KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 1
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
TS. Trần Thị Phương Liên, người đã tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện
thuận lợi nhất giúp em hoàn thành đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn các cán bộ Trung tâm Hỗ trợ và chuyển giao
công nghệ - Trường đại học sư phạm Hà Nội 2, viện Vệ sinh Dịch tễ Trung
ương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè,
những người luôn động viên, quan tâm giúp đỡ và là chỗ dựa tinh thần lớn
nhất đưa em vượt qua khó khăn để có được ngày hôm nay.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Nga
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 2 LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa
luận là do em thực hiện và không trùng lặp với bất cứ tác giả nào khác.
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với những nội dung được đề cập
và chuột nuôi (béo phì, chuẩn) TNo 18
Hình 2.2. Cơ chế gây độc của STZ lên tế bào β của tụy đảo chuột 21
Hình 2.3. Định lượng glucose huyết của chuột nhắt 25
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn sự tăng trọng của các nhóm chuột với 2 chế
độ dinh dưỡng khác nhau trong vòng 8 tuần 31
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh một số chỉ số hóa sinh giữa các lô chuột
thí nghiệm 33
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 4
Hình.3.3. Nồng độ glucose huyết lúc đói của các lô chuột thí nghiệm trước và
sau khi tiêm 72 giờ 36
Hình 3.4. Nồng độ glucose huyết lúc đói của các lô chuột trước và sau 21 ngày
điều trị 39
Hình 3.5. So sánh một số chỉ số lipid máu ở chuột ĐTĐ
trước và sau điều trị 42
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ADP Adenosine diphosphate
ATP Adenosine triphosphate
BMI Body Mass Indey
CHCL
3
Chlorform
ĐC Đối chứng
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1.
Bệnh béo phì (Obesity)
3
1.1.1.
Khái niệm
3
1.1.2.
Phân loại
4
1.1.3.
Thực trạng béo phì trên thế giới và Việt Nam
4
1.1.4.
Tác hại của bệnh béo phì
5
1.1.5.
Nguyên nhân và giải pháp phòng, điều trị béo phì
5
1.1.6.
Rối loạn trao đổi lipid máu
6
1.2.4.
Biến chứng bệnh ĐTĐ
13
1.2.5.
Các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ
14
1.3. Cây Bông ổi (Lantana Camara L.)
15
1.3.1. Thực vật học
15
1.3.2.
Phân loại, nguồn gốc và phân bố cây Bông ổi
16
1.3.3.
Thành phần hóa học
16
1.3.4.
Một số tác dụng Sinh - Dược và công dụng của cây Bông ổi
16
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
18
2.1.
Đối tượng nghiên cứu
18
23
2.2.3.
Một số kĩ thuật phân tích hóa sinh
24
2.2.3.1.
Phương pháp định lượng glucose huyết
24
2.2.3.2.
Định lượng một số chỉ số lipid trong huyết thanh
25
2.2.4.
Xử lý số liệu
28
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
30
3.1.
Kết quả mô hình chuột béo phì và ĐTĐ thực nghiệm
30
3.1.1.
Kết quả mô hình chuột béo phì
30
3.1.2.
Kết quả tạo mô hình chuột ĐTĐ type2 bằng thuốc STZ
tính, ĐTĐ còn kèm theo nhiều biến chứng nguy hiểm như các bệnh về thận dẫn
đến suy thận, bệnh về mắt dẫn đến mù lòa, tổn thương hệ thần kinh và đặc biệt
là các biến chứng về mạch máu (xơ vữa động mạch) có thể dẫn đến tử vong
như bệnh mạch vành, nhồi máu não, xuất huyết não Gánh nặng bệnh tật do
ĐTĐ đang tăng lên trên toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển, trong đó
có Việt Nam – nơi quá trình đô thị hóa đang làm thay đổi tập quán ăn uống,
giảm hoạt động thể lực và tăng cân [3].
Theo WHO, năm 2000 toàn thế giới có khoảng 151 triệu người mắc
bệnh và dự đoán đến năm 2025 con số mắc bệnh sẽ tăng đến 300-330 triệu,
chiếm 5,4% dân số toàn cầu. Đáng chú ý là bệnh có xu hướng gia tăng mạnh tại
các quốc gia đang phát triển như: châu Phi, châu Mỹ La Tinh và châu Á, đặc
biệt ở độ tuổi lao động [18].
Ngày nay, Y học hiện đại đã có nhiều loại thuốc chữa bệnh ĐTĐ có hiệu
quả như insulin, sulfonylure, biguanid, Tuy nhiên, hầu hết các loại thuốc này
đều có tác dụng phụ và chi phí điều trị đắt đỏ [3]. Trước tình hình đó ủy ban
chuyên gia của WHO đã kiến nghị nên sử dụng các thuốc có nguồn gốc thảo
dược có sẵn, có giá thành rẻ và ít độc tính.
Trong lịch sử Y học từ 1550 năm trước công nguyên, con người đã biết
dùng cây cỏ để chữa ĐTĐ. Nhiều loại thảo dược đó chứng tỏ có tác dụng rất tốt
trong việc điều trị ĐTĐ như: mướp đắng, sinh địa, hoàng kỳ, huyền sâm, cỏ
ngọt, chè xanh, khoai lang,…Việc nghiên cứu, khảo sát về thành phần hóa học
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 2
và tác dụng dược lý của các loài cây thuốc có giá trị của Việt Nam nhằm đặt cơ
sở khoa học cho việc sử dụng chúng một cách hợp lý, hiệu quả có tầm quan
trọng đặc biệt.
Bông ổi hay hoa ngũ sắc, tên khoa học là Lantana Camara L. thuộc họ
roi ngựa. Một số nơi người ta cho rằng lá Bông ổi có tính sát trùng, cầm máu
nên dùng lá cây Bông ổi giã nát đắp lên vết thương, vết loét, thậm chí chỗ bị
Trong đó: W: Khối lượng (kg )
H: Chiều cao (m )
Bảng 1.1. Phân loại BMI của người trưởng thành châu Âu và châu Á [3]
Mức độ thể trọng
Người trưởng thành
châu Âu
Người trưởng thành
châu Á
Nhẹ cân
< 18.5
< 18.5
Bình thường
18.5 – 24.9
18.5 - 22.9
Quá cân
≥ 25 – 29.9
≥ 23
Béo phì độ 1
30 - 34.9
>23 - 24.9
Béo phì độ 2
35 - 39.9
25 - 29.9
Năm 2007, Viện dinh dưỡng Quốc gia điều tra trên đối tượng người
trưởng thành 25 - 64 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân béo phì là 16.8% và còn có xu
hướng tăng lên. Theo Viện trưởng TS. Nguyễn Công Khẩn thì tỉ lệ này ở thành
thị lớn hơn nông thôn, ở nữ giới cao hơn nam giới. Trẻ em Việt Nam cũng có
16.3% mắc thừa cân béo phì [8]. Hà Nội có 4.9% trẻ 4 - 6 tuổi mắc bệnh,
Thành phố Hồ Chí Minh 6% trẻ dưới 5 tuổi và 22.7% học sinh tiểu học cũng
rơi vào tình trạng này [14].
1.1.4. Tác hại của bệnh béo phì
Bệnh béo phì gây nhiều tác hại cho cuộc sống của con người như: mất
thoải mái trong cuộc sống do có cảm giác mệt mỏi toàn thân, giảm hiệu suất
lao động do khối lượng cơ thể nặng nề, kém lanh lợi… Người béo phì có nguy
cơ mắc bệnh tật cao hơn người bình thường do nhiễm độc máu, tiêu biểu như:
bệnh tim mạch, rối loạn lipid máu, đái tháo đường không phụ thuộc insulin,
tăng huyết áp, đột quỵ, giảm khả năng sinh sản, giảm chức năng hô hấp, tăng
viêm xương khớp, sỏi mật…
Ở trẻ em bị béo phì, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cũng tăng cao như
bệnh mặc vành, xơ vữa động mạch, tai biến mạch máu não… Ngoài ra, thừa
cân và béo phì còn làm giảm vẻ đẹp của con người.
1.1.5. Nguyên nhân và giải pháp phòng, điều trị béo phì
Nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân béo phì là do khẩu phần và thói
quen dinh dưỡng không hợp lý, hoạt động thể lực kém dẫn đến năng lượng hấp
thụ vào cơ thể vượt quá mức cần thiết và tích lũy dưới dạng mỡ. Ngoài ra một
số bệnh lý nội tiết như: hội chứng Cushing (do hormone cortisosteroid trong cơ
thể tăng quá cao), bệnh suy tuyến giáp trạng, bệnh trứng đa nang hoặc có chứa
gen béo phì di truyền.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 6
Để phòng bệnh béo phì có hiệu quả, mỗi cá nhân cần nâng cao nhận thức
về dinh dưỡng và hoạt động thể lực. Trên phạm vi xã hội, việc phòng bệnh cần
Để đánh giá lượng mỡ trong máu người ta làm xét nghiệm với các chỉ số:
Cholesterol toàn phần (2,9 – 5,2 mmol/l);
Triglycerid (0,8 – 2,3 mmol/l);
HDL-c (0,90 – 1,50 mmol/l);
LDL-c (0,5 – 3,4 mmol/l).
Tình trạng rối loạn và hoặc tăng nồng độ các thành phần lipid trong máu,
hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch làm tăng nguy cơ biến
chứng tim mạch và đột qụy, tăng các biến chứng mạch máu khác, hậu quả nặng
nề nhất là dẫn đến tử vong hoặc tàn phế gọi là rối loạn chuyển hóa [3]. Ngày
nay người ta đã xem là có rối loạn lipid máu ngay từ khi tỉ lệ thành phần của
lipid máu có sự thay đổi. Khái niệm này chỉ rõ rối loạn lipid máu có thể xảy ra
từ rất sớm, ngay cả khi chưa có tăng các giá trị tuyệt đối nồng độ của các thành
phần trong máu [3]. Rối loạn này có thể tiền phát do di truyền hoặc thứ phát
sau các bệnh khác như: béo phì, ĐTĐ, nghiện rượu, suy giáp trạng. Fredrickson
căn cứ vào kĩ thuật điện di và siêu ly tâm với các thành phần huyết thanh đã
phân loại chứng tăng lipid máu thành 5 type dựa trên những thay đổi thành
phần lipoprotein. Cách phân loại này đã được WHO chính thức sử dụng vào
năm 1970. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh người mắc bệnh béo phì có nguy
cơ cao mắc các bệnh rối loạn lipid máu dẫn đến xơ vữa động mạch (liên quan
chủ yếu đến các lipoprotein) hoặc hiện tượng “nhiễm độc mỡ tế bào”.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 8
1.2. Bệnh đái tháo đường
1.2.1. Khái niệm
Tên gọi của căn bệnh này là Diabetes mellitus. Vào thế kỉ thứ 2 sau
Công nguyên, bác sĩ Aretaios từ Kappadokie đã miêu tả nước tiểu của người
bệnh có vị ngọt như mật ong [5]. ĐTĐ là bệnh mãn tính phổ biến nhất và đang
ngày càng phát triển trên toàn cầu. Theo WHO, ĐTĐ là một hội chứng rối loạn
< 5.6
< 7.8
Biểu hiện của bệnh ĐTĐ là sự tăng nồng độ glucose trong máu và kéo
theo những rối loạn chuyển hóa glucid, lipid và protein, không dung nạp
glucose dẫn đến ĐTĐ. ĐTĐ cũng là nguyên nhân gây biến chứng mù mắt, suy
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 9
gan, thần kinh, tim mạch, Nguyên nhân ĐTĐ do tế bào của đảo tụy
Langerhan bị phá hủy mất khả năng sản xuất insulin, một hormon điều hòa
glucose trong máu (ĐTĐ type 1) hoặc do rối loạn trao đổi chất lipid – glucid
dẫn đến đối kháng insulin (ĐTĐ type 2) [9].
1.2.2. Tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo lứa tuổi, dân tộc, các vùng địa lý
khác nhau và theo sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Những số liệu mới
nhất cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở châu Á hiện nay đã vượt xa châu Âu, nơi
vốn được xem là ổ bệnh. Trong khi có khoảng 5% số người trưởng thành ở
châu Âu mắc bệnh thì ở châu Á số người mắc bệnh là từ 10-12% và ở những
quốc gia đảo thuộc Thái Bình Dương là 30-40%. Điều nguy hiểm là châu Á
đang có chiều hướng gia tăng bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi thanh thiếu niên và trẻ nhỏ.
Cũng theo tổ chức này thì nếu năm 2000 có 146 triệu người mắc bệnh ĐTĐ thì
năm 2010 sẽ là 220 triệu người và năm 2025 sẽ có thể lên tới 300 triệu người,
chiếm 5% dân số thế giới [2].
Ớ Việt nam bệnh ĐTĐ đang phát triển với tốc độ nhanh. Điều tra năm
2001 tỷ lệ ĐTĐ ở 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí
Minh) trong lứa tuổi 30 – 46 là 4.1%; đến điều tra toàn quốc năm 2002 ở cùng
đối tượng, tỷ lệ ĐTĐ toàn quốc là 2.7%. Trong đó ở thành phố và khu công
nghiệp là 4.4%, đồng bằng là 2.7%, trung du là 2.2% và miền núi là 2.1%. Hiện
nay có khoảng trên 2 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, nhưng có tới 65% người
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 11
Cơ chế bệnh sinh
Do yếu tố di truyền kém sản xuất insulin, phát bệnh tự nhiên, ít phụ
thuộc vào điều kiện môi trường. Các giai đoạn trong ĐTĐ type 1:
- Giai đoạn 1: Bản chất di truyền–nhạy cảm gene.
- Giai đoạn 2: Khởi phát quá trình tự miễn.
- Giai đoạn 3: Phát triển một loạt các kháng thể.
- Giai đoạn 4: Tổn thương chức năng tế bào β đảo tụy.
- Giai đoạn 5: ĐTĐ lâm sàng, phá hủy hoàn toàn hoặc gần như hoàn
toàn tế bào β đảo tụy. Biểu hiện lâm sàng là ĐTĐ phụ thuộc insulin có kèm
biến chứng [6].
1.2.3.2. ĐTĐ type 2 [3], [8], [15]
ĐTĐ type 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90% ĐTĐ trên thế giới, thường gặp ở
người trưởng thành trên 40 tuổi. Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi.
Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết
insulin tương đối. ĐTĐ type 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn
đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng.
Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển
hoá lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận…, nhiều khi các
biến chứng này đã ở mức độ rất nặng.
Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của ĐTĐ type 2 là có sự tương tác
giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh. Người mắc bệnh
ĐTĐ type 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 12
kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì
bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin.
triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính. Bệnh nhân có
thể tử vong do các biến chứng này.
Biến chứng mắt như: bệnh lý võng mạc (27,8%), đục thủy tinh thể
(6,1%), tăng sinh gây mù lòa (1,1%) Bệnh về võng mạc tăng dần theo thời
gian phát hiện bệnh.
Biến chứng thận như: microalbumin niệu (11,6%), macroalbumin (3%),
suy thận từ độ 1 đến độ 4 (3,5%) …
Biến chứng thần kinh ngoại vi: giảm hoặc mất phản xạ gân xương hoặc
cảm giác rung …
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 14
Tổn thương bàn chân: tùy từng mức độ như phỏng rộp, biến dạng, loét,
hoại thư, cắt cụt, …
Biến chứng mạch máu lớn: mạch vành có tới (38%), đột quỵ (1,2%),
tăng huyết áp (27,6%)
1.2.5. Các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ
Trước sự phát triển nhanh chóng của bệnh ĐTĐ, nhu cầu thuốc điều trị
là rất lớn. Trên thị trường có rất nhiều loại thuốc khác nhau chủ yếu là thuốc có
nguồn gốc tổng hợp hoặc bán tổng hợp. Dựa vào tác dụng và cơ chế tác dụng
có thể chia chúng thành 3 nhóm chính:
- Insulin và các thuốc kích thích tế bào β bài tiết insulin như các
sulfonylurea, meglitinnide và nateglinide.
- Các thuốc cải thiện tình trạng kháng insulin ở tế bào đích như
biguanide, thiazolidinedion.
- Các thuốc chống tăng glucose huyết sau bữa ăn bằng cách ức chế
enzyme phân giải tinh bột như acarbose.
Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc trên còn gây ra một số tai biến và tác
dụng không mong muốn. Ví dụ, insulin gây phản ứng dị ứng, loạn dưỡng mô ở
chỗ viêm, tăng đường huyết hồi ứng; sử dụng các sulfonylurea gây dị ứng
Lá chứa 0.2% tinh dầu; ở hoa khô chỉ có 0.07%. Tinh dầu có 8%
terpenbicyclic và 10-12% L-a-phelandren. Tinh dầu Bông ổi Ấn Độ chứa
cameren, isocameren và micranen. Trong vỏ có 0.08% lantanin, là một
alkaloid. Lá trong thời kỳ có hoa chứa 0.31- 0.68% lantanin, còn có lantaden [4].
1.3.4. Một số tác dụng Sinh - Dược và công dụng của cây Bông ổi
Lá có vị đắng, hôi, tính mát, hơi có độc, có tác dụng hạ sốt, tiêu độc, tiêu
sưng. Hoa có vị ngọt, tính mát, có tác dụng cầm máu. Rễ có vị dịu, tính mát, có
tác dụng hạ sốt, tiêu độc, giảm đau. Người ta biết lantanin, cũng như quinin,
làm giảm sự tuần hoàn và hạ nhiệt.
Công dụng, chỉ định và phối hợp:
- Lá Bông ổi chữa táo bón làm ra mồ hôi, viêm phế quản xuất tiết. Ngày
20-30 gam cây tơi sắc uống.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2
Dương Thị Nga, K35C-CN Sinh 17
- Dùng đắp ngoài vết thương lở loét hoặc cầm máu. Lá chớm nống trị
thấp khớp.
- Hoa trị ho, lao kèm ho ra máu và cao huyết áp, ngày dùng 12 gam.
- Rễ trị sốt rét lâu không dứt, quai bị, phong thấp, đau xương, đau răng,
chấn thương bầm dập. Ngày 30-60 gam cây tơi sắc uống.