- Ngày hàng tồn kho
- Vòng quay tài sản
Mô hình ROF
Thông qua các nghiên cứu về mô hình hoạch định chuỗi cung ứng và các hệ thống
đánh giá năng lực (PMSs). Beamon (1999) thấy rằng hệ thống đánh giá năng lực hiện
tại chưa đầy đủ bởi vì chỉ sử dụng các chỉ số đo lường chi phí là cơ bản. Từ đó, mô
hình ROF được đề xuất để đo lường toàn diện các khía cạnh của chuỗi cung ứng.
Trong ROF thì mục tiêu chiến lược của toàn chuỗi cung ứng là chìa khóa để xác định
các chỉ số đánh giá xoay quanh ba thuộc tính là: (1) nguồn lực, (2) đầu ra, (3) tính linh
hoạt. Trong đó mỗi thuộc tính có một mục tiêu đánh giá khác nhau như bảng 2.3.
Hệ thống đánh giá năng lực (PMS) phải đo lường được một trong ba thuộc tính và cần
có ít nhất một chỉ số đo lường riêng cho từng đơn vị trong chuỗi cung ứng và các chỉ
số này phải phù hợp với mục tiêu chiến lược của từng đơn vị trong chuỗi cung ứng.
Benita M. Beamon nhận thấy rằng các chỉ số để đánh giá mô hình sau khi hoạch định
chỉ xoay quanh yếu tố chi phí: như chi phí tồn kho, chi phí vận hành... Trong khi đó,
một hệ thống đánh giá chuỗi cung ứng cần phải toàn diện và khái quát tất cả các hoạt
động từ đầu vào đến đầu ra. Thông qua các nghiên cứu về lý thuyết, Beamon (1999) đã
đưa ra các kết luận: (1) Đề xuất mô hình ROF như là một hướng dẫn cho việc xây
dựng hệ thống đánh giá toàn diện chuỗi cung ứng. (2) Hình thành một số chỉ số đánh
giá cơ bản của từng thuộc tính trong ROF thông qua các nghiên cứu trước.
Bảng 2.4 Các chỉ số trong mô hình ROF của Beamon đề xuất (1999)
Thuộc tính
Nguồn lực
Đầu ra
Độ linh hoạt
Chỉ số đo lường
- Tổng chi phí vận hành
- Chi phí phân phối
- Chi phí sản xuất
- Chi phí tồn kho
- Vòng quay tồn kho
- Doanh thu
- Lợi nhuận
- Tỷ lệ hoàn thành đơn hàng
- Giao hàng đúng hạn
- Đơn hàng trễ/ hết hàng
- Thời gian phản hồi khách hàng
- Thời gian chờ sản xuất
- Sai xót trong giao hàng
nhiệm vụ riêng lẻ trong hoạt động logistics như quản lý kho bãi, vận chuyển, bao gói...
Tuy nhiên, các hệ thống chỉ số này không phù hợp cho nghiên cứu của tác giả trong
việc xây dựng các chỉ số đo lường năng lực chuỗi cung ứng tích hợp với các đơn vị
tham gia vào chuỗi.
2.4.2. Chỉ số đo lường tập trung vào quá trình hoạt động logistics
Keebler et al. (1999) đã chỉ ra bốn thuộc tính đo lường quá trình hoạt động logistics là:
thời gian, chất lượng, chi phí và thuộc tính hỗ trợ khác. Các chỉ số đánh giá của từng
thuộc tính được trình bày trong bảng 2.5
Có mối quan hệ giữa chỉ số năng lực và chỉ số quá trình mà nghiên cứu cho rằng trong
hàng trăm chỉ số đo lường hoạt động logistics thì có ít hơn mười chỉ số đo lường quá
trình được xem là quan trọng để đánh giá và cải tiến năng lực doanh nghiệp logistics
Trang 16
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Bảng 2.5 Các chỉ số đo lường năng lực quá trình logistics
Thuộc tính
Thời gian
Chất lượng
Chi phí
Chỉ số khác
Chỉ số đo lường
- Giao hàng đúng hạn
- Thời gian chu kỳ đặt hàng
cung ứng. SCC đã đưa ra SCOR với hơn hai trăm chỉ số đánh giá năng lực chuỗi cung
ứng với bốn cấp độ thực hiện mô hình từ chi tiết đến phức tạp, từ tổng quát đến cụ thể
cho từng doanh nghiệp áp dụng.
Trang 17
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Bảng 2.6 Các chỉ số đo lường tập trung vào chuỗi cung ứng tích hợp
Thuộc tính
Chỉ số tài chính
Dịch vụ khách hàng
Quá trình nội bộ
Khả năng học hỏi
& phát triển
Chỉ số đánh giá
- Vòng quay tồn kho
- Biến động ngân sách
- Chi phí vận hành mỗi giờ
- Chi phí quản lý thông tin
- Tỷ lệ từ chối cung cấp dịch vụ
- Số lần khách hàng quay lại
- Doanh thu nhận từ khách hàng
- Đa dạng của sản phẩm & dịch vụ
- Giao hàng đúng hạn
Trang 18
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
2.4.4. Chỉ số đo lường hình thành qua các nghiên cứu thực nghiệm
Trong một cuộc khảo sát và nghiên cứu các tình huống về đo lường hoạt động logistics
trong chuỗi cung ứng của Keebler et at (1999). Qua đó, tác giả đã đưa ra một thống kê
về mức độ sử dụng của các chỉ số đo lường, được tóm tắt trong bảng 2.7
Bảng 2.7 Các chỉ số đo lường qua nghiên cứu thực nghiệm
Chỉ số thường sử dụng nhất
- Chi phí vận chuyển bên ngoài n/máy
- Tính chính xác mức tồn kho
- Tỷ lệ lắp đầy đơn hàng
- Vòng quay tồn kho thành phẩm
- Giao hàng đúng thời hạn
- Tuân thủ cam kết với khách hàng
87%
86%
81%
80%
79%
77%
Chỉ số ít sử dụng
- Chi phí phục vụ
37%
- Đơn vị xử lý trên một đơn vị thời gian 37%
51%
Chỉ số quan trong nhất ở mức độ công ty
logistics
- Giao hàng đúng hạn
61%
- Tỷ lệ lắp đầy
56%
- Tuân thủ cam kết với khách hàng 55%
- Tính chính xác mức tồn kho
38%
- Chi phí vận chuyển bên ngoài
33%
Chỉ số được sử dụng bởi khách hàng và
nhà cung cấp để đo lường năng lực
- Giao hàng đúng thời hạn
- Tỷ lệ lắp đầy đơn hàng
- Hóa đơn liên quan phải chính xác
- Thời gian chu kỳ đơn hàng
- Dòng hàng chờ lắp đầy
64%
59%
56%
45%
42%
Qua kết quả của nghiên cứu, tác giả nhận định một số vấn đề tồn tại trong hệ thống
đánh giá năng lực hoạt động logistics nói riêng và chuỗi cung ứng nói chung như sau:
(1) Chỉ số chi phí nên được tiếp tục sử dụng trong các hệ thống đánh giá năng lực.
(2) Các chỉ số cần được tích hợp qua nhiều đối tượng trong chuỗi hơn là đánh giá
ma trận bao gồm các cột xác định thuộc tính cần xem xét và các dòng là những lựa
chọn thay thế mâu thuẫn nhau.
Hệ thống đánh giá năng lực chuỗi cung ứng ngành dệt may được định nghĩa như là
một vấn đề MADM. Trong đó các phương án thay thế là: đo lường toàn chuỗi cung
ứng hoặc những mắc xích trong chuỗi cung ứng và các thuộc tính được tạo ra thông
qua đánh giá những khía cạnh khác nhau trong năng lực thực hiện chuỗi cung ứng.
Các trọng số sẽ phản ánh tầm quan trọng của mỗi thuộc tính.
2.5.2. Các phương pháp thường được sử dụng trong MADM
2.5.2.1.
Kỹ thuật đánh giá đa thuộc tính đơn (SMART)
Những năm gần đây kỹ thuật đánh giá đa thuộc tính đơn (Simple Multi – Attribute
Rating Technique) được sử dụng phổ biến cho các vấn đề đa thuộc tính.
Trang 20
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Ưu điểm của phương pháp là minh bạch và người ra quyết định phải có kiến thức
nhiều hơn vấn đề đang gặp phải. Các bước thực hiện kỹ thuật SMART được trình bày
bên dưới (Goodwin & Voright, 1998)
Xác định vấn đề ra quyết định
Xác định các phương án thay thế
Xác định các thuộc tính và mối quan hệ với vấn đề ra quyết định
Đánh giá mức độ quan trọng của mỗi thuộc tính
Xác định trọng số cho mỗi thuộc tính được phản ánh qua mức độ quan trọng
Tính trọng số trung bình cho mỗi phương án
Thực hiện quyết định tạm thời
Phân tích độ nhạy để có quyết định phù hợp
nhận và thậm chí đó là bản chất tự nhiên của vấn đề cần giải quyết.
2.5.2.3.
Phân tích thứ bậc (AHP)
Phương pháp phân tích thứ bậc (Analytical Hierarchy Process) là một trong những mô
hình quan trọng của MADM được trình bày trong lý thuyết này. Kể từ khi được giới
thiệu bởi Satty (1980), AHP đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực ra quyết định khác
nhau. Phương pháp này dựa trên ba nguyên lý cơ bản: phân tích, đánh giá và tổng hợp.
[1]. Phân tích: AHP phân tích một vấn đề phức tạp thành nhiều yếu tố để quản lý và
ra quyết định. Quá trình này bắt đầu từ mô tả tiềm ẩn của vấn đề và mô hình phân cấp
thu được sẽ giúp xác định rõ ràng và chi tiết hơn các vấn đề, sử dụng để so sánh các
phương án thay thế. Trong hình 2. 7 cho ta cấu trúc phân cấp của một vấn đề. “Phương
án quyết định tốt nhất” được đặt ở đỉnh đầu của mô hình, tượng trưng cho mục tiêu
cần phân tích (cấp độ 1). Sau đó, mô hình phân cấp được chia thành các tiêu chí định
lượng quan trọng (cấp độ 2). Ở cấp độ 3 của mô hình chúng ta có các phương án loại
trừ nhau cần được xem xét.
Quyết định tốt nhất
Tiêu chí 1
Phương án 1
Tiêu chí 2
Phương án 2
Hình 2.7 Mô hình phân cấp thứ bậc
[2]. Đánh giá: được sử dụng để so sánh các yếu tố ở một cấp độ của mô hình với
một yếu tố ở cấp độ ngay trên nó. Quá trình so sánh được thực hiện từng cặp với thang
.
.
wi
w1
.
.
.
wk
w1
…
…
…
…
Fj
w1
wj
.
.
.
wi
wj
.
.
.
wk
wj
.
.
Fk
F1
w1
w1
.
.
.
wi
w1
.
.
.
wk
w1
…
…
…
…
Fj
w1
wj
.
.
w1
.
.
.
wj
.
.
.
wk
=k
w1
.
.
.
wj
.
.
.
wk
AW = kW (A – kI)W = 0 (1). Tìm ma trận W bằng cách giải phương trình (1).
Phương trình có nghiệm khác 0 nếu và chỉ nếu k là trị riêng của A và W là vector riêng
ứng với k. Vì vậy, tất cả các trị riêng yi, i = 1,…, k của ma trận A là một trường hợp
ngoại lệ. Cũng có thể viết: ∑
= tr (A) = tổng các yếu tố đường chéo = k. Do chỉ
một trong số những yi được gọi là ymax và y1 = 0, yi = ymax. Nếu A^ là ma trận của cặp
tốt” từ các phương án được xem xét nhằm thỏa mãn một hoăc nhiều mục tiêu đặt ra.
Hầu hết quá trình ra quyết định thường liên quan đến các yếu tố không chắc chắn. Do
đó, một trong những khía cạnh quan trọng của một quyết định hữu dụng là cung cấp
khả năng xử lý thông tin không chính xác và mơ hồ chẳng hạn như: lợi nhuận “cao”,
tốc độ “nhanh”, giá “rẻ”…
Theo như Bellman & Zadeh (1970) thì nhiều quá trình ra quyết định trong thực tiễn
xảy ra trong môi trường với nhiều mục tiêu, những hạn chế và hậu quả không được
biết một cách chính xác. Một mô hình ra quyết định hữu dụng phải xử lý những thông
tin và tri thức cũng như các thuộc tính và quan điểm không chắc chắn, không đầy đủ.
Đồng thời mô hình phải bao gồm những quá trình hỗ trợ việc xác định, đo lường và
kết hợp tiêu chí cùng các phương án được để tạo ra một mô hình khái niệm cho việc ra
quyết định và đánh giá trong môi trường mờ. Năm 1965, L.A. Zade đã giới thiệu lý
thuyết tập mờ dựa trên khái niệm ranh giới của các tập hợp liên quan đến các dữ liệu
Trang 24
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
xấp xỉ không được xác định một cách rõ ràng và các phần tử trong một tập hợp thì
không hoàn toàn tuyệt đối mà là vấn đề mức độ. Zadeh đã định nghĩa tập mờ là “một
lớp các phần tử liên tục của các cấp của một đối tượng”. Theo toán học tâp mờ là việc
gán mỗi phần tử trong tập hợp một giá trị đại diện cho cấp độ của các đối tượng trong
tập hợp. Cấp độ của một đối tượng được thể hiện bởi một giá trị thực từ 0 đến 1. Bản
chất của một số mờ có thể coi như một tập mờ con đặc biệt của một số thực.
Tập hợp cổ điển là một trường hợp đặc biệt của tập mờ trong đó các quan hệ ánh xạ
liên quan đến mỗi phần tử của tập hợp thuộc tập nhị phân {0, 1}. Tập hợp cổ điển bắt
buộc phải có đầy đủ các phần tử thuộc về tập hợp hoặc không có phần tử (tập rỗng)
còn tập mờ cho phép một phần tử cùng với mức độ thuộc về tập hợp đó.
Sử dụng tập mờ trong ra quyết định có nhiều ưu điểm hơn tập hợp cổ điển. Trước tiên,
tập mờ có khả năng xử lý tốt các yếu tố không chắc chắn hơn là phương pháp cổ điển.