KHẢO SÁT MỘT SỐCÂU TỤC NGỮ CÓ NHIỀU CÁCH HIỂU - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH ĐẢM KHẢO SÁT MỘT SỐ CÂU TỤC NGỮ
CÓ NHIỀU CÁCH HIỂU

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 34
Vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu TN (cho đến nay), mặc dù đã đạt được những thành tựu
đáng kể, có giá trị, nhưng thực tế đòi hỏi phải tìm hiểu, nghiên cứu thêm, chuyên sâu vì còn
nhiều vấn đề chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng, còn nhiều ý kiến tranh luận, thậm
chí có vấn đề còn bỏ ngỏ. Chẳng hạn, vấn đề truy nguyên nguồn gốc, xuất xứ; về tính dị
bản; về ranh giới với thành ngữ, ca dao; đặc b
iệt là tính nhiều nghĩa và ngữ cảnh hành ngôn
phong phú, đa dạng của TN.
Vấn đề tính nhiều nghĩa của một câu TN cần được tiếp tục bàn bạc, xem xét do đặc
trưng của TN, có nhiều ý kiến tr
anh luận, không thống nhất trên các tạp chí chuyên ngành.
Hơn nữa, tính nhiều nghĩa của TN cũng là vấn đề quan tâm, thích thú đối với người viết
luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi nhằm một số mục đích sau:
- Giúp mọi người thêm yêu quý di sản, tinh hoa của cha ông, dân tộc, trong đó có
TN. Mọi người phải luôn có ý thức gìn giữ và quý trọng vốn TN của dân tộc
vì nó là kho
kinh nghiệm quý báu của cha ông đúc kết lại trên tất cả các lĩnh vực cuộc sống, vì nó thể
hiện lối sống của thời đại, lối nghĩ của nhân dân, lối nói của dân tộc.
- Bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về văn học dân gian nói chung, TN nói riêng để từ
đó khám phá kiến thức về xã hội, về văn học nghệ thuật... Bởi lẽ, văn học dân gian được
xem là bộ gen, là cơ sở, là cội nguồn của văn học dân tộc.
-
Biết nhận xét và vận dụng TN trong cuộc sống hàng ngày, trong công tác một cách
tốt hơn, đạt hiệu quả hơn. Bởi vì sức sống của TN ngày càng được khẳng định, nó vừa giản
dị vừa sâu sắc một cách thú vị. Bởi vì TN là “những nhận xét, phán đoán, kết luận mà tính
chân thực đã được xác nhận từ trước”, được người nói dùng làm căn cứ để “trợ lực”, để

+ Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống.
+ Tạp chí Ngôn ngữ.
+ Tạp chí Nguồn sáng dân gian.
- Do những câu TN có nhiều cách hiểu khác nhau có số lượng tương đối nhiều nên
chúng tôi chỉ chọn một số câu có thể nói là tiêu biểu, c
ó vấn đề tranh luận... để tìm hiểu.
Phần còn lại, chúng tôi chỉ liệt kê ra để bạn đọc tham khảo (có kèm theo các cách hiểu) và
đặt ở phần phụ lục.

- Đi vào khảo sát, chúng tôi tìm hiểu, lí giải những nguyên nhân dẫn đến một câu TN
có nhiều cách hiểu ở hai cấp độ: nhiều cách hiểu về nghĩa của cả câu TN (chủ yếu) và nhiều
cách hiểu về một vài từ ngữ, hình ảnh trong câu nhưng nghĩa vẫn thống nhất. Cụ thể: xét
câu TN trên văn bản và trong ngữ cảnh cụ thể. Từ những nguyên nhân này, chúng tôi đưa ra
một số đề xuất, giải pháp để phần nào giải quyết vấn đề khảo sát.
4. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ trước đến na
y, việc tìm hiểu, nghiên cứu TN đã được nhiều người quan tâm. Họ
có những bài viết công phu, ở nhiều khía cạnh, có giá trị trong việc góp phần tìm hiểu TN.
Ở cấp độ ngữ nghĩa của TN có liên quan đến vấn đề người viết đang nghiên cứu, tìm hiểu,
có các loại sách, bài viết sau:
- Về giải thích ý nghĩa các câu TN, có công trình “Về cội về nguồn” của Lê Gia (4
quyển) [1]
. Tác giả đã giải thích một số lượng lớn TN, đặc biệt là đã liệt kê các cách hiểu
khác đối với câu TN ở một số sách và có ý kiến đồng tình hay bác bỏ với nhiều lí lẽ, dẫn
chứng.
Có thể nói, công trình này đã giúp cho việc hiểu nghĩa câu TN cả chiều rộng lẫn
chiều sâu, tức người đọc có cái nhìn tương đối bao quát, toàn diện về các cách hiểu và gốc

tạo nên sự mở rộng nghĩa trong ứng dụng của TN.
4. “Tục ngữ” (trích bài giảng c
ho sinh viên khoa văn các trường đại học) trong tập
sách nhiều tác giả Văn hóa dân gian: Những công trình nghiên cứu của Bùi Mạnh Nhị [58].
Ở bài giảng này, tác giả có đề cập đến nội dung ngữ nghĩa của TN. Đó là quá trình tạo nghĩa
và mở rộng nghĩa. Theo tác giả, TN được sáng tạo từ những qua
n sát cụ thể, hình ảnh, sau
đó được nâng lên thành khái quát và vận vào các hiện tượng đời sống. Và cứ mỗi lần TN
được sử dụng ở những văn cảnh khác nhau thì nội dung, ý nghĩa của nó lại giàu thêm.
- Đặc biệt là những bài phân tích, giải thích, bình luận về một vấn đề thuộc phạm vi
nghiên cứu TN hay một câu TN cụ thể trên các sách báo như:
+ “Nên hiểu câu Rau muống tháng chín nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn như thế
nào? ” (P
han Văn Hoàn, Vhdg, số 4, 1987).
+ “Nhàn bàn về cách hiểu một số câu tục ngữ, thành ngữ” (Thái Phương, Ngôn
ngữ và đời sống, số 7, 1997).
+ “Bàn thêm về tục ngữ Ăn hết đánh đòn, ăn còn mất vợ” (Trần Thị Đan
Phượng, Ngôn ngữ và đời sống, số 5, 1999).
+ “Về nghĩa của tục ngữ” (Nguyễn Xuân Đức, Vhdg, số 4, 2000).
+ “Thêm một cách hiểu về một câu
tục ngữ” (Nguyễn Thị Nhung, Ngôn ngữ, số
6, 2001).
+ “Chuyện về sự đa nghĩa trong thành ngữ, tục ngữ” (Nguyễn Thị Hồng Thu,
Ngôn ngữ và đời sống, số 8, 2001).
+ “Những câu tục ngữ làm đau đầu các nhà soạn sách” (Nguyễn Xuân Kính,
Nguồn sáng dân gian, số 1, 2001).
+ “Một số câu tục ngữ người Việt về ăn uống có nhiều cách hiểu”
(Phan Lan Hương, Văn hóa dâ
n gian, số 5, 2002).
+ “ Đa nghĩa- vẫn là chuyện chữ nghĩa ” (Lê Xuân Mậu, Ngôn ngữ, số 6, 2004).

- Có cái nhìn tương đối hệ thống, toàn diện về ngữ nghĩa TN: nguồn gốc sinh thành,
quá trình lưu truyền, ứng dụng,... cũng như cấu trúc ngữ nghĩa của nó.
- Làm
phong phú thêm con đường tìm hiểu, khám phá TN. Nghĩa là để hiểu được nội
dung một câu TN thì không chỉ dừng lại ở ý nghĩa đương đại, ý nghĩa chung mà còn phải
tìm hiểu cái hay, cái đẹp ở nghĩa gốc và sự chuyển nghĩa trong quá trình lịch sử của nó. Bởi
vì, nếu dừng lại ở ý nghĩa đương đại thì sẽ không tránh khỏi những ngộ nhận về nghĩa của
từ cũng như câu TN.
- Giúp cho việc giảng dạy, học tập TN trong nhà trường đạt hiệu quả hơn cũng như
việc sử dụng trong cuộc sống hà
ng ngày. Sử dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, có ý thức,
mạnh dạn tạo ra những TN mới khi ngữ cảnh cho phép để bổ sung vào kho tàng TN Việt
Nam. Chú ý khi sử dụng TN cần làm cho phát ngôn có nhạc điệu, có hình ảnh, có sức nặng
chở tư tưởng, tình cảm, có
sức thuyết phục.

- Giúp cho việc tìm hiểu các tác phẩm văn học một cách thuận lợi hơn khi nhà văn,
nhà thơ có sự tiếp thu và sử dụng TN trong tác phẩm của mình. Ở khía cạnh này, TN được
xem là tài liệu bổ trợ.
7. Kết cấu luận văn
- Mở đầu.
- Nội dung chính:
+ Chương 1: Một số đặc trưng của tục ngữ có liên quan đến ngữ nghĩa.
+Chương 2: Tục ngữ có nhiều cách hiểu – Thực trạng và nguyên nhân.
+ Chương 3: Tục ngữ có nhiều cách hiểu – Một số đề xuất, giải pháp.
Kết luận.
Ngoài

Nguyễn Thái Hòa,…) qua bảng sau:
Tục ngữ theo quan niệm của các nhà nghiên
cứu văn học
Tục ngữ theo quan niệm của các nhà
ngôn ngữ học
-Diễn đạt một ý trọn vẹn
-Là một phán đoán, thiên về lí trí.
-Đúc rút kinh nghiệm thực tiễn.
-Câu hoàn chỉnh.
-Phương pháp suy luận của nhân dân -
phương pháp hình thức đáng chú ý.
-Là một hiện tượng ý thức xã hội.
- . . . . . . .
-Ngữ thông báo.
-Câu hoàn chỉnh, diễn đạt một ý trọn vẹn, có
kết cấu 2 trung tâm.
-Câu - thông điệp nghệ thuật.
-Câu cố định.
- Là một phát ngôn đặc biệt và có khả năng
phâ
n tách.
-Hiện tượng ngôn ngữ.
Như vậy, thực tế hiện nay là có nhiều định nghĩa khác nhau về TN. Vì sao lại có hiện
tượng “lạ” này? Sự không thống nhất này do TN là một hiện tượng đặc biệt, phức tạp, vừa
thuộc lĩnh vực ngôn ngữ (lời nói) lại vừa thuộc lĩnh vực văn học dân gian (tác phẩm nghệ
thuật). Hơn nữa, giữa TN và ThN, CD có quan hệ “họ hàng” chồng chéo với nhau, có sự
giao thoa, xâm nhập lẫn nha
u. Nghĩa là ranh giới giữa chúng là rất mong manh, mờ nhạt,
3 Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
X [46,35,
tr.83,142]
X [2,tr. 390]
4 Một cây làm chẳng nên non, ba cây
chụm lại nên hòn núi cao.
X [46,35,tr. 201,
49]
X[2,10,tr.86,439]
5 Tre non dễ uốn. X [7,10,46,tr.
307,581, 319]
X [2,tr. 668]
6 Người roi, voi búa. X [7, tr. 307] X [2,46,tr.
230, 226]

7 Trai tơ lấy phải nạ dòng, như nước
mắm thối chấm lòng lợn thiu.
X [7,35, tr. 240,
139]
X [2,tr. 651]
8 Tre già măng mọc. X [7, tr. 307] X [2,25,tr.
668, 495]

9 Của mình thì giữ bo bo, của người
thì bỏ cho bò nó ăn.
X [46,35,tr.
88, 147]
X [2,tr. 408]


1.2. Một số đặc trưng của tục ngữ có liên quan đến ngữ nghĩa
V. Ia. Prốp đã từng nói: “Chừng nào những đặc trưng của một thể loại chưa được
nghiên cứu hoặc chí ít là mô tả trên những né
t đại cương, thì không thể tìm hiểu được những
tác phẩm cụ thể thuộc những thể loại ấy” [86, tr.104]. Tục ngữ cũng vậy.
Mặc dù là sự đúc kết kinh nghiệm dưới hình thức câu nói và thường được dùng trong
giao tiếp hàng ngày nhưng TN cũng là một tác phẩm thật sự. Đây là tính chất “hỗn đồng”
của TN. TN là câu nói nhưng là câu nói đạt trình độ nghệ thuật cao, có những thủ pháp nhất
định. Tí
nh chất này thể hiện ở chỗ một câu TN có sự hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp, nội dung
chứa đựng một ý trọn vẹn, thực hiện chức năng thông báo. Cụ thể hơn là thể hiện ở tính cân
đối của cấu trúc, tính hình tượng của từ ngữ, “chặt chẽ, đanh thép mà lại giàu hình ảnh, nhịp
nhàng, xuôi tai, thuận miệng”...Có nghĩa TN là một sáng tác nghệ thuật có đặc thù riêng cần

phải khám phá để hiểu nó. Do đó, trước khi đi vào tìm hiểu, khảo sát nghĩa cụ thể của từng
câu TN, chúng tôi xin đề cập một số đặc trưng của TN có liên quan đến ngữ nghĩa.
1.2.1. Các loại nghĩa
Gần đây có người đề xuất nghĩa khái quát khi phân loại nghĩa của TN. Nhưng loại
nghĩa này chỉ ở giai đoạn đề xuất, hơn nữa nó chưa thật sự có tính phổ biến,
tính quy luật
đối với TN, lại rất gần gũi với nghĩa bóng. Do đó, chúng tôi chỉ xét hai loại nghĩa truyền
thống là nghĩa đen và nghĩa bóng.
1.2.1.1. Nghĩa đen
Một cách đơn giản nhất, có thể hiểu nghĩa đen là nghĩa gốc, nghĩa trực tiếp, nghĩa
ban đầu khi mới hình thành câu TN. Nghĩa này toát ra từ bản thân sự vật, hiện tượng do TN
ghi lại. Thí dụ câu TN “Vỏ quít dà
y, móng tay nhọn”. Nghĩa đen được biểu hiện trực tiếp từ


TN, đó là sự quan sát trực tiếp những sự vật, hiện tượng cụ thể, cá biệt và miêu tả chúng.
Chính cách quan sát và miêu tả cụ thể này làm cho TN có tính hình tượng, gợi cảm, dễ nhớ.
Từ sự quan sát cái cụ thể và miêu tả cái cụ thể mà con người đã có những nhận xét,
phán đoán, kết luận về nó. Tức là tách những mặt riêng rẽ, căn bản nhất của cái cụ thể muôn
màu muôn vẻ ở dạng khái quát. Tr
ong TN là việc bao gộp nhiều nhận xét cụ thể, nhiều cảnh
huống cụ thể có liên quan và tương đồng với nhau vào một cảnh huống chung nhất, điển
hình nhất. Hay nói cách khác nó “cá biệt mà điển hình”. Quá trình này người ta gọi là quá
trình trừu tượng hóa, quá trình tạo ra nghĩa bóng cho câu TN. Tức là những điều tai nghe
mắt thấy được nhận thức và phản ánh lại bằng chính sự vật hoặc bằng những hình tượng về
sự vật nhằm
nói lên chân lí ở mức khái quát nhất. Lúc này nghĩa của câu TN người ta gọi là
nghĩa biểu trưng (hình thức dùng một hiện tượng, sự vật nào đó để biểu hiện một cách tượng
trưng, ước lệ về một cái gì đó có tính chất khái quát, trừu tượng). Và cơ sở để sử dụng TN
theo nghĩa biểu trưng là ở chỗ TN biểu hiện những nhận xét khái quát một cách cụ thể, hình
ảnh. Ở giai
đoạn tư duy khái quát, người ta đã tạo cho TN một cảnh huống điển hình nhưng
chứa đựng nhiều cảnh huống khác nhau được rút gọn, được quy thành một câu đơn giản. Do
đó, người ta sẽ đối chiếu, quy chiếu, liên hệ khi có sự tương đồng giữa ngữ cảnh cụ thể với
nghĩa bóng của câu TN. Và khi đó trường nghĩa của câu TN sẽ được mở rộng;
nội dung, ý
nghĩa của câu TN lại giàu thêm lên. Đúng như Hoàng Văn Hành nói:
Phàm là tục ngữ nào miêu tả càng đúng những chi tiết, những sự kiện, và hoàn
cảnh điển hình, thì giá trị tổng kết của nó càng cao và phạm vi ứng dụng của nó
càng rộng. Bởi vì, chi tiết và hoàn cảnh điển hình do tục ngữ miêu tả ở tầng nghĩa
cơ sở trong trường hợp đó đã tạo ra tiền đề cho những mối liên hội ngữ nghĩa về
sau. Sự liên hội ngữ nghĩa nà
y là có quy tắc: từ gần đến xa, từ cụ thể đến trừu
tượng... dưới hình thái ẩn dụ hóa [27, tr. 35].

Sơ đồ này chúng tôi dựa trên các quan niệm, định nghĩa về TN và những kiến giải về
quá trình hình thành, tạo nghĩa và sử dụng nghĩa của các nhà nghiên cứu. Chẳng hạn, Chu
Xuân Diên cho rằng nghĩa đen thường đề cập đến những vấn đề tự nhiên, cá biệt khi chuyển
sang nghĩa bóng thường nói về các hiện tượng xã hội, mang tính khái quát, trừu tượng thông
qua những nhận xét, phán đoán, kết luận. Hay như Hoàng Tiến Tựu cho nghĩa đen là nghĩa
trực tiếp, ban đầu, nhưng trong quá trình lưu truyền trong không gian – t

này sang thế hệ khác,... Nhưng sự lưu giữ và phổ biến này chủ yếu bằng con đường truyền
miệng. Do đó, TN cần phải thật ngắn gọn để tiện lợi cho trí nhớ. Lí do nữa, như đã nói

trên, là do “lời ít ý nhiều”, do muốn mở rộng phạm vi ứng dụng vào nhiều ngữ cảnh khác

nhau. Dấu hiệu nào cho ta biết TN có tính ngắn gọn, hàm súc? Đó là sự tỉnh lược. Hoàng
Tiến Tựu nói:
Trong tục ngữ có những hệ từ và từ liên kết (thì, là, mà, nhưng, bởi, vì vậy, do đó,
cho nên, vả chăng, song le, tuy thế...) thường bị bỏ đi và nhiều khi cả những thành
phần cơ bản của câu (như chủ ngữ, vị ngữ,...) cũng bị tỉnh lược. Do đó, mối quan
hệ giữa các phán đoá
n cũng như hình thức suy luận của nhân dân thường không
được thể hiện rõ trong tục ngữ [91, tr. 122].
Như vậy, sự cô đọng, hàm súc của TN là do các hệ từ, kết từ bị tỉnh lược. Trong khi
đó các từ còn lại đều rất cần thiết, không thừa. Hơn nữa, TN là sự đúc kết kinh nghiệm ở
dạng khái quát. Dễ thấy nhất là ở tục ngữ không có loại từ, đại từ chỉ định, không có từ hạn
định về thời gia
n – không gian một cách rõ ràng mà là phiếm định... Chẳng hạn, TN nói
“Con gà tức nhau tiếng gáy” chứ không thể nói “Con gà chuồng này tức nhau tiếng gáy”...
Ta biết rằng câu trong TN là những loại câu tương ứng với các loại phán đoán.
Nhưng câu ở dạng rút gọn, có thành phần bị tỉnh lược thì kết cấu câu không còn phù hợp
hoàn toàn với kết cấu lôgic của phán đoán. Thử xét câu TN “Tấc đất tấc vàng”. Đây là câu
TN rất cô đọng, hàm súc, giàu ý nghĩa. Do đó, tr
ong ứng dụng thực tế người ta có thể mở
rộng nội dung, ý nghĩa câu TN bằng cách chêm xen các kết từ hoặc hiểu ngầm nghĩa khi đặt
vào một ngữ cảnh cụ thể và phù hợp với dụng ý của người sử dụng. Người sử dụng có thể
chêm xen như sau:

* Câu đối xứng
kép: Câu đối xứng kép là câu đảm bảo đủ hai yêu cầu sau:
- Về mặt lôgic: có sự liên kết hai hoặc hơn hai phán đoán.
- Về mặt cú pháp: mỗi câu TN là một câu phức mà mỗi thành phần câu tương đương
với một vế (một câu đơn). Thí dụ: Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời; Nhất nước, nhì phân,
tam cần, tứ giống; ...
Trong hai loại câu đối xứng trên thì câu đối xứng kép phổ biến hơn, chiếm số lượng
nhiều hơn và căn bản đáp ứng, t
hỏa mãn được những yêu cầu, đặc điểm của một câu TN có
tính đối xứng. Sau đây chúng tôi xin lấy một câu TN cụ thể thuộc loại đối xứng kép, có
phân tích để thấy rõ hơn tính đối xứng của TN.
Thí dụ câu: “Đói ăn vụng, túng làm liều”. Ta thấy câu TN bao gồm 6 yếu tố, lập
thành 2 vế đối xứng nhau, mỗi vế gồm 3 yếu tố. Tính đối xứng được thể hiện ở các bìn
h
diện sau:
- Đối ý: là đối xứng giữa hai vế của câu TN với nhau về ý (đói ăn vụng đối với túng
làm liều). Quan hệ đối ý này được thể hiện qua kiểu cấu trúc so sánh trùng điệp có dạng a =
b. Nghĩa là hai vế của câu TN đối ý nhau nhưng có tác dụng liên kết, bổ sung cho nhau
nhằm tô đậm, khẳng định một ý chung. Dựa vào sự bổ sung nhau giữa hai ý của hai vế (đói
,
túng: hoàn cảnh khó khăn, bức bách, cùng đường...; ăn vụng, làm liều: việc làm tồi tệ, mất
nhân cách, danh dự,...) ta suy ra ý nghĩa câu TN là những người rơi vào hoàn cảnh khó
khăn, bức bách, rơi vào bước đường cùng thì tất yếu họ phải làm những điều không tốt, trái
với nhân cách, danh dự của họ và chúng ta nên phần nào lượng thứ cho họ.
- Đối lời: là sự đối xứng giữa các yếu tố trong hai vế của câu TN. Đối lời có qua
n hệ
chặt chẽ với đối ý đã nói ở trên, vì nhờ có quan hệ đối lời mà quan hệ đối ý mới có và thể
hiện ra được. Cũng câu TN trên, quan hệ đối lời được thể hiện như sau: Đói đối xứng với
túng
Ăn vụng đối xứng với làm liều.

một số khía cạnh sau:
- Cùng một câu TN nhưng khi nói có thể ngưng giọng ở những chỗ khác nhau để tạo
nên những sự ngắt nhịp khác nhau. Thí dụ:
+ Dâu / hiền hơn con gái.

Dâu hiền / hơn con gái.
+ Rể / hiền hơn con trai.
Rể hiền / hơn con trai.
Chọn cách ngắt nhịp này hay cách ngắt nhịp kia đều phụ thuộc vào người nói muốn
nhấn mạnh ý nào trong ý chung của cả TN. Nghĩa là giữa nhịp (hình thức) và nghĩa (nội
dung) của một câu TN có liên quan mật thiết với nhau.
- Trong một câu TN có thể có nhiều loại nhịp đan xen với
nhau. Thí dụ:
+ Lúc thì chẳng có ai / lúc thì ông xã / ông cai đầy nhà (nhịp 5 / 4 / 4).
+ Lựa được con dâu / sâu con mắt (nhịp 4 / 3).

+ Vui xem hát / nhạt xem bơi / tả tơi xem hội / bối rối xem đám ma / bỏ cửa bỏ
nhà xem đám rước (nhịp 3 / 3/ 4 / 5 / 7).
- Ở phần lớn các câu TN, nhịp trùng với ranh giới giữa các vế có số lượng tiếng bằng
nhau, đối nhau. Thí dụ: Ăn no / lo được; thứ nhất thả cá / thứ nhì gá bạc; Nồi đồng dễ nấu /
chồng xấu dễ sai;...
Tuy nhiên, có những trường hợp mà số lượng tiếng giữa các vế không bằng nhau,

không đối nhau mà vẫn có nhịp. Thí dụ: Đói muốn chết / ba ngày tết cũng no; Gần chợ / để
nợ cho con; Hết nạc / vạc đến xương… Điều này là do vần tạo nên nhịp cho câu TN. Lại
nữa, có những câu TN mà hai vế không có sự hiệp vần mà nhịp vẫn có. Thí dụ: Có nuôi
con/ mới biết lòng cha mẹ (nhịp 3 / 5); Có loạn ly / mới biết người trung nghĩa (nhịp 3 /

+ Cách 1 âm tiết: Mẹ cú con tiên, mẹ hiền con xục xạc.
+ Cách 3 âm tiết: Mặt đỏ như lửa, thấy đàn bà chửa cũng phải tránh.
+ Cách 5 âm tiết: Mồng một chơi nha, mồng hai chơi ngõ, mồng ba chơi đình.
Ngoài ra còn có dạng câu có sự đan xen các loại vần với nhau như:
Mặt mũi méo mo thì co đồng tiền, mặt vuông chữ điền thì tiền không có.
Như vậy, nhịp và vần luôn gắn bó với nhau để tạo nê
n tính nhạc, sự hài hòa, sinh
động, cân đối cho câu TN. Đồng thời nhịp và vần cũng góp phần thể hiện ý nghĩa, thể hiện
sự thống nhất giữa ý và lời, âm thanh và tư tưởng ở TN. Đặc điểm này càng chứng tỏ rằng,
TN mặc dù là câu nói dùng hàng ngày nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc điểm của sáng tác

nghệ thuật ngôn từ.
1.2.6. Tính hình tượng
Là lối nói dùng hình tượng cụ thể để nói lên những ý niệm trừu tượng, dùng cái cá
biệt để nói lên cái phổ biến... Hình tượng trong TN được tạo ra bằng nhiều biện pháp nghệ
thuật khác nhau như so sánh nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ, cường điệu,…
* So sánh (tỉ dụ): là phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cách hình tượng dựa trên
cơ sở đối chiếu hai hiện tượng c
ó những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm,
thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm thuộc tính của hiện tượng kia. Thí dụ: Con có
cha như nhà có nóc, Lòng vả cũng như lòng sung, Chồng như đó vợ như hom, Gái có chồng
như rồng có mây…
* Nhân hoá: là cách thức gán cho những sự vật vô tri, những đối tượng trừu tượng
những đặc tính của con người thể hiện ở những động từ, tính từ chỉ hành động hoặc phẩm
chất vốn ri
êng có ở con người. Thí dụ: Thuyền đua lái cũng đua; Mâm cao đánh ngã bát
đầy, Mèo khoe mèo dài đuôi…


theo các nhà nghiên cứu thì có hai “loại nghĩa”: nghĩa đen và nghĩa bóng. Hoàng Tiến Tựu
phân: đơn nghĩa và đa nghĩa, gọi chung là “tính nhiều nghĩa”. Còn “số lượng nghĩa” là số
lượng nghĩa ở trong một “loại nghĩa”, tức các cách hiểu khác nhau ở nghĩa đen hoặc nghĩa
bóng. Chẳng hạn như trường hợp câu TN c
ó hai nghĩa đen hoặc hai nghĩa bóng... Phạm vi,
đối tượng khảo sát của đề tài chúng tôi là “số lượng nghĩa” ở một câu TN. Do đó, “ nhiều
cách hiểu” là “số lượng nghĩa” (từ hai trở lên) ở một loại nghĩa. Có lúc chúng tôi dùng khái
niệm “nhiều nghĩa” là với ý này. Chẳng hạn câu TN “Trâu béo kéo trâu gầy”. Câu này có
hai nghĩa đen:
+ Cùng một chủ, trâu béo, khỏe bù chỗ kém, thiếu ở phần việc của trâu gầy, yếu.
+
Trâu béo, khỏe cày kéo tốt, khiến trâu gầy, yếu hơn cũng phải cố theo (tạo hiệu quả tốt
cho công việc).
Và tương đương với hai nghĩa đen là hai nghĩa bóng:
+ Trong một tập thể, người giỏi giang, siêng năng bù đắp công việc cho người kém
cỏi, lười biếng.
+ Người giỏi giang, năng nổ có tác động, ảnh hưởng tốt đến người kém cỏi, ù lì, giúp
người này cùng tiến bộ.
Ta xét thấy về “loại nghĩa” thì câu TN trên có hai: nghĩa đen và nghĩa bóng. C
òn xét
về “số lượng nghĩa” thì có bốn nghĩa: hai nghĩa đen và hai nghĩa bóng. Hay như Hoàng Tiến
Tựu cho câu “Một búi cỏ một giỏ phân” là câu đơn nghĩa (xếp theo loại nghĩa) thì cũng
thuộc một trong những dạng của đối tượng khảo sát của đề tài chúng tôi vì câu này có hai
cách hiểu:
+ Một búi cỏ vùi vào gốc, có giá trị như giỏ phân.


có nhiều cách đọc, nhiều cách tiếp cận tác phẩm văn học. Đây là quá trình tiếp nhận tác
phẩm văn học. Sự lĩnh hội khác nha
u về nội dung, ý nghĩa của cùng một tác phẩm văn học
còn do bản thân tác phẩm. Đó là tính mơ hồ, đa nghĩa của văn học và kết cấu mở về nội
dung, ý nghĩa mặc dù cố định về dung lượng câu chữ (xét tác phẩm thuộc văn học viết).
Điều trình bày trên cũng đúng với thể loại TN. Đó là tính nhiều nghĩa ở một câu TN.
Xuất phát từ thực tế đó, ở chương này, chúng tôi trình bày về thực trạng và nguyên
nhâ
n dẫn đến một câu TN có nhiều cách hiểu.
2.1. Thực trạng
2.1.1. Quan niệm về nghĩa của TN
Như ở lịch sử vấn đề nghiên cứu chúng tôi đã
nói, nghĩa của TN là một trong những
vấn đề có nhiều ý kiến bất đồng, còn tranh luận. Có thể thấy người ta không đồng tình về
tên gọi nghĩa, số lượng nghĩa của TN. Cụ thể như TN nhiều nghĩa hay đa nghĩa? Đích thực
TN có mấy nghĩa?...
Sau đây, chúng tôi trình bày một số ý kiến, quan niệm của các nhà nghiên cứu để
thấy được thực trạng của vấn đề.
- Chu Xuâ
n Diên viết: Một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa
bóng” [41, tr. 244].
- Hoàng Tiến Tựu thì phân chia: tục ngữ có thể chia làm hai loại cơ bản: Loại đơn
nghĩa và loại đa nghĩa [92, tr. 378]
- Tác giả Lê Chí Quế thì khẳng định rằng: “Tục ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa: nghĩa
đen (hay là nghĩa gốc) và nghĩa bóng (trường nghĩa)” [71, tr. 197].

- Bùi Mạnh Nhị phát biểu: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, ổn định, có nhịp

không thể vì mỗi khái niệm có tính khu biệt, giới hạn về nghĩa của nó. Do đó, tên gọi “nhiều
nghĩa” theo chúng tôi tỏ ra có ưu thế hơn mặc dù có bất cập như tên gọi “đa nghĩa”. Đó là
không tính đến một bộ phận TN “đơn nghĩa”. Nhưng những lí do chúng tôi đề cập dưới đây
sẽ phần nào làm
cho tên gọi “nhiều nghĩa” khả thi hơn.
Nguyễn Xuân Đức cho rằng: “Đúng hai là số nhiều, mà nhiều là đa nhưng đa (hay
nhiều) bao hàm cả hai chứ không chỉ có hai... và ta suy ra đa ở đây là ba trở lên. [16, tr
50].

Còn Phan Trọng Hòa thì: “Thật ra, “đa” cũng có nghĩa là “nhiều”. Và “nhiều” hay
“đa” đều là “từ hai trở lên”. Trong thực tế, “đa” có thể là “từ ba trở lên” (như “đa” trong
“đa giác”, “đa phức”, “đa tiết”, “đa trị”)… [34, tr. 69].
Qua hai ý kiến trên, chúng ta thấy có những điểm chung mà cả hai đều công nhận:
+ “Nhiều” và “đa”: có “hai” và từ “hai” trở lên.
+ “Hai” là “số nhiều” (Nguyễn Xuân Đức) là “nhiều” (Phan Trọng Hòa).
+ “Đa” là “ba trở lên” (Nguyễn Xuâ
n Đức), “có thể là từ ba trở lên” (Phan Trọng
Hòa).
Dựa vào ba điểm chung trên kết hợp với quan niệm được nhiều người chấp nhận là
“tục ngữ thường có hai nghĩa”, theo chúng tôi, dùng khái niệm TN “nhiều nghĩa” có lẽ hợp
lí hơn.
Cả ba tác giả Chu Xuân Diên, Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhị về cơ bản đều thống
nhất TN có tính mở rộng nghĩa, mở rộng nội dung kinh nghiệm
trong ứng dụng cụ thể qua
không gian, thời gian. Chẳng hạn Chu Xuân Diên cho rằng: “Trong quá trình lưu truyền từ
thời đại này sang thời đại khác, trường nghĩa của từng câu TN lại thường được mở rộng
thêm để đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh nghiệm của nhân dân” [8, tr. 115]. Ngay cả Nguyễn

cụ thể. Khảo sát ở góc độ này, có lẽ hai lí do sau đây là chính đáng.
Thứ nhất, một trong những đặc trưng quan trọng của văn học dân gian là tính truyền
miệng, diễn xướng m
à TN là một thể loại của bộ phận này. Hơn nữa, tục ngữ được quan
niệm là thể loại tiền nghệ thuật, là phát ngôn đặc biệt, là câu nói dùng thường ngày, là thể
loại “còn gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân hơn cả”, rằng nó “không phải là
những sinh hoạt văn nghệ đúng với nghĩa của nó”,...
Thứ hai, khắc phục được hạn chế của cách tiếp cận ở góc độ văn bản, là thấy được
tính “sinh động”, “mở rộng nghĩa” của tục ngữ trong ứng dụng.
Tuy
vậy, cách tiếp cận ở góc độ ứng dụng cũng có những hạn chế:
+ Không thấy được tính nhiều nghĩa của TN do quá trình khái quát hóa, trừu tượng
hóa, tức nghĩa biểu trưng của TN.
Hơn nữa, muốn vận dụng một c
âu TN vào một trường hợp cụ thể theo dụng ý riêng
bằng cách giữ nguyên hay cải biến thì trước tiên người ta phải nắm được nghĩa khái quát,
nghĩa biểu trưng của nó là gì.
+ Nếu cho rằng TN chỉ có một nghĩa – nghĩa ứng dụng và phủ nhận tính “nhiều
nghĩa” (nghĩa đen và nghĩa bóng) trên văn bản thì thật khó khăn, phức tạp khi chúng ta
giải
thích và truyền thụ nghĩa của TN. Chẳng hạn các cuốn từ điển, các sách chuyên ngành về
TN sẽ giải thích, ghi nghĩa của một câu TN như thế nào khi có vô vàn ngữ cảnh và mỗi
người biên soạn lại có những ngữ cảnh khác nhau. Hơn nữa, thí dụ như có ai đưa cho ta một
câu TN và yêu cầu giải thích nghĩa thì ta sẽ giải thích thế nào. Chẳng lẽ nói “anh hãy cho tôi
một ngữ cảnh cụ thể thì tôi sẽ cho biết nghĩa”. Hay là “ở ngữ cảnh nà
y thì thì nó có nghĩa
thế này, ở trường hợp kia thì có nghĩa thế kia...”.
Tóm lại, chính nghĩa khái quát, nghĩa biểu trưng, sự mở rộng nghĩa đã tạo nên hiện
tượng nhiều nghĩa ở TN. Ở góc độ văn bản, TN có nghĩa đen, nghĩa biểu trưng. Còn trong
môi trường ứng dụng thì nghĩa của TN được cụ thể hóa, có sự mở rộng nghĩa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status