Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM PHẠM ĐÌNH KHÁNH
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ VỀ THÀNH PHẦN LOÀI
CỦA LƢỠNG CƢ, BÒ SÁT TRONG CÁC MÔI TRƢỜNG SỐNG
Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẦN SA- PHƢỢNG HOÀNG
TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Văn Ngọc
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
XÁC NHẬN
CỦA KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN
CỦA NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Hoàng Văn Ngọc
như nhân dân địa phương trong quá trình thực địa. Tôi cũng nhận được sự góp ý về
chuyên môn của PGS.TS Lê Nguyên Ngật- trường ĐHSP Hà Nội. Tôi vô cùng biết ơn
về sự giúp đỡ quý báu đó. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo TS.
Hoàng Văn Ngọc đã cung cấp nhiều tư liệu tham khảo giá trị và trực tiếp hướng dẫn tôi
rất tận tình trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin cảm ơn sự động viên, ủng hộ nhiệt tình của gia đình và bạn bè.
Do thời gian nghiên cứu còn ngắn cũng như trình độ bản thân của tôi còn hạn chế,
luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận được sự
góp ý của các thầy, cô giáo; các nhà nghiên cứu và bạn bè để đề tài hoàn chỉnh hơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Đình Khánh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Mục tiêu 8
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
3.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 33
3.4.2.3 Phương pháp kế thừa 35
3.4.2.4 Phương pháp xử lí số liệu 35
Chƣơng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Thành phần loài lưỡng cư, bò sát ở khu vực nghiên cứu 36
4.2 Nhận xét về thành phần loài 39
4.2.1 Sự đa dạng về thành phần phân loại học 39
4.2.2. So sánh với vùng Đông Bắc và cả nước 41
4.2.3 So sánh với các vùng lân cận 42
4.3 Mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái của các loài LC, BS bổ sung cho KVNC 43
4.4 Sự phân bố LC, BS ở KVNC 50
4.4.1 Phân bố theo nơi ở 50
4.4.2 Phân bố theo hệ sinh thái 54
4.5 Các loài lưỡng cư, bò sát quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 60
4.6 Các nhân tố đe dọa khu hệ LC, BS và đề xuất hướng bảo tồn 62
4.6.1 Các nhân tố đe dọa 62
4.6.2 Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn 63
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
BS
Bò sát
DC
Dân cư
đtg
Bảng 2.2 Thành phần ĐV có xương sống ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng 26
Bảng 4.1 Danh sách thành phần loài LC, BS ở KVNC 36
Bảng 4.2 Đa dạng bậc phân loại lưỡng cư ở KVNC 40
Bảng 4.3 Đa dạng bậc phân loại bò sát ở KVNC 40
Bảng 4.4 So sánh số lượng của các bậc phân loại LC, BS ở KVNC với vùng Đông Bắc và cả nước 41
Bảng 4.5 So sánh thành phần loài LC, BS một số khu vực trong vùng Đông Bắc 43
Bảng 4.6 Sự phân bố các bậc phân loại của LC, BS theo nơi ở 50
Bảng 4.7 Sự phân bố các bậc phân loại của LC, BS theo HST 54
Bảng 4.8 Danh sách các loài LC, BS quý hiếm ở KVNC 61
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bàn chân lưỡng cư không đuôi 33
Hình 3.2 Số đo lưỡng cư không đuôi 33
Hình 3.3 Tấm đầu của rắn 34
Hình 3.4 Các loại vảy lưng ở rắn 34
Hình 3.5 Cách đếm số hàng vảy thân 34
Hình 3.6 Vảy bụng, vảy dưới đuôi và tấm hậu môn 34
Hình 3.7. Các tấm trên đầu ở thằn lằn (Mabuya) 35
Hình 3.8. Lỗ tai thằn lằn (theo Bourret R., 1943) 35
Hình 3.9. Mắt thằn lằn (theo Bourret R., 1943) 35
Biểu đồ 4.1 Số lượng của các bậc phân loại LC, BS ở KVNC, Đông Bắc và cả nước 42
Biểu đồ 4.2 Tỉ lệ số loài lưỡng cư, bò sát phân bố ở từng nơi ở trong KVNC (%). 51
Biểu đồ 4.3 Tỉ lệ số loài lưỡng cư, bò sát phân bố ở từng HST trong KVNC (%). 55
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lưỡng cư, bò sát là những mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn của các quần xã,
nhiều nơi phân bố trên các vách núi dựng đứng, khó khăn để tiếp cận ngay cả với
người dân bản địa, hạn chế cho công tác khảo sát thành phần loài. Tuy mật độ sông
suối khá thưa, nhưng có một số khe nước, nhánh suối nhỏ có nước chảy thường xuyên
trong năm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự cư trú của LC, kéo theo phân bố của các BS
săn mồi.
Với ý nghĩa sinh học và sinh thái như vậy, việc bảo tồn loài trong KBTTN Thần Sa-
Phượng Hoàng là hết sức cấp bách trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm đa dạng
sinh học đang diễn ra ở cấp độ toàn cầu. Dù vậy, do công tác bảo vệ rừng ít nhiều còn
hạn chế và do nhu cầu mưu sinh của nhân dân địa phương, trong những năm vừa qua,
tình hình săn bắt động vật hoang dã vẫn diễn ra thường xuyên, tài nguyên thực vật bị
xâm hại dẫn tới phá hủy SC sống của động vật. Trong cả vùng lõi và vùng đệm của
KBT đều có DC sinh sống phân tán nên không thể tránh khỏi tác động tiêu cực. Việc sử
dụng thuốc trừ sâu NN ảnh hưởng tới hệ động vật nói chung, LC, BS nói riêng. DC
sống rải rác tạo ra sự phân mảnh khu sinh thái của động vật. Nạn khai thác vàng nhỏ lẻ
trái phép từng diễn ra, nay tập trung hơn dưới hình thức khai thác cát sỏi xả thải ra môi
trường nhiều hóa chất độc hại. Việc khai thác khoáng sản này nếu không được chấm
dứt chắc chắn làm cấu trúc ổn định của rừng trong KBT từng bước bị phá vỡ, sẽ làm
suy giảm nghiêm trọng những giá trị bảo tồn của khu rừng. Nguy cơ trọc hóa rừng
trên núi đá khi đó là hiện hữu, trong khi việc phục hồi rất khó khăn. Để có những luận
điểm chắc chắn, thuyết phục nhằm kêu gọi đầu tư và đề xuất triển khai các biện pháp
tích cực bảo vệ KBT, cần nhiều hơn nữa các nghiên cứu rà soát khu hệ động, thực vật
trong KBT.
Bên cạnh đó, các khảo sát về LC, BS ở KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng được đề
cập tới nay vẫn còn ít, trong khi một số loài như Trăn đất đang có dấu hiệu biến mất.
Việc nghiên cứu SC, thành phần loài của LC, BS trong các SC và bổ sung các mô tả
hình thái, sinh thái của chúng trở thành yêu cầu cấp thiết, làm cơ sở cho công tác bảo
tồn. Từ đòi hỏi thực tế đó, tôi lựa chọn thực hiện đề tài: "Nghiên cứu sự phân bố về
thành phần loài của lưỡng cư, bò sát trong các môi trường sống ở Khu bảo tồn thiên
nhiên Thần Sa- Phượng Hoàng tỉnh Thái Nguyên".
tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên,
Lạng Sơn, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh. Nghiên cứu LC, BS ở các tỉnh Đông Bắc
chia thành 3 hướng chính:
- Nghiên cứu về thành phần loài và phân loại. Đây là hướng nghiên cứu chủ đạo
từ khi những nhà nghiên cứu nước ngoài đầu tiên tới Việt Nam khảo sát LC, BS và vẫn
tiếp tục cho tới nay.
Theo Hoàng Văn Ngọc (2011) [40], tác giả Bourret R. từ 1933 đến 1944 đã viết 4
cuốn chuyên khảo về LC, BS Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia), gồm Les
Serpents de l’Indochine (Tome I, II) (1936) có mô tá 105 loài rắn ở miền Bắc Việt
Nam, Les Tortues de l’Indochine (1941) có mô tả 17 loài và phân loài rùa ở miền Bắc
Việt Nam và Les Batraciens de l’Indochine (1942) có mô tả 59 loài và phân loài LC,
Les Lézards de l'Indochine (được xuất bản chính thức năm 2009), gồm 177 loài và
phân loài thằn lằn. Đây được coi là những tài liệu đầy đủ nhất về LC, BS ở giai đoạn
trước 1954 của Đông Dương. Địa điểm khảo sát trong các nghiên cứu của ông tập trung
ở miền Nam, trong khi vùng Đông Bắc chủ yếu ở các khu nghỉ mát (Mẫu Sơn, Tam
Đảo ), các khu đồn trú của lính Pháp (Ngân Sơn ). Các nghiên cứu LC, BS ngay sau
đó bị đình trệ khi cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra ở Việt Nam.
Vào thời kì miền Bắc bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội sau 1954, một số cán bộ
được Nhà nước cử đi đào tạo tại Liên Xô (cũ) trở về công tác tại các cơ quan như Đại
học (ĐH) Tổng hợp Hà Nội, ĐH Sư phạm Hà Nội, Viện Điều tra quy hoạch rừng ;
cùng với các cán bộ được đào tạo trong nước trở thành cán bộ chuyên sâu thực hiện
thống kê tài nguyên về LC, BS của đất nước và các địa phương, phục vụ cho sản xuất
và phát triển kinh tế. Theo Trần Kiên (1981), ở vùng Đông Bắc cũng có một số địa
điểm được nghiên cứu, như: Ghi nhận loài trăn đất (Python molurus) và ba ba gai
(Palea steindachneri) ở Đình Cả (Võ Nhai, Thái Nguyên) của Đào Văn Tiến (1962);
thu mẫu, xác định tổng cộng 74 loài BS và 34 loài LC ở Bắc Thái cũ (nay gồm Thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
10
Nguyên và Bắc Kạn) qua các đợt khảo sát của Nguyễn Văn Sáng (1967), Nguyễn Quốc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
(Bắc Kạn) [41].
Năm 1998, Amy Lathrop và đtg mô tả loài mới phát hiện cho khoa học Lepolalax
sungi ở Tam Đảo và Leptolalax nahangensis ở Tuyên Quang [76].
Hồ Thu Cúc và đtg (2000) [8] mô tả một vài đặc điểm hình thái, tập tính và phân
bố của 10 loài Rhacophorus trong đó có các loài ở vùng Đông Bắc: Rhacophorus
calcaneus, Rhacophorus rainwardtii (được xác định lại thuộc Rhacophorus kio [83]),
Rhacophorus verrucosus (tên đồng danh của Kurixalus verrucosus). Năm 2001, tái
phát hiện, bổ sung khu phân bố và mô tả một số loài của giống ếch cây sần Theloderma:
Th. gordoni ở K'Bang (Gia Lai), Fansipan (Lào Cai) và núi Tam Đảo, Th. asperum
(Boulenger, 1886) ở Tam Đảo và Sa Pa, Th. bicolor có ở Sa Pa, đổi tên Rhacophorus
leprosus corticalis từng phát hiện ở Mẫu Sơn (Lạng Sơn) thành Th. corticale
(Boulenger, 1903) phát hiện lại ở núi Tam Đảo [7]. Theo Nguyen Van Sang (2009)
[83], bà cũng đã bổ sung nhiều loài mới cho khoa học tại vùng Đông Bắc Việt Nam như
Leptolalax nahangensis, Leptolalax sungi, Odorrana bacboensis, Rhacophorus
hoanglienensis, Sphenomorphus cryptotis, Sphenomorphus devorator.
Đặng Huy Phương và đtg, năm 2004 thống kê ở khu vực núi Tây Côn Lĩnh, Hà
Giang có 18 loài BS, 33 loài LC [47], năm 2009 đã xác định ớ Hà Giang có 73 loài LC,
BS, trong đó có 41 loài LC và 32 loài BS [46].
Raoul H. Bain và đtg, 2004 công bố ở Hà Giang có 36 loài LC, 16 loài BS; so với
nghiên cứu năm 2004 nói trên của Đặng Huy Phương bổ sung thêm 14 loài LC, 8 loài
BS; trong đó mô tả 2 loài mới Rana iriodes và Rana tabaca, đưa ra ghi nhận vùng mới
của 8 loài và phân loài ở Hà Giang và phía đông sông Hồng [71].
Phạm Nhật và đtg (2004) thống kê được 69 loài ớ Ba Bể- Na Hang (dự án PARC) [44].
Wolfgang Böhme và đtg (2005) đã mô tả một loài cá cóc mới cho khoa học
Tylototriton vietnamensis (Urodela: Salamandridae) ở vùng đất thấp Lục Nam (Bắc
Giang), Cao Bằng, Nghệ An đôi lúc xuất hiện trên thị trường buôn bán sinh vật cảnh từ
miền Bắc Việt Nam nhưng chưa từng được mô tả [72].
Trần Thanh Tùng và đtg thống kê ở vùng núi Yên Tử thuộc Bắc Giang có 101 loài
1 bộ), bổ sung cho các kết quả trước đó 11 loài LC và 6 loài BS, nâng tổng số loài LC,
BS xác định được lên thành 94 loài (40 loài LC, 54 loài BS). Nghiên cứu năm 2013 này
cũng mở rộng vùng phân bố của loài cóc mày Leptolalax firthi lần đầu tiên được phát
hiện trong rừng thường xanh trên núi ở Kon Tum và Quảng Nam năm 2012 của Jodi J.
L. Rowley và đtg [55 ], [85].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
13
Vũ Tiến Thịnh (2013) xác định được 11 loài BS quý hiếm ở KBT loài và SC Nam
Xuân Lạc (Bắc Kạn) gồm: Tắc kè Gekko gecko, Kỳ đà hoa Varanus salvator, Rắn ráo
thường Ptyas korros, Rắn hổ mang Naja atra, Rắn cạp nong Bungarus fasciatus, Rắn
cạp nia bắc Bungarus multicinctus, Rùa đất spengle Geoemyda spengleri và đặc biệt
quý hiếm là Trăn đất Python molorus, Rắn hổ mang chúa Ophiophagus hannah, Rùa
đầu to Platystemon megacephalum, Rùa sa nhân Cuora mouhoti [66].
Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Hữu Thắng (2013) đã khảo sát và tổng hợp tài liệu,
xác định ở khu vực Phia Oắc- Phia Đén (Cao Bằng) có 32 loài LC và 49 loài BS, trong
đó có 14 loài LC, BS quý hiếm [18].
Tóm lại, các tỉnh trong vùng Đông Bắc đều đã được khảo sát về thành phần loài
LC, BS với một loạt các ghi nhận mới về loài và khu phân bố loài qua các năm, tuy một
số tỉnh còn ít được điều tra như Yên Bái, Quảng Ninh. Trong cuốn "Herpetofauna of
Vietnam" (2009) đã thống kê ở 11 tỉnh Đông Bắc có 110 loài LC và 161 loài BS đã
được mô tả (không tính 3 loài LC, 13 loài BS ở Tam Đảo nhưng không đề cập cụ thể có
ở 11 tỉnh nêu trên), trong đó Thái Nguyên có 13 loài LC và 51 loài BS. Trong một bài
báo bổ sung cho cuốn sách này, Thomas Ziegler và đtg (2010) đã thống kê ở vùng
Đông Bắc có thêm 2 loài LC mới cho khoa học Odorrana geminata (Bain et al., 2009),
Theloderma lateriticum (Bain et al., 2009); 4 loài BS mới Protobothrops trungkhanhensis
(Orlov et al., 2009), Gekko canhi (Rösler et al., 2010), Scincella apraefrontalis
(Nguyen et al., 2010), Tropidophorus boehmei (Nguyen et al., 2010) được mô tả (trong
tổng số 566 loài của cả nước) và đề cập ghi nhận quốc gia mới của 1 loài LC
(Leptobrachium promustache), 2 loài BS (Scincella monticola và Amphiesmoides
Hoàng Văn Ngọc và đtg (2009). Hình thái và tiếng kêu của loài Cóc mắt bên Xenophrys
major (Boulenger, 1908) ở VQG Tam Đảo của Nguyễn Thị Thanh Hương và đtg
(2013) [19]. Thử nghiệm nuôi, cho giao phối và sinh sản thành công ở thằn lằn cá sấu
(mẫu ở KBTTN Tây Yên Tử) của Trần Đại Thắng và đtg (2013)[65].
Các đề tài về kí sinh trùng trên LC, BS cũng mới được quan tâm trong những năm
gần đây là cơ sở cho công tác phòng chống, giảm thiểu bệnh tật trên LC, BS chăn nuôi
và phòng bệnh truyền nhiễm ở người: Nguyễn Thị Lê và đtg nghiên cứu định loại được
12 loài kí sinh ở thạch sùng đuôi sần, 5 loài ở thằn lằn bóng đuôi dài tại Hà Nội, Yên
Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn (2005) [28]; sau đó tổng hợp tỉ lệ nhiễm và danh sách loài
sán lá gồm 21 loài kí sinh (KS) trên 9 loài LC và 28 loài KS trên 15 loài BS ở các tỉnh
phía bắc, trong đó vùng Đông Bắc có 15 loài KS trên LC và 27 loài KS trên BS, đồng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
15
thời 3 loài sán lá được mô tả là loài mới cho khoa học: Batrachotrema vietmamensis,
Pleurogenes longivitellaris Singhiatrema vietnamensis (2009) [29]. Định loại được 4
loài sán dây thuộc giống Oochoristica kí sinh ở thạch sùng đuôi sần Hemidactylus
frenatus của Trần Thị Bính và đtg (2005)[4]. Phát hiện tỉ lệ nhiễm giun tròn
(Nematoda) khá cao ở ở một số loài ếch nhái tại Vườn quốc gia Tam Đảo và Xuân Sơn
(VD: chẫu 85%, cóc nhà 75%, ngóe 70%) và mô tả 2 loài kí sinh mới Aplectana
asiatica, Amplicaecum brumpti cho khu hệ giun tròn Việt Nam của Nguyễn Văn Đức
và đtg (2005) [16]. Lần đầu tiên phát hiện, mô tả 2 loài sán lá đơn chủ kí sinh trên ba ba
trơn và rùa núi vàng ở Việt Nam, trong đó có một loài Polystomoides nghi ngờ là loài
mới cho khoa học của Phạm Ngọc Doanh (2007) [12]. Phát hiện, mô tả 3 loài giun tròn
kí sinh ở thạch sùng đuôi sần và 3 loài giun tròn ở thằn lằn bóng đuôi dài, trong đó mỗi
loài thằn lằn có 1 loài kí sinh Physaloptera nghi ngờ là loài mới của Nguyễn Thị Minh
và đtg (2007) [30]. Bài báo tổng hợp xác định tỉ lệ nhiễm và danh sách 45 loài giun tròn
và 4 loài giun đầu gai kí sinh trên 16 loài bò sát phổ biến ở Việt Nam, trong đó mô tả 3
loài giun tròn mới bổ sung cho khoa học: Pharyngodon duci, Spauligodon vietnamenis
và Thelandros vietnamenis của Bùi Thị Dung và đtg (2009) [13].
Ngoài những hướng trên, còn có các nghiên cứu về ứng dụng LC, BS trong y học:
Năm 1891, Albert Calmette nghiên cứu và chế tạo huyết thanh từ Rắn hổ mang đề phát
triển vaccine thích hợp trong môi trường nhiệt đới ớ Viện Pasteur tại Sài Gòn [83],
Trần Kiên, Nguyễn Quốc Thắng (1980) mô tà 31 loài rắn độc Việt Nam và hướng dẫn
cách điều trị và phòng tránh rắn độc cắn [21]. Nguyễn Hữu Đảng (2004) thống kê một
số loài cóc, ếch, ba ba, đồi mồi dùng làm thuốc [15].
1.2. Tình hình nghiên cứu LC, BS ở khu vực nghiên cứu
Năm 1962, Đào Văn Tiến khảo sát ở Đình Cả đã công bố 2 loài: Trăn đất (Python
molurus) và Ba ba gai (Trionyx steindachaneri).
Năm 2005, Lê Nguyên Ngật, Đoàn Văn Kiên và Hoàng Văn Ngọc nghiên cứu
thành phần loài LC, BS khu vực Thần Sa- Phượng Hoàng (phạm vi 2 xã Phú Thượng và
Thần Sa) lần đầu tiên đưa ra danh sách 31 loài LC, BS cho khu vực này gồm 7 loài LC
và 24 loài BS (6 loài thằn lằn, 13 loài rắn, 5 loài rùa), trong đó có 16 loài LC, BS quý
hiếm [33].
Báo cáo của BQL KBTTN Thần Sa- Phượng Hoàng gứi Phòng bảo tồn thiên
nhiên (Cục bảo vệ môi trường) (2008) đề cập khu hệ LC, BS ở KBTTN gồm 47 loài
thuộc 13 họ, 3 bộ [1].
Đỗ Tước, Đặng Thanh Long (2009) trong dự án xác lập lại KBTTN này ghi nhận
ở Thần Sa- Phượng Hoàng có 11 loài LC, 28 loài BS, trong đó có 11 loài BS ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam 2007, 6 loài BS trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP, chưa ghi nhận
loài LC quý hiếm hay đặc hữu nào [10].
Như vậy đến năm 2009, qua danh sách thành phần loài của các tài liệu đã ghi nhận
được xác thực bằng công tác thực địa, phân tích mẫu vật; KVNC có 49 loài LC, BS,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
17
gồm 13 loài LC, 36 loài BS. Những công bố trên chủ yếu là lập danh sách loài, xác định
những loài quý hiếm làm cơ sở cho việc xây dựng KBTTN. Những nghiên cứu về thành
phần loài, hình thái, phân bố và các nhân tố đe dọa đến các loài LC và BS vẫn chưa thật
đầy đủ, cần bổ sung thêm qua công tác thực địa.
thành đĩa kiểu giác bám, có tuyến dính, có sụn trung gian giữa 2 đốt đầu tiên của ngón
chân giúp chúng bám chặt vào cây, lá. Một số loài có màng da rộng giữa các ngón chân
trước và chân sau, có tác dụng như một chiếc ô đỡ khi chúng nhảy từ cành này sang
cành khác hoặc từ cây xuống mặt đất.
1.3.2 Đặc điểm các nhóm sinh thái của BS phân theo nơi ở
BS có thể sống ở nước, trong hang, trên mặt đất, trên cây và vùng cát, sa mạc khô
nóng. Tuy nhiên, ứng với mỗi loại môi trường chỉ có một số loài sinh sống. Mỗi loài BS
chỉ có thể tồn tại trong những điều kiện nhất định của môi trường. Tùy theo nơi ở và
cách di chuyển, người ta chia BS thành 4 nhóm sinh thái [32]:
- Nhóm sống trên mặt đất: phần lớn BS có những đặc điểm thích nghi với việc di
chuyển và sống trên mặt đất như thân thuôn dài, chân khỏe và cân đối, đuôi dài và nhỏ
giúp chúng chạy nhanh trên mặt đất (các nhóm thằn lằn Lacerta, Amaga, Eumeces,
Eremias, Mabuya). BS chạy nhanh trên mặt đất nhờ giảm được ma sát bằng cách thu
nhỏ diện tích cơ thể tiếp xúc với đất, điều chỉnh khối lượng cơ thể đều trên 4 chân, bàn
chân hướng ra ngoài và hướng về phía trước, đầu gối ép sát thân, cơ thể dựa lên phần
trong của bàn chân nhiều hơn so với phần ngoài. Do vậy, một số loài có ngón ngoài tiêu
giảm. BS thuộc đại Trung sinh có xu hướng chạy bằng 2 chi sau thì có 2 chi trước nhỏ
hoặc tiêu giảm. BS thuộc bộ Có vảy sống ở vùng cây cỏ rậm rạp có chi tiêu giảm hoặc
có kích thước nhỏ bé, số ngón giảm, một số thiếu hẳn chi (như Thằn lằn rắn
(Anguidae), Thằn lằn giun (Dibamidae) và rõ ràng nhất là Rắn (Serpentes), tuy một số
loài rắn còn di tích của chi sau).
Các loài thằn lằn chạy nhanh như rồng đất, nhông xanh thường có chi khỏe, đuôi
dài vừa phải. Khi gặp nguy hiểm, rồng đất chạy bằng cách tựa 2 chi sau vào đuôi để giữ
thăng bằng, 2 chi trước áp sát vào thân. Một vài loài BS nhảy bằng cách duỗi đồng thời
2 chi sau hất thân lên khỏi mặt đất.
Các loài rùa sống hoàn toàn trên cạn (rùa núi vàng, rùa núi viền) có mai cứng,
chân hình trụ phủ vảy lớn, bàn chân chắc và khỏe, không có màng da nối các ngón.
- Sống ở trên cây: Để leo nhanh lên cây, nhiều loài nhông, thằn lằn có chi khỏe,
ngón dài, có vuốt sắc giúp chúng bám chắc vào thân và cành cây. Tắc kè hoa có đuôi
20
Chƣơng 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lí, giới hạn
KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng được thành lập theo Quyết đinh số 3841/QĐ-UB
ngày 01/12/1999 [10], được xác lập lại theo Quyết định số 1604/QĐ-UBND, ngày
8/7/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên [2] nhằm phù hợp với quy chế quản lí rừng.
KBTTN này nằm ở phía bắc của huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên 40 km
về phía Đông Bẳc, có toạ độ địa lý: từ 21
o
45
'
12
''
đến 21
o
56
'
30
''
Bắc, từ 105
o
51
'
05" đến
106
o
08'38" Đông. Phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Phía Đông giáp
huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Phía Bắc giáp huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn. Phía Nam
giáp các xã còn lại cùa huyện Võ Nhai (Cúc Đường, La Hiên, Lâu Thượng ) [2].
với phần núi đá vôi tuổi Carbon- Permi phía nam cánh cung Bắc Sơn, trong đó một số
đỉnh núi dốc như Khao Keo (829m), Đình Cả (775m) [87]. Xen kẽ có những đồi đất
hình bát úp hoặc các sông, khe suối.
- Vùng thấp, gồm xã Phú Thượng và thị trấn Đình Cả; với địa hình thung lũng
tương đối bằng phẳng chạy dọc theo quốc lộ 1B, phía nam là một số khối karst thấp (độ
cao tuyệt đối trên 400m) [87] và đồi bát úp.
Như vậy, sự chênh lệch đai độ cao trong KVNC không quá lớn nên sự phân hóa
động vật theo đai độ cao không rõ nét. Tuy nhiên, một số núi có địa hình hiểm trở có thể
trở thành địa điểm lí tưởng trong việc bảo tồn loài đặc hữu hoặc quý hiếm.
2.2.2 Địa chất, khoáng sản
Địa tầng [64] cổ nhất ở khu vực là hệ tầng Thần Sa. Hệ tầng này phân bố ở hai
vùng, làm thành nhân của phức nếp lồi Bắc Thái- Hạ Lang. Mặt cắt chuẩn
(Lectotratotyp) của hệ tầng này dựa theo nhánh suối cạn phía bắc Bản Chấu (xã Sảng
Mộc), vùng Thần Sa, Thái Nguyên (x = 21
o
49’, y= 105
o
57’). Hệ tầng này chủ yếu gồm
trầm tích lục nguyên ít nhiều có dạng nhịp, có lẫn carbonat và xen ít lớp cát kết hạt nhỏ,
đặc trưng cho khu vực Đông Bắc Việt Nam (Bắc Thái, Cao Bằng) chứa Bọ ba thùy mà
Phạm Kim Ngân gọi là hệ động vật Thần Sa để phân biệt với hệ động vật Chang Pung
cùng tuổi. Phần lớn hoá thạch Bọ ba thùy của hệ tầng Thần Sa không thuộc nhóm bám
đáy, kích thước nhỏ của bộ Miomera, điều này cùng với thành phần đá lục nguyên hạt
mịn chứng tỏ hệ tầng Thần Sa thuộc tướng biển sâu hơn so với hệ tầng Chang Phung.
Tại Thái Nguyên và Bắc Kạn, hệ tầng này phân bố ở tây nam Na Rì (Bắc Kạn) qua suối
Mỏ Đồng, Bản Rịa, Sảng Mộc, Khuổi Mèo (xóm Khuổi Mèo, xã Sảng Mộc) thành một
dải gần liên tục và ở thung lũng Thần Sa, Bồ Cu (Thái Nguyên). Tại Cao Bằng hệ tầng
lộ chủ yếu ở nếp lồi Bồng Sơn, ở Trà Lĩnh, Phục Hoà. Hệ tầng có thể được chia thành 2
phần dựa trên thành phần đá và hóa thạch: