VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI
TRONG MỐI LIÊN KẾT VÙNG KINH TẾ
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TỪ 1986 ĐẾN NAY
MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ
TS. Trần Thị Tường Vân
Viện Sử Học‑Viện KHXH Việt Nam
1. Khái quát vị thế và vai trò của thủ đô Hà Nội trong mối liên kết
vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng
1.1.Vài nét về vị thế của thủ đô Hà Nội
Nằm ở trung tâm vùng châu thổ Sông Hồng trù phú, Hà Nội là thủ
đô đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích (3.324,92
km
2
) đứng thứ hai về dân số với 6,449 triệu người. Pháp lệnh thủ đô Hà
Nội năm 2000 đã khẳng định: Thủ đô Hà Nội“ là trung tâm đầu não
chính trị‑hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo
dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước; là nơi đặt trụ sở của cơ
quan trung ương Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị‑ xã hội, các
cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt
động đối nội, đối ngoại quan trọng nhất của đất nước”
1
. Cùng với thành
phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả
quốc gia. Năm 2007, GDP của Hà Nội tăng khoảng 12,1%, tổng giá trị
xuất khẩu đạt trên 4 tỷ USD, tổng thu ngân sách khoảng 45.709 tỷ đồng.
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, Hà Nội vẫn tăng trưởng khá, với
mức tăng GDP 9 tháng đầu năm 2009 đạt 5,7%.
Trên địa bàn Hà Nội được hưởng những tiềm năng to lớn không
thể có ở bất cứ nơi nào trong cả nước. Ở đây tập trung bộ máy lãnh
1. Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội, được Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội thông qua ngày 28‑12‑
2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương ký lệnh công bố ngày 11‑11‑2001, Báo Nhân
tác kinh doanh. Hà Nội còn là địa điểm thu hút du khách trong và ngoài
nước đến du lịch, tìm hiểu và khám phá các danh thắng lịch sử, văn
hóa trong vùng.
Như vậy, với vị trí trung tâm tổng thể của mình, Hà Nội có rất nhiều
lợi thế để thúc đẩy nhanh quá trình hợp tác trong nước và ngoài nước.
Riêng với vùng kinh tế đồng bằng Sông Hồng, lợi thế đó được phát huy
1. Cầu Thanh Trì làm lễ thông xe ngày 2‑2‑2007. Cùng với đường vành đai 3 Hà
Nội, cầu Thanh trì nối thông 5 Quốc lộ (QL1, QL2, QL3,QL5 và QL 1A mới), liên
kết vùng tam giác kinh tế Hà Nội‑Hải Phòng‑Quảng Ninh, với trục giao thông
Bắc‑Nam.
Vị trí, vai trò của thủ đô Hà Nội trong mối liên kết vùng kinh tế
443
một cách đặc biệt
1
. Có thể nói, vị thế của Hà Nội cũng chính là lợi thế,
tạo nên sức mạnh tổng hợp cho Hà Nội, góp phần quan trọng tạo nên
kỳ tích của Hà Nội thời kỳ đổi mới. Với vị thế, uy tín và sức hút ngày
càng được nâng cao, thủ đô Hà Nội gặp rất nhiều thuận lợi khi triển
khai thực hiện các mối quan hệ, liên kết, hợp tác với các địa phương,
tỉnh thành phố trong cả nước. Vấn đề còn lại là ở chỗ chính quyền địa
phương cần xác định được đúng phương hướng phát triển, có chiến
lược liên kết, tập hợp sức mạnh lực lượng sản xuất của các đối tác, để
hỗ trợ nhau, cùng phát triển, cùng có lợi.
1.2.Vai trò của Hà Nội trong mối liên kết vùng giai đoạn đầu
quá trình đổi mới (1986 đến nay).
Đại hội Đảng bộ lần thứ X (tháng 10‑1986), đã đánh dấu sự chuyển
biến quan trọng về tư tưởng, chính trị của Đảng bộ Hà Nội theo quan
điểm đổi mới của Trung ương Đảng, mở đầu bằng đổi mới tư duy, trước
hết là tư duy kinh tế. Đại hội đã thể hiện quyết tâm xoá bỏ cơ chế quản lý
kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển hoạt động kinh tế sang hạch
cả nước, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp cả nội lực và ngoại lực, phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) thủ đô.
Là Thủ đô và cũng là hạt nhân và động lực phát triển của vùng kinh tế trọng
điểm đồng bằng sông Hồng và của Bắc Bộ, mục tiêu phấn đấu của Hà Nội
từ 1986 đến nay, đã được xác định qua các kỳ Đại hội Đảng bộ, tập trung
vào những nhiệm vụ chính là: Đẩy nhanh tốc độ và chất lượng phát triển
của nền kinh tế để đuổi kịp với thủ đô các nước, góp phần tạo động lực
mạnh cho phát triển kinh tế vùng và kinh tế cả nước; Yêu cầu phải phát
triển bền vững, nhất là đảm bảo sự ổn định về chính trị, trật tự an toàn
về xã hội, sự lành mạnh về môi trường văn hoá và sinh thái, cũng như
phải phấn đấu để “giữ nhịp” ổn định hoá cho toàn bộ quá trình phát
triển kinh tế ‑ xã hội trong cả nước.
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IX của
Đảng và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII Đảng bộ thành phố, Nghị quyết
15/NQ/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị (khoá VIII); Hà Nội đã đạt
được những thành tựu quan trọng; tiếp tục tạo ra những biến đổi tích
cực trên nhiều lĩnh vực. Giai đoạn 2001‑2005: Tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân/năm là 11,1%, riêng năm 2005 là 11,6%. Cơ cấu kinh tế từng
bước chuyển dịch theo xu thế hiện đại hoá: giảm tỷ trọng nông nghiệp,
tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, thương mại ‑ dịch vụ.
Bình quân GDP/đầu người tính theo giá hiện hành của thành phố
Hà Nội năm 2000 ước đạt khoảng 7,3 triệu đồng, cao gấp hơn 2 lần mức
bình quân chung của cả nước (3,52 triệu đồng). Năm 2004, GDP bình
quân đầu người tăng lên 18,2 triệu đồng (cả nước là 8,69 triệu đồng).
Như vậy, so với năm 2000, GDP năm 2004 của Thủ đô tăng khoảng 1,7
lần (trung bình tăng 11,1%/năm); kim ngạch xuất khẩu tăng 1,9 lần; thu
nhập bình quân đầu người tăng khoảng 1,5 lần. Năm 2005 GDP bình
quân đầu người đạt gần gấp 2,4 lần cả nước.
Năm 2005 dịch vụ chiếm 57,5% GDP, công nghiệp 40,5% và nông
nghiệp chỉ còn 2,0%, trước thời hạn 5 năm so với mục tiêu trong Chiến
Tuy còn nhiều mặt hạn chế, nhưng Hà Nội đã và đang khẳng định
vai trò của một trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của vùng và cả nước.
Vai trò đó trên thực tế ngày càng tạo ra sức hút và khả năng lan tỏa rộng
lớn ra cả vùng; đồng thời vừa có khả năng liên kết kinh tế và khai thác
thị trường rộng lớn của cả vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng, để sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm công, nông nghiệp và dịch vụ
2
.
1. 2006, Đảng cộng sản Việt Nam‑Thành ủy Hà Nội. Văn kiện Đại hội Đại biểu lần
thứ XIV Đảng bộ thành phố Hà Nội (Lưu hành nội bộ). Hà Nội, tr. 29.
2. UBND thành phố Hà Nội (2001), Dự thảo Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển
kinh tế‑xã hội của thủ đô thời kỳ 2001‑2010, Tài liệu lưu trữ Văn phòng Thành ủy
Hà Nội,. tr.5.
446
Trần Thị Tường Vân
2. Quá trình Hà Nội thực hiện vai trò liên kết với các tỉnh, thành
vùng đồng bằng sông Hồng
Một thời gian dài, trước khi bước vào hoạt động theo cơ chế thị
trường, ngành kinh tế đối ngoại của Hà Nội chưa có cơ hội và khả năng
phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn; các cơ sở sản xuất hàng hoá
thiếu vốn hoạt động do bị chiếm dụng vốn quá nhiều; cơ sở vật chất
phục vụ du lịch thấp kém, vì thế sự liên doanh, liên kết với một số địa
phương trong vùng chưa tiến hành được nhiều. Hà Nội mới thực hiện
liên doanh, liên kết, xây dựng mối quan hệ sản xuất, ký hợp đồng sản
xuất, mua bán hai chiều một số mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, nông nghiệp (chủ yếu là lương thực, thực phẩm) với một vài địa
phương lân cận như Bắc Ninh, Hà Tây, Vĩnh Phú, Hải Dương v.v
Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XII (tháng 5‑
1996), nhiệm vụ của Hà Nội với các tỉnh thành trong cả nước lại được
đề ra cụ thể, sát sao và nặng nề hơn hơn, đó là “Hà Nội có trách nhiệm
trình, các tuyến du lịch nối liền với một số tỉnh thành lân cận, thực hiện
liên kết với các tỉnh trong vùng và trong cả nước để phát triển du lịch
và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch của thủ đô.
Nhờ vị trí thuận lợi của mình, Hà Nội đưa ra một số chính sách
khuyến khích các nhà kinh doanh trong cả nước đầu tư vào phát triển
sản xuất, kinh doanh ở thủ đô. Cùng với việc khuyến khích phát triển
từng thành phần kinh tế, Hà Nội cũng chủ trương phát triển các hình
thức hợp tác, liên doanh giữa các thành phần kinh tế Hà Nội với các
tỉnh, thành.
Để thực hiện chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng bộ và UBND
thành phố Hà Nội sự hợp tác giữa Hà Nội với một số địa phương là yêu
cầu đòi hỏi tất yếu trong tiến trình CNH‑HĐH. Tuy nhiên trong thực
tiễn, giai đoạn 1986‑2000, sự hợp tác đó còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát
và chưa bài bản, hiệu quả kinh tế thấp, chưa tương xứng với tiềm năng
Hà Nội có; trách nhiệm hội tụ và lan toả của thủ đô chưa được phát huy.
Mà nguyên nhân chủ yếu, theo như đánh giá của Bộ Chính trị nêu trong
Nghị quyết 15 NQ/TƯ, là do: “thành phố chưa chủ động hợp tác với các địa
phương, trực tiếp là các tỉnh, thành lân cận Một số địa phương, trước hết là
các tỉnh lân cận Hà Nội chưa chủ động phối hợp với Hà Nội, xây dựng và thực
hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội có hiệu quả”
1
.
Những hạn chế này đã được thành phố quan tâm chỉ đạo khắc phục
trong những năm tiếp theo.
Trong Nghị quyết số 15 NQ/TƯ của Bộ Chính trị (ra ngày 15‑12‑2000)
Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thủ đô trong thời kỳ 2001‑2010, Bộ
1. Báo Hà Nội mới (18‑12‑2000), Nghị quyết của Bộ Chính trị về phương hướng,
nhiệm vụ phát triển thủ đô trong thời kỳ 2001‑2010 (Nghị quyết số 15 NQ/TƯ ngày
15‑12‑2000).
448
Ninh, nên sự phát triển của hai tỉnh, thành phố ảnh hưởng quan trọng
đến phát triển toàn vùng. Ngày 3‑11‑2002, Hội nghị về hợp tác phát triển
Quảng Ninh‑Hà Nội đã được tiến hành. Sau đó Thông báo chung về kế
hoạch hợp tác phát triển giữa hai địa phương được ký kết trên cơ sở
phát huy ưu thế của mỗi bên. Hà Nội sẽ giúp Quảng Ninh những lĩnh
vực thuộc về khoa học, công nghệ; Quảng Ninh cam kết tạo điều kiện
1. Nghị quyết số 15 NQ/TƯ ngày 15‑12‑2000 Về phương hướng, nhiệm vụ phát
triển thủ đô trong thời kỳ 2001‑2010.
2. Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng bộ thành phố Hà Nội. Văn kiện Đại hội Đại biểu
lần thứ 13 Đảng bộ thành phố Hà Nội 12‑2000. Nxb Hà Nội, 2001.
Vị trí, vai trò của thủ đô Hà Nội trong mối liên kết vùng kinh tế
449
thuận lợi để Hà Nội đầu tư vào địa bàn cảng biển, cửa khẩu và kỳ quan
thế giới Vịnh Hạ Long. Hoạt động du lịch của Hà Nội, Hải Phòng và
Quảng Ninh thời gian qua đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ.
Năm 2007, Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh đón khoảng 3,5 triệu lượt
khách quốc tế. Trong đó, riêng Hà Nội phân phối gần 60% lượng khách
(tổng số 1,3 triệu lượt) cho Quảng Ninh và Hải Phòng. Thỏa thuận về
hợp tác phát triển du lịch, giai đoạn 2008 ‑ 2010 được ký kết giữa Hà
Nội ‑ Hải Phòng ‑ Quảng Ninh, đã cam kết trao đổi kinh nghiệm trong
công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch.
Có thể nói, sự hội tụ nhiềm tiềm năng, lợi thế cùng với những kết
quả đã đạt được, nếu Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh có sự liên kết
chặt chẽ sẽ giữ vai trò đầu tàu, là động lực kéo theo sự phát triển du lịch
của các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc Bộ.
Hội nghị hợp tác phát triển Hà Nội ‑ Nam Định được tổ chức tại
Nam Định ngày 28‑9‑2003. Lãnh đạo hai địa phương đã tiến hành ký
kết hợp tác trên 10 lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận
tải, thương mại, xây dựng, du lịch, y tế, văn hoá thông tin, lao động việc
làm và an ninh, trật tự an toàn xã hội. Với mục đích khai thác thế mạnh
Nam Định, Hà Nam và thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung hợp tác thực
hiện khá toàn diện trên các lĩnh vực như: quản lý Nhà nước, xây dựng
quy hoạch, chiến lược xuất nhập khẩu, đào tạo xúc tiến thương mại
Sau khi ký kết, Sở Thương mại các địa phương chủ động triển khai và
chỉ đạo các doanh nghiệp thực hiện nội dung đã ký. Sở Thương mại Hà
Nội phối hợp với Sở thương mại các tỉnh, thành phố xây dựng và thông
qua các đề án hợp tác trong giai đoạn 2002‑2005 như: đầu tư xây dựng
trung tâm thương mại, siêu thị giữa các tỉnh, hợp tác liên kết giữa các
tỉnh phía Bắc trong hoạt động xuất‑nhập khẩu, liên kết trao đổi hàng
hoá hai chiều giữa Hà Nội và các tỉnh, trao đổi kinh nghiệm và nâng cao
quản lý Nhà nước về công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, quản
lý chợ, liên kết hợp tác với các tỉnh trong lĩnh vực xúc tiến thương mại.
Đối với các tỉnh lân cận, giáp ranh như Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải
Dương, Hà Tây, Vĩnh Phú, Hà Nam Hà Nội đã chủ động hợp tác trên
các lĩnh vực phát triển vùng rau “an toàn”, rau cao cấp và các loại thủy
đặc sản để cung cấp cho Thủ đô; xây dựng, củng cố các tuyến đường
giao thông thủy bộ, đường sắt liên tỉnh, liên huyện, quy hoạch, đầu tư,
xây dựng các khu vui chơi, giải trí, các khu nhà ở, khu đô thị mới, chợ
đầu mối, liên kết phát triển du lịch v.v
Hoạt động thương mại Hà Nội ‑ Thái Bình từ năm 2000 phát triển
mạnh mẽ, chiếm hơn 30% cơ cấu kinh tế của tỉnh. Riêng năm 2003, tổng
mức lưu chuyển hàng hoá của Thái Bình đạt 2.065 tỷ đồng Các mặt
hàng máy móc, thiết bị phục vụ nông nghiệp, phục vụ dân sinh và hàng
công nghiệp Hà Nội được tiêu thụ mạnh ở Thái Bình. Với sức mua dồi
Vị trí, vai trò của thủ đô Hà Nội trong mối liên kết vùng kinh tế
451
452
Trần Thị Tường Vân
dào, Hà Nội lại là thị trường tiêu thụ hàng nông, thuỷ sản lớn của Thái
Bình. Đầu tháng 3‑2004, lãnh đạo hai sở Thương mại Hà Nội và Thái
nghiệp nhà nước, quan tâm đầu tư đối với các doanh nghiệp làm ăn lớn
có hiệu quả. Thực hiện giao, bán, khoán, cho thuê, sáp nhập, giải thể các
Vị trí, vai trò của thủ đô Hà Nội trong mối liên kết vùng kinh tế
453
doanh nghiệp làm ăn yếu kém, phát triển các doanh nghiệp tư nhân theo
Luật Doanh nghiệp năm 2000. Đến tháng 3‑2004 trên địa bàn Hà Nội có
khoảng 21.500 doanh nghiệp, trong đó có trên 700 doanh nghiệp Nhà
nước, hơn 20 nghìn doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp. Hàng năm, các doanh nghiệp đã thu hút khoảng
600 nghìn lao động, đóng góp khoảng 75% tổng thu ngân sách Nhà nước
trên địa bàn thành phố. Với lợi thế đó, cùng với cơ chế mở, Hà Nội đã
có khoảng 740 doanh nghiệp đầu tư hơn 21.500 tỷ đồng sang các tỉnh,
thành trong vùng. Ngoài ra với sự hình thành và phát triển nhiều khu
công nghiệp, Hà Nội đã thật sự thu hút được khá đông nhân lực lao
động ở các tỉnh thành trong vùng Bắc Bộ.
3. Một số nhận xét và kiến nghị
Như trình bày ở trên, ở giai đoạn đầu của tiến trình thực hiện công
cuộc đổi mới, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự hợp tác giữa Hà Nội
và một số địa phương trong vùng đã đạt được những kết quả bước đầu
khá tốt, với sự chủ động thuộc về chính quyền và lãnh đạo một số ban,
ngành chủ yếu của thành phố, mà chủ yếu vẫn là cơ chế hợp tác theo
thiện chí, hai bên cùng có lợi.
Nhưng thực tế cũng cho thấy, so với tiềm năng và vị thế là thế mạnh
vốn có, đặc biệt với vị thế là Thủ đô, Hà Nội chưa tận dụng, phát huy
được nhiều, nhằm tạo sức cạnh tranh và hiệu quả cao, để làm nổi bật
vai trò trung tâm kinh tế của cả vùng và cả nước. Hà Nội cũng chưa xây
dựng được nhiều mô hình hay, cách làm mới, nhằm tạo sự lan toả cho
vùng và cả nước. Việc liên kết của Hà Nội với các tỉnh trong vùng như
trình bày ở phần trên, rõ ràng còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa tạo
được đà đi lên mạnh mẽ; tính “cát cứ địa phương” của mỗi tỉnh vẫn còn
TTCN) đang ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế xã hội nói chung và phát triển công nghiệp của các địa phương nói
riêng. Tuy nhiên, Nhà nước chưa có quy định thống nhất chung trong
việc việc xây dựng và quản lý các KCN, CCN ‑ TTCN. Vì thế, mỗi địa
phương phải tự đề ra một quy chế quản lý tạm thời dẫn tới tình trạng
mỗi nơi làm mỗi khác. Vai trò quản lý của các Sở Công Thương đối với
các KCN, CCN – TTCN chưa rõ ràng. Chính điều này đã làm hạn chế
việc liên kết phát triển giữa các địa phương vùng kinh tế đồng bằng
sông Hồng.
Để thu hút vốn đầu tư nước ngoài phục vụ phát triển bền vững, Hà
Nội cần hiểu biết sâu sắc về nhu cầu và ước muốn của các nhà đầu tư;
đồng thời cần có khả năng kiểm soát sự thay đổi, với một cái nhìn tổng
thể về sự phát triển kinh tế liên vùng, giữa các địa phương trong một
454
Trần Thị Tường Vân
miền, một quốc gia, cả khu vực và trên toàn thế giới. Muốn vậy, cần có
sự liên hệ chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, các nhà đầu tư với các cơ
quan chính quyền các địa phương. Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu
và các chủ doanh nghiệp, mối quan hệ giữa các cơ quan chức năng Hà
Nội với cộng đồng doanh nghiệp chưa thực sự liên tục, tương tác và hợp
tác mà thực tế, nhiều người đánh giá là rời rạc, lỏng lẻo, không có giao
tiếp thường xuyên, truyền thông cơ học.
Nguồn nhân lực ở Hà Nội tuy được đánh giá cao hơn về chất lượng,
nhưng lâu dài sẽ có nguy cơ thiếu hụt, khi mà các tỉnh, thành lân cận
cũng phát triển nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đã và đang
có các chính sách thu hút chất xám và nhân công. Khi đó, nguồn nhân
lực cao ở các tỉnh khác dồn về Hà Nội sẽ không còn nữa, bởi giá cả sinh
hoạt và giá thuê nhà ở Hà Nội ngày càng đắt đỏ. Cùng với đó là chi phí
cho lao động ở Hà Nội cao hơn so với các địa phương khác, đã làm cho
chi phí của việc đầu tư kinh doanh tại Hà Nội đội lên cao, ít nhiều làm
thương mại và sản xuất ổn định. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại,
nghiên cứu áp dụng mô hình liên kết sản xuất kinh doanh “sản xuất ‑
mua gom ‑ bảo quản ‑ chế biến ‑ tiêu thụ”…
Để làm nổi bật vai trò của thành phố Hà Nội “là trung tâm kinh tế
lớn đặc biệt của phía Bắc và cả nước”
1
, khi không gian kinh tế của Thủ
đô không ngừng mở rộng; và để cho các mối quan hệ hợp tác giữa Hà
Nội với các tỉnh thành trong cả nước ngày càng đa dạng và hiệu quả,
đặc biệt để vùng Hà Nội phát huy lợi thế so sánh, phát triển nhanh và
ổn định, có sức cạnh tranh, góp phần khắc phục tình trạng chia cắt, khép
kín theo địa giới hành chính đang còn tồn tại ở nhiều nơi, Hà Nội cần
thiết tập trung:
‑ Tiếp tục chủ động chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH‑
HĐH, phát huy cao nhất lợi thế so sánh địa phương, gắn với hợp tác
vùng. Cơ cấu đầu tư phát triển được chuyển dịch theo hướng tăng đầu
tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, phát triển công nghiệp và dịch vụ
trình độ cao phù hợp khả năng và lợi thế so sánh của thành phố, phát
triển nông thôn ngoại thành Hà Nội và nối liền, lan tỏa sang các địa
phương xung quanh. Từ thực tiễn những năm qua và yêu cầu của tình
hình mới, Hà Nội đang và sẽ phải dành nhiều sự quan tâm hơn cho việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế tri thức gắn với dịch vụ
cao cấp, khai thác các nhân tố phát triển bề sâu, nâng cao sức cạnh tranh
của các doanh nghiệp và sản phẩm xuất khẩu, tập trung phát triển một
số sản phẩm công nghiệp, dịch vụ chủ lực, mang tính liên ngành, đồng
thời đa dạng hóa cơ cấu ngành, sản phẩm; gắn liền với nâng cao chất
1. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Nxb CTQG, Hà Nội, tr. 227.
456