Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động tại công ty Giấy Bãi Bằng - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Từ xa xưa ông cha ta đã từng nói, có 3 ba yếu tố quan trọng nhất quyết
định đến thành bại của một công việc “ Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” . Thiên
thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa.
Con người là chủ thể của tự nhiên, của xã hội và của công việc. Con người
là yếu tố quyết định đến thành bại của bất cứ một việc làm nào. Trong sự phát
triển của kinh tế xã hội con người đóng vai trò vô cùng quan trọng. “Con
người là yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất. Như chúng ta đã
biết, để có quá trình lao động diễn ra phải có ba yếu tố cơ bản là tư liệu lao
động, đối tượng lao động và người lao động. Như vậy nếu thiếu yếu tố con
người thì đối tượng lao động và tư liệu lao động chỉ là vật chết…Người lao
động là yếu tố động nhất, cách mạng nhất của quá trình sản xuất”
1
.Đối với
mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì người lao động là nguồn tiềm năng
chủ yếu không thể thiếu được của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp chỉ có thể
hoạt động có hiệu quả, đạt năng suất cao khi có những người lao động trung
thành,làm việc nhiệt tình,sáng tạo. Nắm được tầm quan trọng đó, và để doanh
nghiệp có thể hoạt động tốt, làm việc có hiệu quả ( có chất lượng, năng suất
cao), doanh nghiệp có sức cạnh tranh trên thị trường thì điều quan trọng nhất
của doanh nghiệp, mà cụ thể của người quản lý nhân sự phải làm là phải quan
tâm chăm lo tới người lao động. Chăm lo tới người lao động bao gồm nhiều
khâu: Từ nuôi dưỡng giáo dục, đào tạo, đào tạo nghề đến bổ túc nâng cao tay
nghề, bố trí làm công việc phù hợp với sở trường, chuyên môn của từng lao
động, các chế độ lương, thưởng, phúc lợi xã hội… Đồng thời, doanh nghiệp,
người quản lý nhân sự phải có cách chính sách quản lý, nhằm động viên,
1
Nguồn: T.S Trần Xuân Cầu – T.S Mai Quốc Chánh , Giáo trình Kinh tế lao động , NXB Lao động – Xã
hội, Hà nội,, 2000, Tr5 ( Dùng cho sinh viên không chuyên ngành lao động)

Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thiện công tác tạo động lực cho người lao động. Nhằm giúp người lao động
làm việc có hiệu quả, năng suất cao, gắn bó với công việc và công ty hơn nữa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các chính sách tạo động lực cho
người lao động trực tiếp sản xuất tại công ty ( Người lao động ở các bộ phận:
Nhà máy giấy: phân xưởng bột, phân xưởng nguyên liệu, phân xưởng giấy,
phân xưởng xeo; nhà máy điện; nhà máy hóa chất).
Phạm vi nghiên cứu: Công ty Giấy Bãi Bằng – Công ty mẹ của Tổng
công ty Giấy Việt Nam .
4. Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu thực tiễn tại công ty bằng phương pháp quan sát, phỏng
vấn và điều tra bằng bảng hỏi. Đồng thời sử dụng các phương pháp phân tích,
tổng hợp, thống kê làm phương pháp luận chung cho nghiên cứu.
Nguồn thông tin sử dụng
+ Thứ cấp: Các báo cáo, quy chế, văn bản do công ty cung cấp.
+ Sơ cấp: số liệu, thông tin thu được qua bảng hỏi, phỏng vấn và quan sát
5. Kết cấu và nội dung :
Ngoài phần mở đầu và kết luận,chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực cho người lao động
trong doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác tạo động lực cho người lao động tại
công ty Giấy Bãi Bằng( công ty mẹ - Tổng công ty Giấy Việt Nam)
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực
cho người lao động tại công ty Giấy Bãi Bằng( công ty mẹ - Tổng công ty
Giấy Việt Nam).
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
3

cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”.
Biểu hiện của động lực của người lao động là sự nỗ lực hăng hái làm
việc. Khi làm việc người lao động cảm thấy thích thú, say mê.
Khi bàn về động lực của người lao động trong tổ chức, các nhà quản lý
thường thống nhất ở một số điểm sau đây:
2
 Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc,
không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào.
Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa
là không có người có động lực và người không có động lực.
Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn
tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng
động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện
công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng
của người lao động, phương tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc
 Người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành
công việc. Tuy nhiên, người lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động
lực sẽ mất khả năng thực hiện công việc và có xu hướng ra khỏi tổ chức.
1.1.2. Tạo động lực cho người lao động:
Khi đã biết được động lực làm việc của người lao động là gì, thì điều
đầu tiên cần làm của một nhà quản lý là phải đưa ra các chính sách tạo động
lực hợp lý, kích thích người lao động hăng hái làm việc. Bởi một doanh
nghiệp, một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có những người lao
động làm việc sáng tạo và tích cực.
2
Nguồn :Bùi Anh Tuấn, Giáo trình Hành vi tổ chức, NXB Thống kê, Hà Nội,2003. Tr 89- 90.
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo giáo trình hành vi tổ chức: Tạo động lực được hiểu là hệ thống các

mãn
Các
động

Hành
vi tìm
kiếm
Sự
căng
thẳng
Nhu cầu
được thỏa
mãn
Giảm
căng
thẳng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Hệ thống tiền lương phải đảm bảo tính công bằng và tuân thủ theo quy
định của nhà nước.
- Cách tính toán tiền lương phải đơn giản dễ hiểu và rõ ràng
- Trả lương phải dựa trên mức trên mức độ hoàn thành công việc, căn cứ
vào nỗ lực,năng lực, sự đóng góp của người lao động với doanh nghiệp.
- Mức lương trả cho người lao động phải lớn hơn hoặc bằng mức lương
tối thiểu.
- Trả lương phải đảm bảo nguyên tắc: năng suất lao động tăng nhanh hơn
tiền lương
- Khi trả lương phải xem xét các yếu tố: Thâm niên công tác, kinh
nghiệm, trình độ chuyên môn và đặc biệt là cần phải xem xét tới yếu tố giá cả.
b. Tiền thưởng: “ Tiền thưởng là một dạng khuyến khích tài chính
được chi trả một lần( thường là vào cuối quý hoặc cuối năm) để thù lao cho sự

+ Văn hóa doanh nghiệp: Chính sách hợp lý, quan hệ lao động, điều kiện làm
việc thỏa mái…vv
+ Bản thân công việc: Được giao đúng việc, có cơ hội thăng tiến,…
1.2. Sự cần thiết của việc tạo động lực:
Đối với bản thân người lao động : Tạo động lực góp phần thỏa mãn
nhu cầu tinh thần của người lao động. Khi người lao động có động lực làm
việc thì sẽ tạo ra hiệu quả cao trong công việc, nâng cao năng suất lao động cá
nhân. Khả năng, tay nghề, chuyên môn của người lao động được phát huy tối
đa.Tạo động lực sẽ kích thích tính sáng tạo của người lao động, tăng sự gắn bó
của với công việc. Và tinh thần làm việc thỏa mái dễ dẫn tới giảm thiểu bệnh nghề
nghiệp. Ngoài ra, tạo động lực giúp người lao động hoàn thiện bản thân.
Đối với doanh nghiệp, tổ chức: có chính sách tạo động lực làm việc tốt
sẽ tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc:
• Sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, khai thác tối ưu khả năng của
người lao động.
• Thu hút lao động có tay nghề, chuyên môn cao
• Khiến người lao động cảm thấy hưng phấn khi làm việc, tạo kết
quả tốt, năng suất lao động cao. Làm cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu
quả, năng suất cao, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3. Các học thuyết về tạo động lực:
“ Có nhiều học thuyết về tạo động lực trong lao động cho thấy có nhiều
cách tiếp cận khác nhau về tạo động lực. Tuy nhiên, tất cả các học thuyết đều
có một kết luận chung là: việc tăng cường động lực đối với người lao động sẽ
dẫn tới nâng cao thành tích lao động và các thắng lợi lớn hơn của tổ chức.”
6
Ở đây chỉ nghiên cứu 3 học thuyết cơ bản: Học thuyết về nhu cầu của A.
Maslow; Học thuyết công bằng của J.Adam; Học thuyết kỳ vọng của V.

1.3.2. Học thuyết công bằng của J. Adam
Học thuyết này chỉ ra rằng: Người lao động so sánh những gì họ bỏ vào
một công việc với những gì mà họ mà nhận được từ công việc đó. Và đối
chiếu với những người lao động khác. Người lao động sẽ cảm thấy công bằng
khi cảm thấy quyền lợi/ đóng góp của mình ngang bằng với quyền lợi/đóng
góp của người lao động khác. Các cá nhân người lao động trong tổ chức luôn
có xu hướng so sánh như vậy. Để tạo động lực cho người lao động người
quản lý cần tạo ra sự công bằng giữa những đóng góp của người lao động các
quyền lợi mà họ nhận được.
Có các cách so sánh như sau:
• So sánh tôi với người lao động khác trong nội bộ tổ chức
• So sánh tôi với người lao động ở đơn vị khác
• So sánh tôi với người lao động nói chung
1.3.3. Học thuyết kỳ vọng cùa V. Vroom.
Hình 1.2: Mô hình kỳ vọng đơn giản hóa.
Nguồn: Giáo trình hành vi tổ chức.
Theo học thuyết này:

“ Cường độ của xu hướng hành động theo một
cách nào đó phụ thuộc vào độ kỳ vọng rằng hành động đó sẽ đem đến một kết
qủa nhất định và tính hấp dẫn của kết quả đối với cá nhân”
8
8
Nguồn; Bùi Anh Tuấn, Giáo trình hành vi tổ chức, NXB Thống kê, Hà Nội, 2003, Tr102.
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
10
Nỗ lực
cá nhân
Kết quả
cá nhân

doanh nghiệp khác thì yếu tố tạo động lực cho người lao động có thể là: mức
lương cao, phúc lợi xã hội tốt…
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Điều kiện kinh tế ở nơi có doanh nghiệp mà phát triển thì sẽ ảnh hưởng
tới động lực làm việc của người lao động khác với những người lao động
sống ở nơi có điều kiện kinh tế kém phát triển. Ví dụ ở những nước phát triền,
kích thích phi tài chính nhiều khi có tác dụng tạo động lực hơn các kích thích
tài chính, vì thu nhập họ được nhận là khá cao, động lực làm việc của người
lao động không phải là tiền lương, tiền thưởng cao; mà có thể động lực để họ
làm việc là vì môi trường văn hóa doanh nghiệp tốt, chất lượng phúc lợi họ
nhận được tốt; hoặc họ làm việc chỉ để đáp ứng nhu cầu giao tiếp.
1.4.2. Môi trường bên trong doanh nghiệp:
9
- Nhân tố thuộc về người lao động
• Thái độ, quan điểm của người lao động trong công việc và đối
với tổ chức
• Nhận thức của người lao động về giá trị và nhu cầu cá nhân
• Năng lực và nhận thức về năng lực cá nhân
• Đặc điểm, tính cách của người lao động.
- Nhân tố thuộc về công việc
• Đòi hỏi về kỹ năng nghề nghiệp
• Mức độ chuyên môn hóa của công việc
• Mức độ phức tạp của công việc
• Sự mạo hiểm và mức rủi ro của công việc
• Mức độ hao phí về trí lực
- Nhân tố thuộc về tố chức
• Mục tiêu chiến lược của tố chức
• Văn hóa của tố chức

với sự nỗ lực hết mình của tập thể cán bộ công nhân viên Việt Nam và nước
ngoài; với sự hỗ trợ to lớn từ chính phủ Việt Nam và Thụy Điển; vượt qua vô
vàn khó khăn khách quan và chủ quan, có những thời điểm tưởng chừng như
bế tắc. Cuối cùng, công trình Giấy Bãi Bằng cũng đã được hoàn thiện, khánh
thành vào ngày 26/11/1982 và những tấn giấy quí hơn vàng đầu tiên đã được
sản xuất.
Thời kỳ thứ hai từ năm 1983 đến 1990: Thời kỳ nhà máy bắt đầu đi
vào sản xuất,cũng là thời kỳ nền kinh tế đất nước ta gặp không ít khó khăn.
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thêm nữa, mặc dù có thuận lợi là được sự giúp đỡ toàn diện về quản lý kỹ
thuật, vận hành, tài chính, trong điều kiện máy móc thiết bị vẫn còn mới của
phía Thụy Điển; nhưng trình độ quản lý,kỹ thuật và vận hành của người Việt
Nam tại thời điểm này chưa bắt kịp với yêu cầu quản lý và vận hành tổ hợp
sản xuất bột và giấy hiện đại; nên nhà máy đã gặp không ít khó khăn.Có thể
nói thời kỳ này là thời kỳ khó khăn nhất. Năm 1986, khi có Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nhà máy được tổ chức lại theo mô hình Xí
nghiệp liên hợp.Thời kỳ này sản lượng cao nhất cũng chỉ đạt được 30.499
tấn/năm ( 1986) bằng 55% công suất thiết kế.
Thời kỳ thứ ba từ năm 1990 đến 2005: Giai đoạn Bãi Bằng đổi mới
toàn diện. Tháng 7 năm 1990, các chuyên gia Thụy Điển rút hết về nước, cán
bộ, công nhân Việt Nam tự quản sản xuất kinh doanh, làm chủ máy móc và
thiết bị. Năm 1992, Giấy Bãi Bằng được nhà nước tặng thưởng Huân chương
Lao động Hạng nhì. Ngày 20/4/1993 Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số
176/TTg thành lập Công ty Giấy Bãi Bằng, thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ, trên
cơ sở Xí nghiệp liên hiệp giấy Vĩnh Phú, có vốn ngân sách tự cấp và tự bổ
xung là 557.873 triệu đồng.
Năm 2004 Bãi Bằng đã hoàn thiện nâng cấp và mở rộng sản xuất lên
100.000 tấn giấy/năm và 61.000 tấn bột / năm với chất lượng giấy cạnh tranh

nhà máy và tạo công ăn việc làm cho nông dân lâm nghiệp và bà con nông
dân ở vùng có nguyên liệu giấy. Đó là chức năng và nhiệm vụ chính của Tổng
công ty.
b. Chức năng- nhiệm vụ và quyền hạn của công ty mẹ ( Giấy Bãi Bằng)
 Chức năng: sản xuất kinh doanh giấy các loại và các sản phẩm giấy
theo chỉ tiêu kế hoạch của Tổng công ty Giấy Việt Nam giao.
Theo điều 4. Quyết định số 09/2005/QĐ-BCN ngày 04 tháng 03 năm 2005
của Bộ trưởng Bộ công nghiệp về việc chuyển Tổng công ty Giấy Việt Nam
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Ngành nghề kinh
doanh chính của Công ty mẹ:
a) Sản xuất, kinh doanh các loại giấy, xenluylô, các sản phẩm từ giấy,
nguyên liệu giấy, dăm mảnh, văn phòng phẩm, hoá chất, vật tư, thiết bị, phụ
tùng phục vụ ngành giấy;
b) Khai thác, chế biến, kinh doanh các loại nông, lâm sản, gỗ và các sản
phẩm chế biến từ gỗ (gỗ dán, ván ép, bút chì, đũa, đồ mộc);
c) Sản xuất, kinh doanh ngành in, các sản phẩm văn hoá phẩm, xuất bản
phẩm, các sản phẩm may mặc, da giầy, các mặt hàng từ chất dẻo;
d) Thiết kế, thi công, xây lắp phục vụ lâm nghiệp, khai hoang, trồng
rừng, khai thác rừng, khoanh nuôi làm giàu rừng, thuỷ lợi nhỏ, xây dựng dân
dụng và công nghiệp; quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng,
đ) Kinh doanh sắt thép đặc chủng sử dụng cho ngành giấy; sửa chữa các
thiết bị, nhà xưởng sản xuất giấy; sản xuất, lắp đặt thiết bị phụ trợ, kết cấu
kim loại ngành công nghiệp (cơ và điện);
e) Kinh doanh phụ tùng xe máy chuyên dụng để bốc xếp, vận chuyển
nguyên liệu; dịch vụ thiết bị vật tư xăng dầu; sửa chữa xe máy; dịch vụ khoa
học công nghệ, vật tư kỹ thuật và phục vụ đời sống; dịch vụ vận tải lâm sản
và bốc xếp hàng hoá vật tư;

trường, quốc phòng và an ninh quốc gia
- Thực hiện chế độ báo cáo thống kê kế toán, báo cáo định kỳ theo quy
định của nhà nước
- Chịu sự kiểm tra của Tổng công ty Giấy Việt Nam, tuân thủ các quy định
về thanh tra của các cơ quan tài chính và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật theo quy định của nhà nước.
 Quyền hạn của công ty:
- Quản lý, sử dụng vốn và thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ được Tổng
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công ty giao.
- Đại diện cho Tổng công ty Giấy Việt Nam làm việc với các cơ quan nhà
nước theo phân cấp của Tổng công ty Giấy Việt Nam.
- Được ký kết các hợp đồng kinh tế, được chủ động thực hiện các hoạt
động kinh doanh, hoạt động tài chính theo phân cấp của Tổng công ty Giấy
Việt Nam.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức.( Xem trang bên)
Tổng công ty Giấy Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo
mô hình Công ty mẹ- Công ty con theo Quyết định số 64/QĐ-TTg ngày
20/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ có trụ sở đặt tại 25 A- Lý Thường Kiệt
Hà Nội và Thị Trấn Phong Châu- Huyện Phù Ninh- Tỉnh Phú Thọ. Tổng công
ty hiện nay có 25 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 5 đơn vị hạch toán báo sổ, các
phòng ban chức năng và các Công ty con, công ty liên kết.
• Các đơn vị hạch toán phụ thuộc, bao gồm:
- Công ty Tissue Sông Đuống
- Công ty chế biến và xuất nhập khẩu dăm mảnh
- Công ty vận tải và chế biến lâm sản
- Xí nghiệp khảo sát và thiết kế lâm nghiệp
- 16 lâm trường

có hướng thay thế và đổi mới máy móc trong công ty khi cần thiết. Ngoài ra
còn có nhiệm vụ nhằm giảm thải sự ô nhiễm từ chất thải của công ty để tránh
làm ảnh hưởng đến không khí xung quanh khu vực sản xuất. Đồng thời chức
năng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động.
- Phòng kinh doanh: là sự sát nhập của 2 phòng ban trước kia với nhau:
phòng thị trường và phòng vật tư. Khảo sát và tiếp cận thị trường tiêu thụ, từ
đó trình lên Tổng công ty về kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, các chiến lược
marketing để từ đó tổng công ty đưa ra mục tiêu sản xuất kinh doanh.
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Phòng tài chính-kế toán: Là bộ phận tham mưu giúp cho phó Tổng
giám đốc Tài chính tổ chức công tác thực hiện công việc tài chính kế toán,
quản lý chặt chẽ các nguồn vốn, thống kê, lưu trữ các hóa đơn chứng từ của
toàn bộ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Giúp Phó tổng giám
đốc Tài chính soạn thảo và quản lý các hợp đồng kinh tế, thực hiện tốt công
tác kế toán để báo cáo với cơ quan chức năng khi có yêu cầu. Thường xuyên
phân tích tình hình tài chính, đánh giá khái quát tình hình tài chính, phân tích
tình hình đảm bảo nguồn vốn lao động, phân tích tình hình và khả năng thanh
toán trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp hữu hiệu để nâng cao công tác quản
lý và hiệu quả kinh doanh.
- Phòng tổ chức lao động: Có chức năng và nhiệm vụ chính: Tham mưu
cho Tổng giám đốc về các lĩnh vực cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý công ty, tổ
chức lao động, tiền lương, hành chính, pháp chế, thi đua khen thưởng, kỉ luật.
Cung cấp và lưu giữ các thông tin về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Phòng gồm: Trưởng phòng, phó phòng, chuyên viên chính phụ
trách mảng tiền lương, chuyên viên chính nhân sự pháp chế, chuyên viên đào
tạo, chuyên viên bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, cán sự chế độ chính sách,
cán sự theo dõi sổ bảo hiểm y tế, cán sự theo dõi thi đua, cán sự văn thư.
- Phòng xây dựng cơ bản: Chức năng chủ yếu là tham mưu cho ban

Ban Kiểm soát
Kế toán trưởng
Phó Tổng giám đốc
Nguyên liệu
Phó Tổng giám đốc
Đầu tư
Phó Tổng giám đốc
Tài chính
Phó Tổng giám đốc
Kinh doanh
Phó Tổng giám đốc
Kỹ thuật - Sản xuất
- Phòng Kỹ
thuật
- Nhà máy
Giấy
- NM Hoá chất
- XN Bảo
dưỡng
- C.ty giấy
Tissue Sông
Đuống
- Phòng Kinh doanh
- Tổng kho
- CN Tổng C.ty tại
TP.HCM
- CN Tổng C.ty giấy tại
Đà Nẵng
- TT DVKD giấy tại
Hà Nội

Sản lượng
sản phẩm
sảnxuất(tấn)
Sản lượng
sản phẩm
tiêu thụ(tấn)
Doanh
thu( triệu
đồng)
Nộp ngân
sách( triệu
đồng)
Lợi
nhuận( triệ
u đồng)
2002
2003
2004
2005
2006
75.865
48.078
85.327
92.171
101.159
72.720
52.163
71.205
99.560
101.201

hệ thống dây truyền sản xuất.
Cùng với sự cố gắng của cán bộ công nhân viên và sự đầu tư đổi mới,
cải tiến công nghệ, cho đến nay có thể nói công ty giấy Bãi Bằng( nay là Tổng
Nguyễn Thu Huyền Lớp: KTLĐ 46B
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công ty Giấy Việt Nam) đã có cơ sở vật chất khá vững chắc, một công nghệ
sản xuất hiện đại nhất và cho kết quả sản xuất kinh doanh cao nhất.
Năm 2002, sản lượng sản phẩm sản xuất đạt 75.865 tấn/ năm. Nộp
ngân sách nhà nước 67.765 triệu đồng, lợi nhuận 52.430 triệu đồng. Với năng
lực hiện có và ưu thế về nguyên liệu, mặt bằng, cơ sở vật chất kỹ thuật công
ty giấy Bãi Bằng( trước đây) đã được Tổng công ty Giấy ưu tiên chọn đầu tư
mở rộng năng lực sản xuất. Năm 2003 dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 1 đã
được triển khai,nâng cấp và mở rộng dây truyền sản xuất hiện có với tổng
mức đầu tư 1.107 tỷ đồng, trong đó hơn 200 tỷ đồng dành cho đầu tư hệ thống
xử lý môi trường; đưa năng lực sản xuất bột giấy lên 68.000 tấn/ năm và năng
lực sản xuất giấy lên 100.000 tấn/ năm với chất lượng sản phẩm đạt tiêu
chuẩn quốc tế.
Năm 2004, việc đầu tư mở rộng giai đoạn 1 hoàn thành, và ngay trong
năm đó công ty đã sản xuất được 85.327 tấn giấy, vượt 4% so với kế hoạch,
với doanh thu đạt 857.089 triệu đồng, lợi nhuận đạt được 4.074 triệu đồng.
Ngày 1/8/2005, Tổng công ty Giấy Việt Nam chuyển sang hoạt động theo mô
hình công ty mẹ- công ty con, với công ty Giấy Bãi Bằng làm trụ cột chính.
Với mô hình này,Tổng công ty Giấy Việt Nam mà trước hết là công ty mẹ-
Công ty Giấy Bãi Bằng đã phát huy huy năng lực sản xuất, và không ngừng
nâng cao sản lượng cũng như chất lượng sản phẩm, năm 2005, sản lượng
giấy đạt 92.171 tấn giấy/ năm, đạt 100% kế hoạch cả năm. Lượng giấy tiêu
thụ 99.547 tấn tăng 40% so với năm 2004. Đặc biệt, ngoài nguyên liệu cung
ứng cho sản xuất, Bãi Bằng còn xuất khẩu hơn 100.000 tấn giấy thành phẩm
sang các thị trường nước ngoài như: Malayxia, Inđônêxia, Philippin. Năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status