Tài liệu Giáo trình Chăm sóc Sức Khoẻ bệnh nhân thận - Pdf 98

Chăm sóc Sức Khoẻ bệnh nhân thận
Khuyến cáo của Hội Thận Học Hoa Kỳ về chăm sóc sức Khoẻ
bệnh nhân thận

Hội Thận Học Hoa Kỳ vừa đưa ra khuyến cáo về chăm sóc sức khoẻ dự phòng
đối với bệnh nhân bệnh lý thận mãn (BTM) và bệnh lý thận giai đoạn cuối (BTGDC).
Bảng 1. Đề phòng nhiễm trùng do vi khuẩn
Khám da, những vùng da khô bất thường, vùng ngứa da và các vết thương hở.
Tạo shunt động tĩnh mạch trước khi chạy thận nhân tạo ở bệnh nhân bệnh thận
mãn (BTM) để giảm yêu cầu đặt catheter.
Tầm soát nhiễm staphylococcus ở vùng mũi bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối
(BTGDC) có đặt catheter để chạy thận nhân tạo hoặc thẩm phân phúc mạc.
Bôi pommade mupirocin (bôi trong mũi, ngày 2 lần trong 5 ngày và sau đó mỗi
tuần một lần ) ở bệnh nhân nhiễm Staphylococcus sp.
Bôi pommade mupirocin hoặc gentamicin ở đầu ra của catheter đối với những
bệnh nhân có nhiễm trùng liên tiếp ở catheter và những bệnh nhân có nhiễm
Staphylococcus sp ở mũi.
Khám răng và điều trị bệnh nhân bị viêm lợi và viêm nha chu.
Điều trị phòng ngừa viêm nội tâm mạc (2 g amoxicillin hoặc 600 mg
clindamycin) 1 giờ trước can thiệp về răng và nha chu ở bệnh nhân bệnh thận mãn
(BTM) và bệnh thận giai đoạn cuối (BTGDC) có đặt van tim nhân tạo, có bệnh tim
bẩm sinh, có tiền sử viêm nội tâm mạc, bệnh nhân ghép tim, vôi hoá van tim, có
catheter chạy thận nhân tạo hoặc can thiệp động-tĩnh mạch.

Bảng 2. Tiêm phòng

Tất cả các bệnh nhân bệnh thận mãn (BTM) hoặc bệnh thân giai đoạn cuối
(BTGDC) cần được tiêm phòng cúm mỗi năm.
Tất cả các bệnh nhân bệnh thận mãn (BTM) hoặc bệnh thận giai đoạn cuối
(BTGDC) cần được tiêm phòng pneumococcus ít nhất một lần; bệnh nhân có nguy cơ
lây nhiễm cao cần được tiêm nhắc lại mỗi 5 năm nếu thấy cần thiết.

/tuần) trong 2 tháng.

Bảng 4. Kiểm soát rối loạn chuyển hoá lipids và đái tháo đường

Chỉ số LDL, HDL, triglyceride và cholesterol toàn phần ở bệnh nhân BTM cần
được kiểm tra ít nhất mỗi năm 1 lần.
Mục tiêu điều trị là đạt chỉ số LDL thấp hơn 1.8 mmol/l (70 mg/dl) đối với bệnh
nhân BTM có đái tháo đường và ít hơn 2.6 mmol/l (100 mg/dl) đối với bệnh nhân
BTM đơn thuần.
Nếu có thể được nên kiểm tra LDL, HDL, triglyceride và cholesterol toàn phần
lúc đói ở bệnh nhân BTGDC, mức độ sau ăn cần được kiểm tra ít nhất mỗi năm một
lần:
Nếu LDL sau ăn vượt 4.9 mmol/l (190 mg/dl) hoặc triglyceride sau ăn vượt 5.7
mmol/l (500 mg/dl), cần kiểm tra lipids máu lúc đói.
Nếu LDL lúc đói thấp hơn 3.4 mmol/l (130 mg/dl) và bệnh nhân được đánh giá
có nguy cơ cao bị biến chứng tim mạch, cần khuyến cáo bệnh nhân thay đổi lối sống
và tiến hành điều trị vớí mục tiêu LDL < 2.6 mmol/l (100 mg/dl)
Nếu mức LDL lúc đói ít nhất 3.4 mmol/l (130 mg/dl) và bệnh nhân được đánh
giá có nguy cơ biến chứng tim mạch trung bình, nên khuyến cáo bệnh nhân thay đổi
lối sống và xem xét điều trị với mục tiêu LDL < 3.4 mmol/l (130 mg/dl)
Nếu LDL lúc đói ít nhất 4.9 mmol/l (190 mg/dl) và bệnh nhân được xem có
nguy cơ biến chứng tim mạch thấp thì nên khuyến cáo bệnh nhân thay đổi lối sống và
xem xét điều trị với mục tiêu LDL < 4.1 mmol/l (160 mg/dl)
Đối với hemoglobin glycated (HbA1C) , mục tiêu giữ ở mức thấp hơn 7%

Bảng 5. Tầm soát ung thư
Carcinoma tế bào thận
Bịnh nhân có bệnh nang thận mắc phải, dù có chạy thận nhân tạo hay không,
cũng cần được tầm soát bằng siêu âm ít nhất mỗi năm một lần.
Ung thư tuyến tiền liệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status