BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
………
……… LÊ THỊ THU HÀ PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
CẤU TRÚC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
NGÀNH NHỰA VIỆT NAM CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, và có sự
hỗ trợ từ Người hướng dẫn khoa học là PGS.TS. Nguyễn Ngọc Định.
Các nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên
cứu thực tiễn trong thời gian qua, các số liệu sử dụng là trung thực và
có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
MỤC LỤC
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ
Lời mở đầu
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
1
1.1 TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 1
1.1.1 Khái niệm cấu trúc tài chính 1
1.1.1.1 Nợ 1
1.1.1.2 Vốn cổ phần 2
1.1.2 Các lý thuyết về cấu trúc tài chính 3
1.1.2.1 Lý thuyết của M&M về cấu trúc tài chính của doanh nghiệp 3
1.1.2.2 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc tài chính 4
1.1.2.3 Lý thuyết về trật tự phân hạng 6
1.1.2.4 Lý thuyết về
chi phí đại diện 7
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính 10
1.1.3.1 Hiệu quả kinh doanh 10
1.1.3.2 Qui mô doanh nghiệp 11
1.1.3.3 Tài sản hữu hình 12
1.1.3.4 Cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp 13
1.1.3.5 Rủi ro kinh doanh 13
1.1.3.6 Thuế thu nhập doanh nghiệp 14
1.1.3.7 Tấm chắn thuế phi nợ 15
1.1.3.8 Tính thanh khoản 15
1.1.3.9 Đặc điểm riêng của doanh nghiệp 15
1.1.4 HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 16
nghiệp được khảo sát. 40
2.2 Phân tích thực trạng cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp khảo sát
ngành nhựa 42
2.2.1 Phân tích tỷ suất nợ trên tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp khảo sát 42
2.2.2 Phân tích tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu c
ủa các doanh nghiệp khảo sát 47
2.2.3 Phân tích mức độ rủi ro khi sử dụng nợ trong cấu trúc tài chính 49
2.3 Phân tích hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp ngành nhựa 50
2.3.1 Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành nhựa được khảo sát 50
2.3.2 Phân tích hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp khảo sát 53
2.3.3 Tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính 56
2.4. Kết quả kiểm định mô hình kinh tế lượng các nhân tố tác động đến cấu trúc
tài chính của các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam 57
2.4.1 Mô tả thống kê các biến nghiên cứu 57
2.4.2 Ước lượng tham s
ố 59
2.4.2.1 Ước lượng tham số hàm hồi quy tổng thể 59
2.4.2.2 Ước lượng tham số hàm hồi quy giới hạn 64
2.4.3. Kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy 68
2.4.3.1 Kiểm định mô hình hồi quy nợ ngắn hạn trên tổng tài sản 69
2.4.3.2. Kiểm định mô hình hồi quy nợ dài hạn trên tổng tài sản 71
2.4.3.3. Kiểm định mô hình hồi quy tổng nợ trên tổng tài sản 73
2.4.3.4. Kiểm định mô hình hồi quy hiệu quả tài chính 75
2.4.4. Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 77
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NGÀNH NHỰA VIỆT NAM 84
3.1. Xác định cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam 84
3.1.1. Xác định giai đoạn phát triển và nhận diện rủi ro trong cấu trúc tài chính 84
3.1.2. Mô hình cấu trúc tài chính cho các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam trong
giai đoạn tăng trưởng 85
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 : Tỷ trọng tổng nợ trên tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp khảo sát 42
Bảng 2.2 : Tỷ trọng nợ dài hạn trên tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp khảo sát
43
Bảng 2.3 : Tỷ trọng nợ ngắn hạn trên tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp khảo sát
44
Bảng 2.4 : Khả năng thanh toán nhanh của các doanh nghiệp khảo sát 49
Bảng 2.5: Doanh thu thuần và tỷ lệ tăng giảm doanh thu thuần của các doanh nghiệp
được khảo sát 51
Bảng 2.6: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) c
ủa các doanh nghiệp được
khảo sát ngành nhựa 55
Bảng 2.7: Tác động của đòn bẩy tài chính đến hiệu quả tài chính bình quân của các
doanh nghiệp khảo sát 56
Bảng 2.8 : Thống kê mô tả các biến trong mô hình 57
Bảng 2.9: Tác động của các biến độc lập đến nợ ngắn hạn trên tổng tài sản của mô
hình hồi quy tổng thể 59
Bảng 2.10: Tác động của các biến độc lập đến nợ dài hạn trên tổng tài sản của mô
hình hồi quy tổng thể 60
Bảng 2.11: Tác động của các bi
ến độc lập đến tổng nợ trên tổng tài sản của mô hình
hồi quy tổng thể 62
Bảng 2.12: Tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả tài chính của mô hình hồi
quy tổng thể 63
Bảng 2.13: Tác động của các biến độc lập đến nợ ngắn hạn trên tổng tài sản của mô
hình hồi quy giới hạn 64
Bảng 2.14: Tác động của các biến độc lập đến nợ dài hạn trên tổng tài sản của mô
hình hồi quy giới hạn 65
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:
x Trên cơ sở các lý thuyết về cấu trúc tài chính và một số kết quả nghiên
cứu trên thế giới, tác giả xem xét các nhân tố tác động đến cấu trúc tài
chính của doanh nghiệp như thế nào?
x Phân tích thực trạng cấu trúc tài chính, hiệu quả tài chính của các
doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam trong giai đoạn 2008-2010.
x Kiểm định thực nghiệm sự ảnh hưởng của các nhân tố đến cấu trúc tài
chính bằng mô hình hồi quy kinh tế lượng.
x Từ đó, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để giúp các doanh nghiệp
xác định một cấu trúc tài chính phù hợp để nâng cao hiệu quả tài chính.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp ngành nhự
a Việt Nam đang niêm yết trên
thị trường chứng khoán của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Do những hạn chế về số liệu nên tác giả chọn mẫu các doanh
nghiệp ngành nhựa tiêu biểu Việt Nam, có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất. Số liệu
chọn khảo sát là số liệu từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của các doanh nghiệp hoạt
động trong giai đoạn năm 2008 – 2010. Danh sách các doanh nghiệp sử dụng trong
đề tài xem phụ lục 1.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp hệ thống hóa dữ liệu thu thập được, sử dụng phương
pháp thống kê, phân tích và so sánh số liệu, ứng dụng mô hình hồi quy kinh tế lượng
để đánh giá tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc như thế nào? Sử dụng
chương trình Eviews 5.1 để hỗ trợ phân tích mô hình hồi quy kinh tế lượng.
5. Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 3 chương như sau:
x Chương 1: Cơ sở lý luận
Trong phần này nêu ra tổng quát về cấu trúc tài chính, các nhân tố tác động đến cấu
thời gian đáo hạn nhằm mục đích hoạch định ngân sách vốn cho doanh nghiệp.
Hoạch định ngân sách vốn liên quan đến quyết định đầu tư vào những dự án sẽ tạo ra
lợi nhuận trong tương lai. Vì thế
, cần tài trợ cho các dự án này bằng các nguồn vốn
trung, dài hạn.
Theo khái niệm trên, cấu trúc tài chính bao gồm: nợ (nợ ngắn hạn và nợ trung và dài
hạn) và vốn cổ phần (vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường).
1.1.1.1 Nợ
Đó là những khoản mà doanh nghiệp phải cảm kết thanh toán với các chủ nợ số nợ
gốc và các khoản chi phí sử dụng vốn theo thời hạn quy định. Nợ bao gồm nợ ngắn
h
ạn và nợ dài hạn.
x Nợ ngắn hạn: là những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán
trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Nguồn vốn nợ ngắn hạn thường
có chi phí sử dụng thấp nhưng tạo ra một áp lực thanh toán đối với doanh nghiệp
và thường được sử dụng để đầu tư vào các tài sản ngắn hạn. Nợ ngắn hạn bao
2
gồm vay và nợ ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả tiền trước, thuế và
các khoản phải nộp khác, …
x Nợ trung và dài hạn: là những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh
toán trong thời gian lớn hơn một năm hay nhiều năm hay nhiều chu kỳ kinh
doanh. Nguồn vốn nợ trung và dài hạn thường được sử dụng để đầu tư vào các tài
sản dài hạn. Nợ trung và dài hạn bao gồm: vay và nợ trung, dài hạn, phải trả dài
hạn người bán, phải trả dài hạn nội bộ, phải trả dài hạn khác, …
1.1.1.2 Vốn cổ phần
Là những khoản mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, các cổ đông chỉ
kỳ vọng vào lợi ích được mang lại từ hiệu quả hoạt động cuối cùng của doanh nghiệp.
Vốn cổ phần thể hiện phần tài trợ của các cổ đông đối với toàn bộ tài sản của doanh
nghiệp. Vì vậy, xét về khía cạnh tự chủ về tài chính, nguồn vốn này thể hiện năng
- Tất cả các nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng lãi suất.
Ngoài ra, M&M cũng giả định là:
- Tất cả các nhà đầu tư đều hợp lý và có các kỳ vọng thuần nhất về lợi nhuận
của một doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp hoạt động dưới các điều kiện tương tự s
ẽ có cùng mức độ
rủi ro kinh doanh.
- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Sau đó
M&M đã bỏ giả định không có thuế này.
Bằng những lập luận của mình, M&M đã cho rằng: “giá trị thị trường của một doanh
nghiệp độc lập đối với cấu trúc tài chính của doanh nghiệp đó trong các thị trường
hoàn hảo không có thuế thu nhập doanh nghiệp”. Giá trị của doanh nghiệp được xác
định bằng các tài sản thực, chứ không phải bằng các chứng khoán mà doanh nghiệp
phát hành. Như vậy cấu trúc tài chính không liên quan đến giá trị doanh nghiệp khi
các quyết định đầu tư của doanh nghiệp đã được định sẵn.
4
Lập luận về chi phí cơ hội đối với sự lựa chọn của cổ đông trong doanh nghiệp và
phân tích tỷ suất lợi nhuận trên giá trị tài sản, M&M cho rằng tác động đòn bẩy làm
tăng lợi nhuận trên mỗi cổ phần, nhưng điều này không làm gia tăng giá trị tài sản.
M&M cho rằng tác động đòn bẩy làm gia tăng lợi nhuận trên mỗi cổ phần, nhưng
điều này không làm gia tăng giá trị cổ phần.
Ngoài ra, M&M còn hỗ trợ cho lý thuyết của mình bằng lập luận rằng một quy trình
mua bán song hành sẽ ngăn chặn việc các doanh nghiệp tương đương có các giá trị
thị trường khác nhau chỉ bởi vì có các cấu trúc tài chính khác nhau.
Lập luận M&M dựa trên quy trình mua bán song hành. Nếu một trong hai doanh
nghiệp không sử dụng nợ có cùng rủi ro kinh doanh bắt đầu vay nợ và lý thuyết
M&M không đứng vững, giá trị của doanh nghiệp này sẽ gia tăng và, vì vậy, giá trị
của cổ phần của doanh nghiệp cũng gia tăng. M&M cho rằng trong tình huống này,
các nhà đầu tư sẽ bán các cổ phần giá cao của doanh nghiệp có sử dụng nợ. Sau đó
thể tránh được thuế thu nhập cá nhân nếu là lãi vốn. Vì vậy các doanh nghiệp không
thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay.
Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì,
bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng
phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính.
Kiệt quệ tài chính xảy ra khi không thể đáp ứng các hứa hẹn với các chủ nợ hoặc đáp
ứng một cách khó khăn. Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, dẫn đến lợi ích tấm
chắn thuế gia tăng, khi đó chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Và đến một lúc
nào đó, khi mà với mỗi tỷ
lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không
cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích
cho doanh nghiệp.
Chính vì điều này, các doanh nghiệp luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh
nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn tài trợ bao nhiêu
nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc tài chính của mình.
6
Điểm xác định cấu trúc tài chính tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì
PV(tấm chắn thuế) = PV(chi phí kiệt quệ tài chính)
Giá trị doanh nghiệp lúc này gồm:
Giá trị
doanh nghiệp
=
Giá trị nếu được tài trợ
hoàn toàn bằng vốn cổ
phần
+
PV (tấm
7
đến phát hành nợ mới; và cuối cùng bằng phát hành vốn cổ phần mới. Phát hành vốn
cổ phần mới thường là phương án cuối cùng khi doanh nghiệp đã sử dụng hết khả
năng vay nợ, tức là, khi mối đe dọa của các chi phí kiệt quệ tài chính làm cho các
chủ nợ hiện hữu cũng như giám đốc tài chính của doanh nghiệp lo âu đến mất ngủ.
Vì vậy, lý thuyết này giúp giải thích tại sao các doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh
nhất, thì thường có tỷ lệ nợ vay thấp hơn, không phải vì họ có các tỷ lệ nợ mụ
c tiêu
thấp mà vì họ không cần tiền bên ngoài. Các doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh ít
hơn thì phát hành nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ đủ cho chương trình đầu
tư vốn và vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài.
Ngoài ra, trong lý thuyết trật tự phân hạng, sự hấp dẫn của tấm chắn thuế lãi từ
chứng khoán nợ được coi là có tác động hạng nhì. Các tỷ lệ nợ thay đổi khi có bất
cân đối của dòng tiền nội bộ, cổ tức và các cơ hội đầu tư thực sự. Các doanh nghiệp
có khả năng sinh lợi cao với cơ hội đầu tư hạn chế sẽ cố gắng đạt tỷ lệ nợ thấp. Các
doanh nghiệp có cơ hội đầu tư lớn hơn các nguồn vốn phát sinh nội bộ thường buộc
phải vay nợ ngày càng nhiều.
Lý thuyết này giải thích mối tương quan nghịch trong ngành giữa khả năng sinh lợi
và đòn bẩy tài chính. Lẽ thường là các doanh nghiệp thường đầu tư theo mức tăng
trưởng của ngành. Như vậy, các tỷ lệ đầu tư sẽ tương tự nhau trong cùng một ngành.
Với các tỷ lệ chi trả cổ tức cho sẵn và không thể linh hoạt được thì các doanh nghiệp
sinh lợi ít nhất sẽ có ít nguồn vốn nội bộ hơn và sẽ phải vay mượn thêm.
Bên cạnh đó, lý thuyết trật tự phân hạn nhấn mạnh đến giá trị của các thừa thải tài
chính. Khi không có thừa thải, doanh nghiệp có thể bị tuột xuống cuối trật tự phân
hạng và bị buộc phải lựa chọn giữa phát hành cổ phần dưới giá và vay nợ với rủi ro
kiệt quệ tài chính, hay phải bỏ qua các cơ hội đầu tư có hiện giá thuần (NPV) dương.
1.1.2.4 Lý thuyết về chi phí đại diện
Lý thuyết cấu trúc tài chính dựa trên chi phí đại diện được đề cập đến đầu tiên trong
một nghiên cứu của Fama và Miller năm 1972. Về sau, lý thuyết chi phí đại diện
khoản này cản trở hoạt động của doanh nghiệp ở một vài khía cạnh nào đó. Các
trái chủ còn sử dụng các công cụ giám sát doanh nghiệp, đảm bảo rằng các điều
9
khoản phải được tuân thủ. Các chi phí trong trường hợp này được chuyển sang
cổ đông dưới hình thức các khoản chi phí nợ vay cao hơn.
Khi một doanh nghiệp gặp khó khăn, cả chủ nợ và cổ đông đều muốn doanh
nghiệp phục hồi, nhưng ở các khía cạnh khác, quyền lợi của họ có thể mâu
thuẫn nhau. Vào các thời điểm kiệt quệ tài chính, các cổ động thường tự bỏ mục
tiêu thông thường là tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp và thay vào
đó, theo đuổi mục tiêu hạn hẹp hơn là quyền lợi riêng của mình. Họ thường có
khuynh hướng thực hiện các “trò chơi” riêng mà phần thiệt hại sẽ do các trái
chủ gánh chịu như sau:
9 Chuyển dịch rủi ro: cổ đông của doanh nghiệp có nợ vay có lợi khi rủi ro
kinh doanh tăng. Các giám đốc tài chính hành động hoàn toàn vì quyền lợi
của các cổ đông và chống lại quyền lợi của các trái chủ sẽ ưu tiên chấp
nhận các dự án rủi ro hơn là các dự án an toàn. Họ có thể chấp nhận ngay
cả các dự án rủi ro có NPV âm.
9 Từ ch
ối đóng góp vốn cổ phần: nếu chúng ta giữ cho rủi ro kinh doanh
không tốt, bất kỳ gia tăng nào trong giá trị doanh nghiệp được chia sẻ giữa
các trái chủ và cổ đông. Giá trị của bất kỳ cơ hội đầu tư nào đối với cổ
đông của doanh nghiệp bị giảm vì lợi ích của dự án phải được chia sẻ với
các trái chủ. Do đó, việc đóng góp cổ phần mới không có lợi riêng cho các
cổ đông, cho dù dự án có mang lại NPV lớn hơn zero đi chăng nữa.
9 Thu tiền và bỏ chạy: ngược với trò chơi từ chối đóng góp cổ phần, các cổ
đông có thể do dự khi đổ tiền vào một doanh nghiệp đang kiệt quệ tài
chính, nhưng họ rất vui vẻ khi rút tiền ra – dưới hình thức cổ tức bằng tiền
mặt chẳng hạn. Giá trị thị trường cổ phần của doanh nghiệp sụt giảm
nhưng giảm ít hơn số cổ tức đã chi ra, vì sụt giảm trong giá trị doanh
1.1.3.1 Hiệu quả kinh doanh
Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng các doanh nghiệp sẽ sử dụng lợi nhuận để lại
như là nguồn vốn tái đầu tư, sau đó mới sử dụng nợ và phát hành vốn chủ khi cần
thiết. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh cao thì sẽ có khả
11
năng tích lũy vốn từ lợi nhuận giữ lại mà ít huy động vốn từ bên ngoài và sẽ dẫn đến
việc duy trì hệ số sử dụng nợ vay thấp.
Bên cạnh đó, lý thuyết về chi phí đại diện cũng cho kết quả tương tự. Jensen và
Meckling (1972) định nghĩa nợ là một công cụ nghiêm ngặt nhằm đảm bảo rằng các
nhà quản lý sẽ thanh toán lợi nhuận nhiều hơn là tăng cường quyền lực. Với các
doanh nghiệp có các dòng tiền tự do, hay khả năng sinh lợi cao, tỷ lệ vay nợ cao có
thể khiến các nhà quản lý phải quyết định thận trọng. Vì vậy, khi doanh nghiệp có
hiệu quả kinh doanh cao có xu hướng vay nợ ít hơn.
Ngược lại, lý thuyết đánh đổi lại cho rằng các doanh nghiệp có hiệu quả kinh doanh
cao nên đi vay nhiều hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu về vốn lớn hơn để tận dụng
tấm chắn thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nợ vay có thể làm tăng tỷ suất
sinh lời khi lợi nhuận tạo ra từ nợ vay lớn hơn chi phí sử dụng nợ vay.
1.1.3.2 Qui mô doanh nghiệp
Lý thuyết đánh đổi cho rằng quy mô của doanh nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ thuận
với nợ vay, bởi vì các doanh nghiệp lớn thường có tính chất đa dạng hóa cao hơn, ít
rủi ro dẫn đến sự phá sản hay chi phí phá sản thấp. Và quy mô càng lớn doanh
nghiệp càng có uy tín cao hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ. Do vậy, doanh
nghiệp lớn tiếp cận vốn vay từ bên ngoài dễ hơn so với doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Bên cạnh đó, lý thuyết về chi phí đại diện cũng cho rằng chi phí đại diện cũng thật sự
lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ
vì các doanh nghiệp này có động lực chấp nhận rủi
ro để tăng trưởng, đặc biệt nếu các doanh nghiệp có đặc tính trách nhiệm hữu hạn về
vốn. Mối quan hệ này cũng được giải thích bởi vấn đề bất cân xứng về thông tin.
Rajan và Zingales (1995) cho rằng các doanh nghiệp lớn có khuynh hướng công bố