1
MỤC LỤC
Bài 1: Khái niệm về bệnh tâm thần……………………………………… Trang 2
Bài 2: Theo dõi-chăm sóc các trường hợp cấp cứu tâm thần…………… Trang 12
Bài 3: Phụ giúp bác sĩ khám và làm liệu pháp chữa bệnh tâm thần… Trang 21
Bài 4: Nguyên tắc dùng thuốc cho người bệnh tâm thần………………….Trang 31
Bài 5: Chăm sóc người bệnh hysteria…………………………………… Trang 37
Bài 6: Chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt………………………… Trang 44
Bài 7: Chăm sóc người bệnh động kinh………………………………… Trang 51
Bài 8: Chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần……………………………Trang 58
Bài 9: Chăm sóc người bệnh tâm thần tại cộng đồng…………………… Trang 64
Bài 10: Quản lý-theo dõi-hỗ trợ người bệnh tâm thần…………………….Trang 70
Bài 11: Vệ sinh-phòng bệnh tâm thần…………………………………… Trang 76
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………Trang 81
2
KHÁI NIỆM VỀ BỆNH TÂM THẦN
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Trình bày được đại cương về tâm thần học và phân biệt bệnh tâm thần với
bệnh thần kinh.
2. Kể được các nguyên nhân và các nhân tố thuận lợi gây phát sinh bệnh tâm
thần.
3. Mô tả được các bệnh tâm thần thường gặp và cách nhận định tình trạng
bệnh nhân.
trường xã hội. Như vậy, thực chất sức khoẻ tâm thần ở cộng đồng là:
1. Một cuộc sống thật sự thoải mái.
2. Đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người
khác.
3. Có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống.
4. Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan hệ.
4
5. Có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất thăng
bằng, căng thẳng (Tổ chức y tế thế giới. Geneva - 1998).
Vậy là chăm sóc bảo vệ sức khoẻ tâm thần cho mọi người là một mục tiêu rất
cụ thể, mang tính xã hội, nhưng cũng rất cao, rất lý tưởng và phải phấn đấu liên
tục để tiến dần từng bước, cuối cùng đạt được mục tiêu “Nâng cao chất lượng cuộc
sống” của con người Việt Nam.
1.3 Nội dung của tâm thần học
- Tâm thần là một bộ môn trong y học, có nhiệm vụ nghiên cứu các biểu hiện lâm
sàng, bệnh nguyên, bệnh sinh các bệnh tâm thần, nghiên cứu các biện pháp phòng
và chữa các bệnh này.
- Tâm thần học được chia ra 2 phần lớn: tâm thần học đại cương và tâm thần học
hiện đại.
- Trong quá trình phát triển, tâm thần học đã chia ra nhiều phân môn: tâm thần học
người lớn, tâm thần trẻ em, tâm thần học quân sự, tâm thần học người già, giám
định pháp y tâm thần, tâm thần học xã hội, dược lý tâm thần và sinh hóa tâm
thần…….
1.3.1 Tâm thần học truyền thống
Tâm thần học đại cương
- Lịch sử phát triển tâm thần học.
- Triệu chứng học, hội chứng học.
- Mối liên quan giữa tâm thần học và các môn khoa học khác.
- Phân loại các bệnh, các rối loạn tâm thần.
- Bệnh nguyên, bệnh sinh của một số bệnh và các rối loạn tâm thần.
nhau gây ra: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm thần, bệnh cơ thể… làm rối
loạn chức năng phản ánh thực tại. Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý
thức…….bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm thần có những ý nghĩ, cảm xúc, hành
vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh.
- Phạm vi các bệnh tâm thần rất rộng. Bệnh tâm thần là loại bệnh rất phổ biến,
công nghiệp ngày càng phát triển, sự tập trung dân cư vào các thành phố ngày
càng đông, cuộc sống ngày càng căng thẳng thì bệnh ngày càng tăng. Có những
bệnh tâm thần nặng (các bệnh loạn thần), quá trình phản ánh thực tại sai lệch trầm
trọng, hành vi, tác phong bị sai lệch nhiều. Có những bệnh nhân tâm thần nhẹ (các
bệnh tâm căn, nhân cách bệnh), quá trình phản ánh thực tại cũng như hành vi tác
phong rối loạn ít, bệnh nhân vẫn còn có thể sinh hoạt, lao động, học tập được, tuy
có giảm sút.
- Bệnh tâm thần thường không gây chết đột ngột nhưng làm đảo lộn sinh hoạt, gây
căng thẳng cho các thành viên trong gia đình và tổn thất cả về kinh tế. Bệnh tâm
thần nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến trạng thái tâm thần sa sút,
người bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Phát hiện sớm và ngăn
chặn kịp thời là để ngăn chặn sự tiến triển xấu này.
1.5 Phân biệt bệnh tâm thần với bệnh thần kinh
Điểm khác nhau
- Bệnh tâm thần (còn gọi là tâm bệnh) chưa phát hiện được tổn thương đặc hiệu về
mặt hình thái của hệ thần kinh mà chỉ phát hiện được những biến đổi tinh vi về
mặt sinh hóa, miễn dịch, di truyền…… Ða số các dấu hiệu bệnh là do rối loạn
chức năng của não. Phần lớn bệnh nhân có thể ăn khỏe, chơi khỏe, đi đứng bình
thường nhưng có ý nghĩ, cảm xúc, hành vi không phù hợp, kỳ dị, khó hiểu. Bệnh
nhân tâm thần thường không nhận thấy mình bị bệnh, từ chối điều trị tại chuyên
khoa tâm thần.
6
- Bệnh nhân thần kinh có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra làm tổn thương
thực thể tại các phần khác nhau của hệ thần kinh như não bộ, tủy sống, dây thần
kinh ngoại vi gây rối loạn chủ yếu chức năng tiếp thu và thực hiện của con người.
sau stress, rối loạn sự thích ứng.
- Căng thẳng tâm lý dẫn đến bệnh tâm căn, rối loạn dạng cơ thể, rối loạn phân ly.
- Rối loạn hành vi ở thiếu niên do giáo dục không đúng, môi trường xã hội không
thuận lợi.
- Rối loạn ám ảnh, lo âu…
2.1.3 Nguyên nhân do cấu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm lý gây ra
- Các di tật bẩm sinh.
- Thiếu sót về hình thành nhân cách.
2.1.4 Các nguyên nhân chưa rõ ràng
7
- Do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác (di truyền, chuyển hóa,
miễn dịch, cấu tạo thể chất…) nên khó xác định nguyên nhân chủ yếu. Các rối
loạn tâm thần nội sinh thường gặp là:
+ Bệnh tâm thần phân liệt.
+ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực.
+ Động kinh nguyên phát.
2.1.5 Các nhân tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh
Nhân tố di truyền
- Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến một số bệnh tâm thần nhưng
không phải là tuyệt đối. Có khi bệnh tâm thần phát sinh trong một thành viên của
gia đình mà không thấy trong các thành viên khác, có trường hợp cha mẹ đều có
bệnh mà con cháu vẫn khỏe mạnh bình thường. Cũng có trường hợp nhân tố di
truyền không tác động vào thế hệ tiếp theo mà vào thế hệ sau nữa.
Yếu tố nhân cách
- Nhân cách bao gồm: thích thú, khuynh hướng, năng lực, tính cách, khí chất…
- Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh các bệnh tâm
thần, nhất là các bệnh do căn nguyên tâm lý. Khi bị bệnh tâm thần thì người có
nhân cách vững bị nhẹ hơn và hồi phục nhanh hơn.
- Nhân cách yếu, không bền vững là một yếu tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát
sinh, khi mắc bệnh tâm thần sẽ hồi phục khó khăn và chậm.
hội. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 18 đến 30, tỷ lệ mắc bệnh từ 0,5% đến 1% dân số.
Điều trị chủ yếu bằng các thuốc an thần kinh phối hợp với liệu pháp lao động thích
ứng xã hội.
2.2.2 Bệnh động kinh
Bệnh động kinh được xếp vào bảng phân loại chuyên khoa thần kinh, nhưng ở
nước ta do ngành tâm thần quản lý và điều trị ngoại trú.
Đây là bệnh mãn tính, có nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc trưng là sự lặp đi
lặp lại các cơn co giật do sự phóng điện quá mức của các tế bào thần kinh não bộ.
Bệnh cảnh lâm sàng đa dạng và có 2 đặc điểm sau:
- Tính chất phát sinh đột ngột, cơn.
- Các triệu chứng bệnh lý man tính và nặng dần.
Có nhiều thể lâm sàng của bệnh động kinh. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu của
động kinh thái dương (động kinh tâm thần) là rối loạn tâm thần xuất hiện đột ngột,
trong cơn thường có rối loạn ý thức, thường có những hành vi nguy hiểm như giết
người trong cơn chạy thẳng. Rố loạn tồn tại trong thời gian ngắn và sau đó mất đi
đột ngột, sau cơn quên tất cả sự việc xảy ra trong cơn.
Tỷ lệ mắc bệnh động kinh từ 0,4 - 0,5% dân số, thường bắt đầu ở lứa tuổi
< 20. Phương pháp cận lâm sàng phát hiện động kinh là ghi điện não có sóng động
kinh. Điều trị chủ yếu bằng các thuốc kháng động kinh. Đối với động kinh tâm
thần cần phối hợp thuốc kháng động kinh với các thuốc an thần kinh.
2.2.3 Bệnh hoang tưởng
Hoang tưởng là một triệu chứng của rối loạn tư duy, là triệu chứng chủ yếu
trong các bệnh loạn thần. Hoang tưởng là những ý tưởng, phán đoán sai lầm,
không phù hợp với thực tế, do bệnh nhân tâm thần gây ra, nhưng bệnh nhân tâm
thần cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích và đả thông được. Hoang
tưởng chỉ mât đi khi bệnh nhân khỏi bệnh hay thuyên giảm.
Hoang tưởng được chia làm 2 loại chính: hoang tưởng suy đoán và hoang
tưởng cảm thụ.
- Hoang tưởng suy đoán được xây dựng thuần túy theo logic lệch lạc của bệnh
nhân, biểu hiện sự rối loạn trong việc phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật và hiện
đến thần kinh, sinh lý, di truyền và giáo dục học. Ngành tâm thần học trẻ em có
nhiệm vụ nghiên cứu các bệnh tâm thần của trẻ em từ lúc sơ sinh cho đến 15 tuổi
để phòng và chữa bệnh này.
- Thông thường có 3 nguyên chính gây ra các bệnh tâm thần của trẻ em:
+ Do tổn thương não trước, trong và sau khi sanh.
+ Do tác nhân xã hội (giáo dục không đúng, môi trường xã hội không lành mạnh )
+ Yếu tố di truyền.
- Các bệnh tâm thần trẻ em bao gồm nhiều loại mà chủ yếu là:
+ Bệnh tâm căn trẻ em.
+ Động kinh và các cơn co giật của trẻ em.
+ Chậm phát triển tâm thần.
+ Các bệnh tâm thần nội sinh…
2.2.6 Chậm phát triển tâm thần
- Chậm phát triển tâm thần là một nhóm trạng thái bệnh lý có bệnh nguyên và
bệnh sinh khác nhau, nhưng được thống nhất lại là vì bệnh cảnh lâm sàng cơ bản
giống nhau: thiểu năng lực trí tuệ, thường có tính chất bẩm sinh hoặc xuất hiện
trong những năm đầu sau khi sanh, khi trí tuệ chưa trưởng thành. Khả năng nhận
thức rất yếu hay không có, thường kèm theo dị dạng cơ thể, nội tạng, trí nhớ, hiểu
biết kém, thường có những động tác vô nghĩa và dễ bị lợi dụng. Chậm phát triển
tâm thần không chữa khỏi được, bằng giáo dục đặc biệt, huấn luyện, lao động có
thể cải thiện được phần nào.
10
- Việc đánh giá mức độ trí tuệ bao gồm các kết quả lâm sàng, tác phong thích ứng
(trong mối quan hệ với xã hội) và kết quả test tâm lý.
- Chậm phát triển tâm thần được chia làm 4 mức độ: nhẹ, vừa, nặng và trầm trọng.
A. Từ lúc sơ sinh cho đến 13 tuổi.
B. Từ lúc sơ sinh cho đến 14 tuổi.
C. Từ lúc sơ sinh cho đến 15 tuổi.
D. Từ lúc sơ sinh cho đến 16 tuổi.
7. Chậm phát triển tâm thần là một nhóm trạng thái bệnh lý có bệnh nguyên và
bệnh sinh khác nhau, nhưng giống nhau ở đặc điểm.
A. Bệnh cảnh lâm sàng.
B. Cùng lứa tuổi mắc bệnh.
C. Thiểu năng lực trí tuệ bẩm sinh.
D. Khả năng nhận thức rất yếu.
8. Bệnh trầm cảm là một hội chứng rối loạn cảm xúc ngược lại với trạng thái.
A. Hưng phấn.
B. Hưng cảm.
C. Nói nhiều, đi lại nhiều.
D. Kích thích thần kinh.
9.Tỷ lệ người mắc bệnh động kinh từ 0,4 - 0,5% dân số, thường bắt đầu ở lứa tuổi.
A. < 16.
B. < 18.
C. < 20.
D. < 22.
10. Bệnh tâm thần phân liệt thường gặp ở lứa tuổi 18 đến 30, tỷ lệ mắc bệnh trong
dân số là.
A. 0,4% - 1%.
B. 0,5% - 1%.
C. 0,6% - 1%.
D. 0,7% - 1%. ĐÁP ÁN
1.A 2.A 3.B 4.A 5.B 6.C 7.A 8.B 9.C 10.B
13
1.2 Nguyên nhân kích động
1.2.1 Kích động phản ứng
- Do nhận thức sai lầm: thường gặp ở bệnh nhân phủ định bệnh, bệnh nhân cho
rằng mình không có bệnh, bị cưỡng bức đến viện để giam giữ.
- Do phản ứng với các sự việc không vừa ý trong phòng bệnh, thường gặp ở bệnh
nhân động kinh, nhân cách bệnh.
- Do say mê theo đuổi mục đích riêng (thường do hoang tưởng, ảo giác chi phối)
nhưng bị những người xung quanh cản trở, thường gặp ở bệnh nhân tâm thần phân
liệt.
- Do doạ nạt, yêu sách nhằm thoả mãn mục đích riêng, thường gặp trong chậm
phát triển tâm thần, rối loạn phân ly.
- Do bị bệnh nhân khác xúi dục hoặc bệnh nhân khác kích động nên kích động
theo.
- Kích động sau stress lạnh, thường gặp trong rối loạn phân ly, rối loạn sau stress
trầm trọng.
- Do thay đổi môi trường đột ngột (chuyển viện, chuyển phòng ), thường gặp ở
bệnh nhân chấn thương sọ não, tai biến mạch não.
Kích động do các bệnh nhiễm độc Bệnh nhân rối loạn cảm xúc pha trầm cảm
1.2.2 Kích động trong các bệnh tâm thần
- Trong bệnh tâm thần phân liệt: kích động có thể gặp ở tất cả các thể nhưng
thường gặp ở các thể: thể thanh xuân, thể căng trương lực, thể paranoid. Kích
động thường mang tính chất xung động, đột ngột, không lường trước được, nhiều
khi rất nguy hiểm như đánh hoặc giết người. Kích động có thể xuất hiện sau các
bệnh nhiễm trùng, nhiễm độc hoặc do hoang tưởng, ảo giác chi phối.
- Khi bệnh nhân quá kích động, cần tiến hành điều trị ngay theo y lệnh bằng các
thuốc:
Halopendol 5 mg x 1 - 2 ống.
15
Seduxen 10 mg x 1- 2 ống(tiêm bắp).
Hoặc Aminazin 25mg x 4 - 6 ống (tiêm bắp).
- Nếu giờ thứ 3 người bệnh vẫn còn kích động thì tiếp tục cho liều như trên. Thông
thường sau giờ thứ 6 thì trạng thái tâm thần của người bệnh ổn định.
- Khi bệnh nhân ngủ, trạng thái tâm thần ổn định, cần tiến hành khám về nội khoa,
thần kinh và cho làm các xét nghiệm cần thiết nhằm tìm nguyên nhân gây kích
động.
- Khi bệnh nhân tỉnh, thầy thuốc cần có mặt để làm liệu pháp tâm lí nhằm ổn định
trạng thái tâm thần cho người bệnh.
- Khi bệnh nhân hết trạng thái kích động chuyển sang thuốc uống, theo dõi các tác
dụng phụ của thuốc và tìm hiểu nguyên nhân để điều trị theo nguyên nhân.
- Có thể phối hợp với liệu pháp sốc điện (ECT) từ 1-2 lần/24giờ. Chỉ định trong
những trường hợp: kích động trầm cảm (có ý tưởng và hành vi tự sát), kích động
căng trương lực, kích động thanh xuân, kích động không dùng được thuốc an thần
kinh hoặc kháng thuốc an thần kinh.
1.4 Quản lý bệnh nhân kích động tại bệnh phòng
- Tốt nhất trong cơn kích động ta phải quản lý bệnh nhân ở phòng cách ly, phòng
cách ly phải được thiết kế làm sao khỏi bị khuất tầm nhìn của nhân viên, nghĩa là
nhân viên luôn quan sát được bệnh nhân để kịp thời can thiệp khi bệnh nhân có
những hành vi nguy hiểm.
- Phòng cách ly phải ở khu vực yên tĩnh, tránh hiện tượng kích động dây chuyền,
bệnh nhân phòng nầy kích động làm bệnh nhân ở những phòng khác kích động
theo. Khu vực nầy hạn chế người nhà ra vào, không cho bệnh nhân cũng như
những ngườì tò mò vào xem.
- Phòng cách ly phải thoáng mát, bảo đảm ánh sáng, không bít bùng để tránh cho
Tư vấn cho gia đình trong việc phòng, quản lý, chăm sóc, hỗ trợ người bệnh
2. Tự sát
2.1 Định nghĩa
Theo Stengel (1958), tự sát là: "bất kỳ sự huỷ hoại nào được gây ra với mục
đích huỷ hoại chính mình, dù là rối loạn hay do mâu thuẫn trong tư tưởng, nếu
bệnh nhân chết do hậu quả hành động là tự sát, tự sát không thành công gọi là toan
tự sát.
2.2 Dịch tễ học
- Tỷ lệ trung bình của tự sát trên toàn thế giới đã tăng lên từ 10 đến 16 người trên
100.000 dân kể từ năm 1950. Mỗi quốc gia khác nhau có tỷ lệ tự sát rất khác nhau,
theo thống kê của WHO (1999) tỉ lệ tự sát của một số quốc gia như sau: liên bang
Nga 41,5/100.000 dân, Pháp 20,7/100.000 dân, Úc 12,8/100.000 dân, Philippin
2,1/100.000 dân.
- Ngoài ra, tự sát có liên quan đến nền văn hoá, tôn giáo, dân tộc: ở Singapor tỉ lệ
tự sát là 9,2/100.000 trong đó người gốc Hoa chiếm 88%.
2.3 Nguyên nhân tự sát và các yếu tố nguy cơ
2.3.1 Các yếu tố nguy cơ
- Tuổi: nguy cơ tự sát tăng theo lứa tuổi và tăng cao ở lứa tuổi sau 50.
- Giới: tỉ lệ tự sát ở nam cao hơn nữ, nữ có tỉ lệ toan tự sát cao hơn nam.
- Mùa: tự sát hay gặp vào mùa xuân, vào ngày nghỉ cuối tuần.
17
- Những người sống xa lánh xã hội, sống cô độc, nam giới lớn tuổi.
- Những người có các bệnh cơ thể nặng, ung thư, giai đoạn đầu xét nghiệm HIV
dương tính.
- Người nghiện ma túy, nhiễm chất độc.
- Tiền sử cá nhân, gia đình có người có hành vi tự sát hoặc có người bị rối loạn
cảm xúc lưỡng cực.
- Chú ý: các thuốc chống trầm cảm có tác dụng chậm sau 10 - 15 ngày cho nên
trong 2 tuần đầu nên theo dõi sát và phối hợp với sốc điện.
- Đề phòng bệnh nhân giả vờ khỏi xin ra viện để trốn tránh sự giám sát của thầy
thuốc và thực hiện ý định tự sát dễ dàng hơn. Vì vậy, khi trạng thái tâm thần của
bệnh nhân thật tốt mới cho ra viện.
- Đối với hoang tưởng, ảo giác dùng Nozinan 400-500mg/24 giờ hoặc Haloperidol
20 - 25mg/24 giờ.
18
Thuốc an thần kinh Thuốc chống trầm cảm
2.5 Phòng bệnh
- Phát hiện sớm những người có yếu tố nguy cơ bởi gia đình, người thân, các tổ
chức xã hội, các bác sỹ gia đình.
- Điều trị sớm bệnh nhân trầm cảm, chỉ cho xuất viện khi bệnh nhân không còn ý
tưởng tự sát không còn hội chứng trầm cảm, hết các triệu chứng loạn thần.
- Sau khi bệnh nhân ra viện cần tiếp tục kê đơn điều trị ngoại trú và theo dõi theo
định kỳ.
- Tư vấn cho gia đình, người thân trong công tác theo dõi, quản lý và điều trị dự
phòng tại gia đình.
3. Bệnh nhân không chịu ăn uống
Không chịu ăn uống là một cấp cứu thường gặp trong lâm sàng tâm thần.
Nguyên nhân rất phức tạp, bệnh cảnh có thể kéo dài rất lâu, gây hậu quả nghiêm
trọng ảnh hưởng đến tính mạng bệnh nhân.
3.1 Nguyên nhân
- Do rối loạn bản năng ăn uống: thường gặp trong giai đoạn đầu của bệnh tâm thần
trẻ em hay trạng thái trầm cảm của người già.
LƯỢNG GIÁ BÀI HỌC
I. Phần câu trả lời đúng sai: Đánh dấu A cho câu đúng– B cho câu sai
1. Các trạng thái bệnh lý tâm thần chính trong cấp cứu tâm thần bao gồm: kích
động, tự sát, người bệnh không chịu ăn.
A. Đúng.
B. Sai.
2. Việc thực hiện thuốc an thần kinh cho người bệnh tâm thần qua đường tiêm là
tốt nhất vì hạn chế được tác dụng phụ của thuốc.
A. Đúng.
B. Sai.
3. Người bệnh tâm thần khi kích động nhiều thường mất nước, điện giải, vì vậy
cần bồi phụ nước và điện giải đầy đủ.
A. Đúng.
20
B. Sai.
4. Yếu tố nguy cơ tự sát ở bệnh nhân tâm thần tăng theo lứa tuổi và tăng cao ở lứa
tuổi sau 60.
A. Đúng.
B. Sai
5. Tác dụng của các thuốc chống trầm dùng cho bệnh nhân tâm thần thường có
hiệu quả chậm sau 15 - 20 ngày.
A. Đúng.
B. Sai.
II. Phần chọn câu đúng nhất : Khoanh tròn vào đầu câu chọn
6. Một trạng thái bệnh lý thường gặp trong cấp cứu lâm sàng bệnh tâm thần là.
A. Kích động.
B. Tự sát.
PHỤ GIÚP BÁC SĨ KHÁM VÀ LÀM LIỆU PHÁP
CHỮA BỆNH TÂM THẦN
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1. Trình bày được cách bố trí phòng khám bệnh cho bệnh nhân tâm thần.
2. Mô tả được cách phụ giúp bác sĩ khám bệnh và tiến hành một số kỹ thuật.
3. Tiến hành theo dõi và chăm sóc bệnh nhân sau khi làm các kỹ thuật.
4. Kể được một số liệu pháp tâm lý hỗ trợ điều trị bệnh nhân tâm thần.
NỘI DUNG
1. Bố trí phòng khám bệnh cho bệnh nhân tâm thần
- Phòng khám là nơi tiếp đón bệnh nhân đầu tiên, đa số các bệnh nhân tâm thần tự
cho mình là không bị bệnh nên từ chối sự khám bệnh. Vì vậy, cách bố trí phòng
khám phải làm cho bệnh nhân có cảm giác dễ chịu thoải mái, yên tâm và hợp tác
để bác sĩ khám bệnh. Cách bố trí phòng khám phải gọn gàng, sạch đẹp, màu sắc
phải hài hòa, trang nhã để làm bớt sự căng thẳng về tâm thần cho người bệnh.
- Thái độ, lời nói, cử chỉ của nhân viên y tế khi tiếp đón người bệnh phải niềm nở,
ân cần, chu đáo, nhẹ nhàng và thực sự tôn trọng bệnh nhân để bệnh nhân tin tưởng
và hợp tác khám bệnh.
… nhân viên y tế khi tiếp đón người bệnh phải niềm nở ……
2. Tiến hành phụ giúp bác sĩ khám bệnh cho bệnh nhân tâm thần
- Hướng dẫn chi tiết cho gia đình bệnh nhân khai đầy đủ và chính xác về tiền sử,
bệnh sử tâm thần của bệnh nhân.
- Giải quyết các thủ tục hành chính cần thiết, gọn nhẹ, đơn giản: ghi chép vào sổ
khám bệnh đầy đủ các mục (tên, tuổi, nghề nghiệp, quê quán, nơi giới thiệu của
bệnh nhân…).
189
- Trạng thái hoang tưởng dai dẳng.
- Trạng thái kích động dữ dội, hưng cảm kéo dài.
- Các trường hợp có chống chỉ định dùng thuốc hướng thần hoặc sử dụng thuốc
hướng thần không có kết quả.
23
- Các trường hợp từ chối ăn uống.
- Hội chứng suy nhược thần kinh có mất ngủ kéo dài, điều trị lâu ngày không có
kết quả.
Chống chỉ định sốc điện
- Tăng áp lực nội sọ.
- Các bệnh nhiễm khuẩn đang trong giai đoạn cấp tính.
- Bệnh tim mạch như: nhồi máu cơ tìm mới, rối loạn dẫn truyền, phình động
mạch chủ và động mạch não, xơ cứng động mạch não, cao huyết áp, suy mạch
vành.
- Bệnh hô hấp nặng có thể gây hôn mê: suy hô hấp cấp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn
tính.
- Bệnh gan - thận, cường giáp trạng.
- Bệnh tăng nhãn áp.
- Dị tật cột sống, lao cột sống, chấn thương cột sống.
- Các bệnh về xương, khớp như: thưa xương, viêm xương.
- Phụ nữ đang thời kỳ hành kinh và thai ngắt.
- Trẻ em dưới 16 tuổi và người già yếu trên 60 tuổi.
Liều lượng
- Điều trị tấn công: một ngày một lần, một đợt từ 8 - 10 lần.
- Điều trị củng cố: một tuần hai lần trong 3 tuần.
3.1.1 Chuẩn bị dụng cụ
- Kiểm tra lại máy sốc, điện cực, dây diện một lần nữa trước khi sốc để đảm bảo
an toàn tuyệt đối cho bệnh nhân và nhân viên y tế.
- Quan sát lại xem phòng sốc điện đã đầy đủ các phương tiện và dụng cụ để tiến
điện vào máy sốc, bấm nút điện trên máy sốc điện trong khoảng thời gian từ 0,2 -
1 giây.
- Người phụ giữ hai vai, khớp gối, khớp hàm bệnh nhân, để các chi ở tư thế thoải
mái để đề phòng gãy xương, trật khớp.
- Khi bệnh nhân hết cơn co giật thì rút gối ở lưng ra và kê gối lên đầu cho bệnh
nhân, đặt đầu bệnh nhân nghiêng sang một bên, rút ngáng lưỡi. Nếu còn đờm dãi
thì lấy khăn mặt lau sạch cho bệnh nhân và kiểm tra xem bệnh nhân có bị xây xát
không ?
- Sau sốc điện để bệnh nhân ở phòng thoáng, đo mạch, nhiệt độ, huyết áp, đếm
nhịp thở và theo dõi từ 30 phút đến 1 giờ.
- Thông thường sau cơn co giật bệnh nhân có rối loạn ý thức trong một thời gian
ngắn và sau đó bệnh nhân sẽ ngủ. Nhưng có một số trường hợp bệnh nhân sau làm
sốc điện còn ở trong tình trạng ú ớ quờ quạng, lúc này bệnh nhân không biết gì
nên phải giữ bệnh nhân nằm yên tại giường cho đến khi bệnh nhân tỉnh hoàn toàn
mới thôi để tránh tai biến.
- Thu dọn dụng cụ, máy móc.
3.1.4 Theo dõi và chăm sóc bệnh nhân sau khi làm sốc điện
- Tỉ lệ tử vong do sốc điện ước tính là 1/50.000 trường hợp, chủ yếu do các biến
chứng về tìm mạch.
- Nếu chuẩn bị tốt, chỉ định đúng, tiến hành đúng thao tác thì sẽ không xảy ra
những tai biến do sốc điện (gãy xương, trật khớp, ngừng thở lâu …). Khi có tai
biến xảy ra thì phải tiến hành xử trí kịp thời.
- Trật khớp vai, khớp thái dương hàm, khớp háng… phải nắn vào đúng phương
pháp và kịp thời.
- Gãy xương do co giật và giữ bệnh nhân không đúng tư thế. Xử trí: cố định ngay
xương gãy.
- Gãy răng, răng rụng rơi vào khí quản hoặc thức ăn trào ngược lên đường thở do
chuẩn bị bệnh nhân chưa tốt. Xử trí: mở khí quản cấp cứu trong trường hợp ngừng
hô hấp do phản xạ, dị vật rơi vào đường thở.
- Ngừng thở lâu do ức chế hô hấp: ấn nhẹ vào vùng trên rốn phía dưới lồng ngực
bệnh nhân. Khi đón tiếp bệnh nhân phải niềm nở ân cần và chỉ dẫn chu đáo. Kịp
thời loại bỏ những diễn biến tâm lý phức tạp của bệnh nhân có cảm giác bị bỏ rơi
sinh ra lo lắng sợ hãi.
- Phải đảm bảo môi trường “Vô khuẩn về tâm lý”, mọi lời nói của nhân viên phục
vụ phải ăn khớp với nội dung lời nói của thầy thuốc. Những lời nói không khéo,
những cái cười thiếu ý thức, những lời giải thích không có trách nhiệm … có thể
làm mất tác dụng của liệu pháp tâm lý rất công phu của thầy thuốc.
- Thái độ của nhân viên y tế đúng mực, niềm nở, chỉ dẫn tỉ mỉ, chu đáo tận tình sẽ
tác động tốt đến tâm thần của bệnh nhân.