Nghiên cứu tác dụng bảo vệ dạ dày của rễ củ sâm báo ( radix hibisci sagittifolII ) - Pdf 30

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI

-
— ♦
-

TRẦN THỊ HỔNG HẠNH
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG BẢO VỆ DẠ DÀY CỦA
• • •
RỄ CỦ SÂM BÁO
(RADIX HIBISCISAGITTIFOLII)
(KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ KHOÁ 2001-2006)
Người hướng dẫn : Ths. Đào Thị Vui
TS. Nguyễn Trọng Thông
Nơi thực hiện : Bộ môn Dược lực
Phòng thí nghiêm trung tâm
- Trường Đại học Dược Hà Nội
Thòi gian thực hiện : 2/2005-5/2005
HÀ NỘI, THÁNG 5-2006 V
Jlỉfi eảtn ótt
Q«wtỹ
áxiềt quá trình, tltit'e nạhỉỀtn, lài đã. nhộn. ĩtnúe n i (ỊÌtip (Tõ
nhiệt tình o ỉ tinh fit tĩu, kiẻti tỉtứe úủ iJồ iưịt eltát ettti (Bậ Htỏii ^Dtỉổe híơ
• 7 • • • •
- ^7rtiò'n(Ị (Đ ại ^Diíổe 'dôà. O lội, eủtí pliồtiỊỊ t h í tiạ íiỉètu trtm tỊ tâ m .
Qlhâti dịp, tiàụ eito pit ép tồi (tttđe hù tị tấ làng, Uínlt trứng, ũù hỉêt ổn lâu
iẨe. tâi:
rĩlt.i 'lũìtở (ỹjlii (J)ui, hò inêíi rDii(U‘ líle. —
Í7m'f)«í/
(Đại 'TôtML

NSAID
: Chống viêm không steroid
SBN
: Sâm báo nước
ƯCL
: Úc chế loét
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỂ 1
PHẦN 1. TỔNG QUAN 2
1.1. Cây sâm báo 2
1.1.1. Đặc điểm thực vật 3
1.1.2. Sinh học và sinh thái 3
1.1.3. Phân bố 3
1.1.4. Bộ phận dùng, thu hái và chế biến 3
1.1.5. Công dụng 4
1.1.6. Tình hình nghiên cứu 4
1.2. Bệnh loét dạ dày-tá tràng 4
1.2.1. Đại cương 4
1.2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của loét dạ dày-tá tràng 5
1.2.3. Triệu chứng 10
1.2.4. Các thuốc thường dùng 11
PHẦN 2. THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
20
2.1. Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu

20
2.1.1. Nguyên vật liệu 20
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
21
2.2. Kết quả thực nghiệm và nhận xét 25

KẾT LUẬN 37
Đề xuất 38
ĐẶT VẤN ĐỂ
Từ xa xưa con người đã biết sử dụng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh.
Qua tích luỹ kinh nghiệm đã hình thành nên một nền y học cổ truyền dân tộc.
Phương châm phát triển ngành y tế của Đảng và Nhà nước là kết hợp y học
hiện đại và y học cổ truyền.
Mặt khác nước ta có nguồn dược liệu phong phú, nhân dân ta vốn có
truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh. Do đó thảo dược sẽ chiếm
ưu thế trên thị trường nếu chúng ta biết tận dụng khai thác một cách hợp lý
nguồn tiềm năng sẵn có này. Cùng với sự phát triển của khoa học hiện đại,
việc sử dụng các vị thuốc y học cổ truyền ngày càng có cơ sở khoa học giúp
cho việc sử dụng các vị thuốc y học cổ truyền ngày một hợp lý và hiệu quả
hơn.
Cây sâm báo là một cây thuốc quý, mọc hoang nhiều ở vùng núi Báo
tỉnh Thanh Hoá và một số tỉnh khác Phú Yên, Gia Lai, lâu nay vẫn được
người dân dùng làm thuốc bổ chữa suy nhược, kém ăn, rối loạn tiêu hoá.
Nhưng cho tới nay có rất ít nghiên cứu về cây thuốc này.
Để góp phần nâng cao giá trị sử dụng của cây sâm báo trên cơ sở khoa
học, đồng thời góp phần phát huy thế mạnh về thảo dược của ngành Y tế nước
ta, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu tác dụng bảo vệ dạ dày của rễ củ
sâm báo (Radix Hibisci sagittifolii)” vói mục tiêu sau:
1. Khảo sát khả năng trung hoà acid của sâm báo.
2. Nghiên cứu tác dụng bảo vệ dạ dày của sâm báo trên mô hình thực
nghiệm.
3. Nghiên cứu độc tính cấp của sâm báo.
1
PHẦN 1. TỔNG QUAN
1.1. CÂY SÂM BÁO
Tên khoa học: Hibiscus sagittifolius Kurz var. septentrionalis Gagnep.

theo nhiều cách khác nhau:
• Cạo sạch vỏ ngoài, ngày phơi đêm sấy cho đến khô.
• Ngâm nước vo gạo một đêm, vớt ra để khô đem đồ chín rồi phơi nắng
hoặc sấy khô.
3
• Ngâm vào nước phèn chua 2 ngày đêm, rửa sạch phơi nắng hay sấy khô.
Hoặc ngâm thêm nước gừng, gấc và đường cho thêm màu đỏ, vị cay và
vị ngọt.
1.1.5. Công dụng [8, 21]
Trong dân gian thường dùng rễ củ cây sâm báo để chữa cơ thể suy
nhược, kém ăn, kém ngủ, đau lưng, đau mình, các chứng ho, sốt nóng trong
người khô táo bón, khát nước, gầy còm, đau dạ dày. Có khi được dùng làm
thuốc thông tiểu tiện, điều kinh, chữa bệnh phổi, bạch đới.
Liều dùng: thường dùng 6-12g/ngày, có thể dùng tới 40g/ngày.
1.1.6. Tình hình nghiên cứu [17,22,28]
Cây sâm báo là cây thuốc được các lang y và nhân dân địa phương dùng
từ lâu nhưng hầu như chưa có nghiên cứu đầy đủ nào về cây này. Theo Hoàng
Thị Thuỳ Hương rễ củ sâm báo chứa nhiều coumarin, chất nhầy, tinh bột;
flavonoid, acid hữu cơ, acid amin, đường khử. Theo Phan Văn Đệ và cộng sự,
ngoài các thành phần trên còn có saponin và triterpenoid. Hàm lượng chất
nhầy trong rễ củ sâm báo là 26,7% [17]; Hàm lượng coumarin là 0,91% [28].
Về tác dụng bảo vệ dạ dày của rễ củ sâm báo, Hoàng Thị Thuỳ Hương đã
nghiên cứu trên mô hình thắt môn vị cho thấy dịch chiết nước và chất nhầy
đều có tác dụng bảo vệ dạ dày: mức độ tổn thương ở lô SBN và chất nhầy so
với lô chứng là 60,46% và 40,31% [17].
1.2. BỆNH LOÉT DẠ DÀY-TÁ TRÀNG
1.2.1. Đại cương
Loét dạ dày- tá tràng là bệnh phổ biến ở trên thế giới và Việt Nam. Tỷ
lệ mắc bệnh chiếm từ 3-4% dân số, có những nơi chiếm đến 10% [3]. Bệnh
gặp ở nam nhiều hơn nữ (1,3:1) [27], loét tá tràng gặp nhiều hơn loét dạ dày

5
- Hoạt hoá các tế bào viêm tiết ra các chất kích thích tế bào bìa, quan
trọng nhất là histamin.
Tất cả hiện tượng thứ phát trên do HC1 thẩm thấu qua hàng rào niêm
mạc gây ra tổn thương niêm mạc từ vết xước nông đến ổ loét. Trong trường
hợp loét do stress, tình trạng thiếu oxy, thiếu máu nuôi dưỡng làm cho biểu
mô không tiết được chất nhầy và bicarbonat, không duy trì được việc tái sinh
tế bào, niêm mạc dạ dày dễ bị tấn công bởi một acid dịch vị có độ toan bình
thường, thậm chí thiểu toan.
Pepsin
Được tế bào chính tiết ra dưới dạng pepsinogen dưới tác động của HC1
tạo thành pepsin hoạt động khi pH<3,5. Pepsin là một men tiêu huỷ protein
mạnh. Tác dụng tiêu protein của pepsin cùng với tính chất ăn mòn của acid
dịch vị giải thích cho việc tổn hại các mô gây ra loét dạ dày tá tràng [19]. Có
hai loại pepsinogen là pepsinogen I và pepsinogen II được phát hiện bằng điện
di miễn dịch. Lượng pepsinogen I quan hệ chặt chẽ vói lượng tế bào tuyến
hang vị và tăng cao ở 2/3 bệnh nhân loét hành tá tràng và 1/3 bệnh nhân loét
dạ dày [26].
Muối mật
Các muối mật được bài tiết vào tá tràng có thể gây tác hại lên niêm mạc
dạ dày. Trong trường hợp trào ngược thực quản muối mật bị acid hoá dễ dàng
khuếch tán qua lớp nhầy bảo vệ. Mặt khác nó có khả năng nhũ hoá, tạo
micelle với lipid, phospholipid, cholesterol của màng tế bào, phá vỡ các liên
kết bề mặt tế bào biểu mô dẫn đến tổn thương tế bào.
• Các yếu tố bảo vệ [19,31,32]
Chất nhầy dạ dày
Chất nhầy dạ dày được các tế bào biểu mô niêm mạc dạ dày tiết ra, dày
khoảng 0,2mm bao phủ bề mặt niêm mạc dạ dày. Bình thường gel nhầy được
bài tiết liên tục và cũng được liên tục hoà tan bởi pepsin đã được bài tiết vào
6

4-6 roi mảnh ở một đầu. Nhờ có cấu trúc xoắn và các roi này, vi khuẩn HP
như một mũi khoan có khả năng di chuyển luồn sâu xuống dưới lớp nhầy của
bề mặt dạ dày, bám vào màng đỉnh tế bào biểu mô phủ hoặc giữa khe liên kết
tế bào làm gãy các cẩu nối liên tế bào biểu mô gây viêm và hoại tử tế bào.
HP tiết ra enzym urease phân huỷ ure thành amoniac, tạo thành lớp đệm
pH trung tính giúp HP tồn tại được trong môi trường acid. Amoniac còn làm
thoái hoá chất nhầy gây độc trực tiếp cho tế bào.
HP tiết ra độc tố VacA (Vacuolating cytotoxin A) gây huỷ hoại tế bào
do chúng gây thoái hoá hình thành những không bào bên trong tế bào. Độc
tính CagA tăng cường hoạt tính độc của VacA và gây ra nhiều rối loạn khác.
HP cũng sản xuất ra protein bề mặt có hoá ứng động (+) với bạch cầu
đa nhân trung tính và bạch cầu đơn nhân, nó còn kích thích tiết ra yếu tố hoạt
hoá tiểu cầu, các chất tiền viêm, các chất superoxid, interleukin 1 và TNF là
những chất gây viêm và hoại tử tế bào[26].
I.2.2.3. Vai trò của thuốc chống viêm không steroid [2,27,31]
Các thuốc NSAID gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hoá qua 2 cơ
chế:
Tác dụng qua ức chế prostaglandin : các thuốc NSAID đều ức chế
enzym cyclooxygenase (COX), ngăn cản tổng hợp prostaglandin là chất trung
gian gây viêm. Đồng thời các thuốc NSAID ức chế không chọn lọc cox 2
cũng ức chế tổng hợp prostaglandin sinh lý có ở niêm mạc dạ dày. Việc ức chế
tổng hợp prostaglandin ở dạ dày làm giảm sản xuất chất nhầy và bicarbonat,
cản trở đổi mới tế bào niêm mạc, giảm lưu lượng máu tới niêm mạc dạ dày.
Như vậy ức chế tổng hợp prostaglandin của các thuốc NSAID làm giảm yếu tố
bảo vệ dạ dày giúp cho HC1, pepsin dễ dàng tấn công gây tổn thương dạ dày tá
tràng.
8
Hình 1.1. Cơ chế ức chế tổng hợp prostaglandin của thuốc NSAID
Tác dụng tại chỗ: hầu hết các thuốc NSAID có bản chất là acid, trong
dạ dày pH acid làm chúng không phân ly dễ dàng khuếch tán qua màng tế bào

1.2.3.2. Triệu chứng cận lâm sàng [5,9]
• Thăm dò hình thái
- Chụp X quang dạ dày tá tràng: đây là phương pháp gián tiếp nên độ
tin cậy không cao, dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ không thấy trên phim.
I.2.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng khác [2]
10
- Soi dạ dày-tá tràng bằng ống soi mềm, quan sát trực tiếp các tổn
thương ở dạ dày và tá tràng bằng mắt thường hoặc qua video. Trong khi nội
soi có thể sinh thiết để xét nghiệm mô bệnh học. Qua nội soi còn có thể điều
trị như cầm máu ổ loét, cắt polyp
• Xét nghiệm tìm HP
- Xét nghiệm xâm lấn (có nội soi và sinh thiết): test urease nhanh, xét
nghiệm mô học, nuôi cấy vi khuẩn, PCR mẫu sinh thiết.
- Xét nghiệm không xâm lấn: test thở urease, định lượng kháng nguyên
trong phân, miễn dịch huyết thanh.
• Thăm dò chức năng dạ dày
- Nghiệm pháp hút dịch vị lúc đói.
- Nghiệm pháp bài tiết dịch vị.
• Các xét nghiệm khác:
Các xét nghiệm máu được chỉ định để chẩn đoán phân biệt: bệnh nhân
thiếu máu trong trường hợp chảy máu dạ dày cấp, bạch cầu tăng trong trường
hợp thủng dạ dày.
1.233. Biến chứng [5]
• Chảy máu tiêu hoá: biểu hiện bằng nôn ra máu, hoặc ỉa phân đen hoặc cả
hai. Nếu không cấp cứu kịp thời bệnh nhân có thể tử vong do mất nhiều
máu gây trụy tim mạch, hạ huyết áp.
• Thủng dạ dày: là một cấp cứu ngoại khoa, biểu hiện bằng đau bụng dữ dội
và co cứng thành bụng do các chất dịch dạ dày tràn vào ổ bụng gây viêm
màng bụng.
• Hẹp môn vị: bệnh nhân ăn không tiêu, nôn nhiều.

nizatidin
Tác dụng và cơ chê: do các thuốc này có cấu trúc gần giống với
histamin nên nó tranh chấp với histamin tại receptor H2 ở tế bào thành dạ dày.
12
Các thuốc kháng H2-histamin chỉ tác dụng chọn lọc trên receptor H2, không có
tác dụng trên receptor Hj. Do đó các thuốc này làm giảm bài tiết acid dịch vị
mà acid này được kích thích bởi hisamin, gastrin, thuốc cường phó giao cảm
và dây X.
Các thuốc thế hệ sau ưu việt hơn thế hệ trước [3]:
- Liều lượng dùng ít hơn.
- Thời gian lành ổ loét nhanh hơn.
- Sau thời gian ngừng thuốc, tỷ lệ tái phát ít hơn.
Bảng 1.1. Một số thông số của các thuốc kháng H2-histamin
Tên thuốc
SKD
(%)
T1/2 (h)
T tác
dụng(h)
Liều dùng Liều duy trì
Cimetidin 60 1,5-2,3
5-6
200mg X 3 lần và
400mg trước khi ngủ
400mg trước
khi ngủ
Ranitidin 50 2-3 9-10
150mg X 2 lần hoặc
300mg trước khi ngủ
150mg trước

dày nên ức chế bài tiết acid do bất kỳ nguyên nhân nào.
Thuốc ức chế đặc hiệu và không hồi phục bơm proton nên tác dụng
nhanh và hiệu quả hơn các thuốc khác. Tỷ lệ lành sẹo có thể đạt 95% sau 8
tuần điều trị.
Tác dụng không mong muốn: nhìn chung thuốc dung nạp tốt có thể gây
chóng mặt nhức đầu, rối loạn tiêu hoá.
Bảng 1.2. Một số thông số của thuốc ức chế bơm proton
Tên thuốc
SKD
(%)
Ti/2 (h)
Liều dùng
ức chế men gan
Omeprazol 60
2/3
20mg/ngàyx4
tuần
+++
Lansoprazol 80 1,5-2,5
15-30mg/ngày
x4-8 tuần
+
Pantoprazol 70 0,5-1,5
40mg/ngày x8
tuần
0
Rabeprazol 70
0,5-1,5 20mg/ngày 0
14
Các thuốc ức chế bơm proton đều được bào chế dưói dạng bao tan trong

được chỉ định cho phụ nữ có thai và mong muốn có thai. Vì các lẽ trên nên
hiện nay các chất tổng hợp prostagladin chỉ được xếp thứ 2 và có giá trị như
một liệu pháp bảo vệ tế bào dùng cho các bệnh nhân phải sử dụng các thuốc
NSAID.
Liều dùng: 200|j,g x2 lần/ngày.
1.2.4.4. Thuốc diệt H p [2,3, 18]
Diệt HP có khả năng điều trị dứt điểm bệnh loét dạ dày- tá tràng hoặc ít
nhất cũng làm giảm rõ rệt tần số tái phát [18]. Các thuốc được dùng để diệt
HP:
- Kháng sinh.
- Nhóm imidazol.
- Muối bismuth.
• Hợp chất bismuth
Bao gồm: bismuth subsalicylat, bismuth subcitrat, bismuth aluminat.
Tác dụng và cơ chế: các hợp chất bismuth tạo hàng rào bảo vệ niêm mạc
tránh tác động của acid, tăng tiết chất nhầy bảo vệ, kích thích tổng hợp
prostaglandin và diệt HP. Cơ chế diệt HP là gây đông vón protein của vi
khuẩn.
Tác dụng không mong muôh: dùng lâu gây suy nhược thần kinh TW, loạn
dưỡng xương, đen vòm miệng.
Hiện nay người ta dùng bismuth dưới dạng thuốc hữu cơ như: colloidal
bismuth subnitrat (CBS) hoặc tripotassium dicitratobismuthat (TDB) có kích
thước phân tử lớn, có MIC rất thấp, và chỉ dùng ở liều thấp rất ít gây tác dụng
phụ. Khi dùng đơn trị liệu, các hợp chất bismuth chỉ diệt được HP khoảng
20% người bệnh, nhưng khi phối hợp với kháng sinh và thuốc ức chế bơm
proton có thể diệt trừ HP đến 95% người bệnh.
16
• Imidazol:
Thường dùng metronidazol, tinidazol. Trong những năm gần đây người
ta nhận thấy hiện tượng kháng thuốc của HP với metronidazol.

10 ngày.
• Thuốc kháng gastrin
Gastrin tiết ra ở hang vị do tác dụng của thức ăn hay do kích thích dây
X. Gastrin gắn vào recepter trên tế bào thành làm tiết dịch vị, pepsin và yếu tố
nội dạ dày.
Proglumid: là thuốc đối kháng gastrin, được chỉ định trong điều trị loét
có tăng gastrin máu và nhất là trong u tiết gastrin.
Liều dùng: 200 - 400mg/lần X 3 lần/ngày, uống trước bữa ăn.
Thuốc đông dược điều trị bệnh loét dạ dày-tá tràng [4, 7,20]
Theo y học cổ truyền, người ta chia loét dạ dày -tá tràng làm hai thể lớn là
thể can khí phạm vị và thể tỳ vị hư hàn.
♦ Can khí phạm vị: do tinh trí bị kích thích mà can khí uất kết làm cho tỳ
thổ mất khả năng kiện vận (can mộc khắc tỳ thổ) dẫn đến đau, ợ hơi, ợ chua.
♦ Thể tỳ vị hư hàn: do tỳ vị tiên thiên bất túc hoặc do ăn uống không điều
độ thất thường, uống nhiều rượu, ăn thứ cứng làm tổn thương tỳ vị, nhân đó
hàn tà xâm nhập vào, gây khí trệ, huyết ứ sinh ra những cơn đau.
Một số vị thuốc thường dùng chữa viêm loét dạ dày:
• Cam thảo: chống loét dạ dày, chống co thắt ruột, giảm tiết acid dịch vị,
chống viêm và kháng khuẩn.
• Chè dây: có khả năng làm giảm HC1 dịch vị invitro và invivo, ức chế
các ổ loét, làm giảm đau rõ rệt và ức chế một số chủng vi khuẩn. Trên
lâm sàng, nghiên cứu cho thấy: 93% hết đau sau 9 ngày,78% ổ loét
hành tá tràng liền sẹo và 42,5% sạch HP.
18
• Nghệ: tái tạo biểu mô, bảo vệ niêm mạc dạ dày, giảm tiết dịch vị, giảm
độ acid, chống co thắt ruột, chống viêm kháng khuẩn.
• Bạch truật: chống loét dạ dày, giảm tiết acid do ức chế bơm proton.
• Bạch thược: ức chế cơ trơn dạ dày, giảm tiết dịch vị, chống viêm, kháng
khuẩn.
• Trung hoà độ toan và bảo vệ niêm mạc: ô tặc cốt, cam thảo.

Trích đoạn Ảnh hưởng của SBN dùng một lần và dùng dài ngày
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status