Nghiên cứu kiến thức bản địa gây trồng và phát triển nguồn lâm sản ngoài gỗ tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa, Phượng Hoàng tỉnh Thái Nguyên - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ ĐỨC SƠN

NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA GÂY TRỒNG
VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LÂM SẢN NGOÀI GỖ
TẠI VÙNG ĐỆM KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
THẦN SA - PHƯỢNG HOÀNG TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. ĐẶNG KIM VUI
năm 2010 - 2012.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ quý báu
của phòng quản lý đào tạo, các thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên; Ban quản lý Khu bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng; Lãnh đạo
và đồng nghiệp đội kiểm lâm cơ động phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh Thái
Nguyên, nhân dịp này, tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Đặng Kim
Vui - Người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều tình cảm tốt đẹp và trực tiếp hướng
dẫn khoa học giúp tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới UBND huyện Võ Nhai, UBND 4 xã Thần Sa,
Thượng Nung, Nghinh Tường, Sảng Mộc, Ban quản lý Khu bảo tồn Thiên nhiên
Thần Sa – Phượng Hoàng, tập thể hội LSNG và các hộ gia đình các xã Thần Sa,
Thượng Nung, Nghinh Tường, Sảng Mộc… đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả
trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
dành nhiều tình cảm động viên, cổ vũ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả
Hà Đức Sơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iiiMỤC LỤC
Trang


iv

2.4.2.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô
hình gây trồng cây LSNG 32
2.4.2.4. Phương pháp đánh giá các biện pháp kỹ thuật gây trồng một số
loài cây LSNG có giá trị kinh tế 33
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 34
3.1. Điều kiện tự nhiên 34
3.1.1. Vị trí địa lý 34
3.1.2. Đặc điểm địa hình 34
3.1.3. Điều kiện thổ nhưỡng 35
3.1.4. Đặc điểm khí hậu 35
3.1.5. Chế độ thuỷ văn 36
3.1.6. Tài nguyên thực vật 36
3.1.7. Tài nguyên động vật 36
3.2. Điều kiện kinh tế xã hội 37
3.2.1. Dân số, lao động và việc làm 37
3.2.2. Đặc điểm kinh tế 38
3.2.3. Tình hình sản xuất kinh doanh 39
3.2.3.1. Hiện trạng sử dụng đất nông - lâm nghiệp khu vực nghiên cứu 39
3.2.3.2. Sản xuất nông nghiệp 39
3.2.3.3. Sản xuất lâm nghiệp 39
3.2.3.4. Canh tác vườn hộ 39
3.2.3.5. Chăn nuôi 40
3.2.4. Cơ sở hạ tầng 41
3.2.4.1. Hệ thống giao thông 41
3.2.4.2. Thuỷ lợi 41
3.2.4.3. Hệ thống điện 41

4.2.1. Hiệu quả kinh tế của một số mô hình 63
4.2.1.1. Mô hình Ba kích dưới tán rừng (Morinda officinalis How) 63
4.2.1.2. Mô hình gây trồng Bình Vôi (Stephania glabra (Roxb)) 64
4.2.1.3. Mô hình Rau sắng (Melientha acuminata) 65
4.2.1.4. Mô hình Mây nếp (Calamus tetradatylus Hance) 66
4.2.2. Hiệu quả xã hội của các mô hình gây trồng cây LSNG 67
4.2.3. Hiệu quả môi trường của các mô hình gây trồng cây LSNG 68
4.2.3.1. Hiệu quả theo hướng tích cực 68
4.2.3.2. Hiệu quả theo hướng tiêu cực 68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi

4.3. Tổng kết, đánh giá các kỹ thuật bản địa trong gây trồng một số loài
cây LSNG có giá trị kinh tế 68
4.3.1. Cây Ba kích (Morinda officinalis How) 69
4.3.2. Cây rau Sắng (Melientha acuminata) 70
4.3.3. Bình vôi (Stephania glabra (Roxb)) 72
4.3.4. Mây nếp (Calamus tetradatylus Hance) 74
4.3.5. Cây Trám đen (Canarium tramdenum) 76
4.4. Nghiên cứu kiến thức bản địa liên quan tới khai thác, sử dụng và
phát triển lâm sản ngoài gỗ 77
4.4.1. Các quy ước về khai thác, sử dụng và phát triển lâm sản ngoài gỗ 77
4.4.2. Kiến thức, kinh nghiệm trồng một số loài LSNG có giá trị cao 78
4.4.3. Kinh nghiệm khai thác, sử dụng một số loài lâm sản ngoài gỗ 81
4.4.4. Đánh giá chung về kiến thức bản địa của người dân 85
4.5. Đề xuất các giải pháp phát triển một số loài cây LSNG có giá trị cao
tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng 87
4.5.1.Giải pháp về chính sách 87
4.5.2. Giải pháp kỹ thuật 88

NN Nông nghiệp
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
FAO Tổ chức nông lương Liên Hiệp quốc
NTFP Non timber forest products
NWFP Non wood forest products
RAA Điều tra nhanh nông thôn
PRA Đánh giá nhanh nông thôn có s
ự tham gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1. Dân số và lao động khu vực nghiên cứu 37
Bảng 3.2. Thống kê các loại cây trồng ăn quả 40
Bảng 3.3. Thống kê các loại gia súc gia cầm ở 4 xã 41
Bảng 3.4. Mạng lưới nhân viên y tế 42
Bảng 3.5. Hiện trạng giáo dục 43
Bảng4.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại khu vực nghiên cứu 47
Bảng4.2. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của 4 xã Thần Sa, Thượng Nung,
Nghinh Tường và Sảng Mộc năm 2012 48
Bảng 4.3. Các loài cây LSNG giá trị kinh tế được gây trồng ở 4 xã thuộc khu
vực nghiên cứu 50
Bảng 4.4. Các loài LSNG phân theo công dụng được gây trồng ở 4 xã thuộc
khu vực nghiên cứu 51
Bảng 4.5. Thống kê chi tiết diện tích gây trồng 1 số loài cây LSNG của 4 xã
thuộc khu vực nghiên cứu, năm 2012 52
Bảng4.6. Sản lượng khai thác một số loài LSNG chủ yếu tại 4 xã vùng đệm

độ chóng mặt, mà còn bởi sự thiếu hụt khả năng và điều kiện cần thiết để ghi nhận,
đánh giá, phê chuẩn, bảo vệ, phổ biến chúng ở các quốc gia.
Thực tế đã cho thấy rằng, tại các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng
nếu kết hợp hài hoà giữa kiến thức bản địa và kỹ thuật mới sẽ đưa đến một sự phát
triển có hiệu quả và bền vững, được cộng đồng hưởng ứng tích cực. Vì vậy, việc
tìm hiểu, lưu giữ và phát triển kiến thức bản địa của người dân có tầm quan trọng
đặc biệt đối với phát triển kinh tế - xã hội, môi trường vùng miền núi. Việc hiểu biết
kiến thức bản địa là nền tảng của các phương pháp phát triển có sự tham gia của
người dân. Chúng ta mới có thể nhận thấy được tiềm năng của kiến thức bản địa
trong phát triển.
Khu bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng được thành lập ngày 01
tháng 12 năm 1999 với diện tích là 11.280 ha theo Quyết định số 3841/QĐ-UB của
Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Khu bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa - Phượng
Hoàng thuộc địa bàn hành chính huyện Võ Nhai, cách thành phố Thái Nguyên
khoảng 40 km về phía Bắc. Năm 2006, thực hiện Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày
5 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát 3 loại rừng, Khu bảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2

tồn Thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng được quy hoạch theo ranh giới mới trên
địa bàn 6 xã và 1 thị trấn gồm: Thần Sa, Sảng Mộc, Thượng Nung, Nghinh Tường,
Vũ Chấn, Phú Thượng, Đình Cả, với tổng diện tích tự nhiên là 18.858,9 ha và đã
được Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên phê duyệt tại Quyết định số 1563/QĐ-UB
ngày 08 tháng 8 năm 2007. Trong khu vực Khu bảo tồn Thiên nhiên Thần Sa -
Phượng Hoàng các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ (LSNG) tạo ra một nguồn sinh kế
và thu nhập quan trọng cho người dân địa phương, cung cấp cho người dân như: Tre,
nứa, dược liệu và thực phẩm. LSNG là nguồn cung cấp thực phấm: Rau, củ, quả,
mộc nhĩ, nấm, hoa Những dược phẩm như: cây thuốc quý chữa bệnh ba kích,
bình vôi cần được bảo vệ và phát triển hơn nữa. LSNG còn giá trị về mặt kinh tế,

việc đánh đồng truyền thống với các kiến thức riêng biệt của một người, bởi vì từ
‘truyền thống’ bị gắn với một số hàm ý từ thế kỷ 19 là ‘đơn giản, mông muội và trì trệ’.
Warren (1991), khái niệm kiến thức bản địa hay địa phương được sử dụng để
phân biệt các kiến thức do một cộng đồng nhất định sáng tạo ra, nó khác hệ thống
kiến thức hoặc khoa học quốc tế. Về sau này đôi khi người ta nói đến hệ thống kiến
thức ‘Phương Tây’ do các trường đại học, trung tâm nghiên cứu của chính phủ và
doanh nghiệp tư nhân sáng tạo ra. Kiến thức bản địa có thể là hiểu biết ‘kỹ thuật’
sâu sắc hoặc sự thông thái do người dân ở một vùng nhất định sáng tạo và phát triển,
thông qua nhiều năm quan sát, khảo nghiệm các hiện tượng tự nhiên xung quanh họ.
Người ta phân biệt hệ thống kiến thức phương Tây với hệ thống kiến thức
bản địa trên cơ sở phương pháp, biểu hiện tồn tại và bối cảnh. Trước tiên, hệ thống
kiến thức phương Tây là chung cho toàn thế giới, do nền giáo dục phương Tây ảnh
hưởng tới rất nhiều văn hoá trên thế giới. Thứ hai, nó được trải qua quá trình quan
sát, khảo nghiệm và phê chuẩn, tất cả các giai đoạn đều được ghi thành tư liệu cẩn
thận. Điều này không có được đối với hệ thống kiến thức bản địa, nhất là khâu ghi
chép thành tư liệu.
Thuật ngữ "kiến thức chính thống" (formal knowledge) dùng để chỉ những
hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phương
Tây. Đó là những kiến thức chuẩn vì nó được xác nhận trong những văn kiện,
những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4

Ngược lại, khái niệm kiến thức bản địa hay kiến thức địa phương dùng để chỉ
những thành phần kiến thức hoàn thiện được duy trì, phát triển trong một thời gian
dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên.
Kiến thức bản địa là những kinh nghiệm được thử thách và đúc rút qua nhiều thế hệ
ở các cộng đồng cư dân qua thực tiễn sản xuất và đời sống. Trải qua nhiều thế kỷ,
các cộng đồng dân cư đã tích góp được lượng lớn các thông tin, các kỹ năng, tay

nghiệm và được thể hiện dưới nhiều thể loại:
Ở dạng kinh nghiệm thực tế và công nghệ: Những kinh nghiệm thực tế mang
tính bản địa cũng rất phong phú, đa dạng. Những kinh nghiệm này trải qua nhiều
năm bổ sung, cải tiến và hoàn thiện phản ánh đầy đủ nội dung của một công nghệ. ở
Tuyên Hóa, Quảng Bình, nông dân thường dùng lá xoan khô đưa vào trong chậu vại
cùng với đậu xanh, đậu đen, ngô để bảo quản. Nông dân ở một số nơi ngâm bồ hóng
có thêm vôi, lá xoan, bã trầu, nước điếu lấy nước này phun phòng chống sâu hại,
sâu bị chết nhưng không gây ô nhiễm môi trường. ở Quảng Bình, nông dân thường
lấy bồ hóng trộn với phân gà và vãi vào ruộng lúc buổi sáng có tác dụng rất tốt để
diệt sâu hại. Cách làm ruộng bậc thang san đất hay xếp đá. Phương thức này rất phổ
biến ở vùng cao của các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang
Ở dạng tín ngưỡng: Tín ngưỡng có thể giữ vai trò quan trọng trong phương
thức kiếm sống và duy trì môi trường sinh thái trong lành ở nhiều cộng đồng các
dân tộc. Rừng thần thánh, rừng linh thiêng là những loại rừng dùng để bảo vệ, xuất
phát từ những nguyên nhân về tín ngưỡng. Trong thực tế, những khu rừng này làm
nhiệm vụ của rừng đầu nguồn, cung cấp gỗ củi, sản phẩm rừng và nước cho làng bản.
Ở dạng thí nghiệm: Đó là sự gieo trồng có tính tích hợp những giống loài
cây mới vào trong các hệ thống nông nghiệp hiện hành dưới dạng trồng xen,
trồng cây che bóng; băng xanh chống xói mòn, hàng cây chắn gió Đó là những
thay đổi và biến thể trong thực tiễn gieo trồng, nhưng dạng này nhiều khi đã trở
thành những câu ca dao, tục ngữ để dễ truyền đạt cho các thế hệ.
Ở dạng công cụ: Công cụ thường sử dụng để gieo trồng hoặc thu hoạch.
Những công cụ do người H'Mông sáng tạo như "cày Mèo" rất phù hợp cho việc
canh tác trên đất dốc, "dao Mèo" tự chế sắc bén đa dụng hơn bất cứ loại dao nào
Ở dạng thông tin: Một vài ví dụ điển hình của dạng này là: Những cây nào,
thực vật nào có thể trồng cùng với nhau. Đó phải chăng là cây muồng trồng trong
nương chè để che bóng; cây keo dậu trồng che bóng cho cây cà phê; cây đậu đỗ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7

triển. Tuy nhiên, trên thực tế những cố gắng nhằm giải quyết tình trạng đói nghèo
cho thấy những dự án hỗ trợ phát triển thường xuyên thất bại. Tồi tệ hơn là đôi khi
chúng gây ảnh hưởng bất lợi đến sinh kế của người dân. Giải pháp theo phương
pháp của phương Tây đã được áp dụng ngay cả trong những trường hợp mà những
kiến thức bản địa có thể giải quyết được tốt hơn, nhưng lại không được lựa chọn vì
một lí do nào đó [52].
Mặc dù đã chứng tỏ được giá trị trong nhiều trường hợp, song kiến thức
bản địa không thể - hay không nên - được quảng bá khi chưa được xem xét một
cách thận trọng. Không phải tất cả các kiến thức bản địa đều đưa ra được những
giải pháp bền vững cho những vấn đề phát sinh ngày nay. Thêm vào đó, hầu hết
các giải pháp mang tính địa phương đều rất đặc trưng cho từng bối cảnh.
Cần tiến hành nhiều nghiên cứu hơn nữa và phát triển các phương pháp xử lý
đối với hệ thống kiến thức bản địa. Có như vậy chúng ta mới có thể dùng kiến thức
bản địa để đưa ra được giải pháp cụ thể cho từng vấn đề thông qua việc nâng cấp
hoặc thay đổi những hệ thống kiến thức này. Việc nghiên cứu cần tiến hành với sự
tham gia của những người sở hữu kiến thức bản địa và cộng đồng địa phương trong
khu vực.
1.1.2. Tầm quan trọng của kiến thức bản địa
Kiến thức bản địa đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giải
quyết các vấn đề của địa phương. Trong những năm gần đây, các nước đang phát
triển cung cấp ngày càng nhiều thông tin về vai trò của kiến thức bản địa trong
nhiều lĩnh vực tại các quốc gia phía Nam bán cầu như: nông nghiệp (kỹ thuật xen
canh, chăn nuôi, quản lý sâu bệnh, đa dạng cây trồng, chăm sóc sức khoẻ vật nuôi,
chọn giống cây trồng); sinh học (thực vật học, kỹ thuật nuôi cá); chăm sóc sức khoẻ
con người (bằng các phương thuốc truyền thống); sử dụng và quản lý tài nguyên thiên
nhiên (bảo vệ đất, thuỷ lợi và các hình thức quản lý nước khác); giáo dục (kiến thức

Sự quan tâm ngày càng lớn đến kiến thức bản địa được thể hiện rõ trong
những báo cáo của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở nhiều quốc gia. Các tổ
chức này cũng như các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Lao
động Thế giới, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc
(UNESCO) và Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) đều thừa nhận rõ ràng về
những đóng góp của kiến thức bản địa trong phát triển bền vững. Kết quả là một số
chính phủ của các quốc gia như Uganda, Nam Phi và Philippin cũng thể hiện sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9

quan tâm ngày càng lớn đến kiến thức bản địa trong các chính sách và chương trình
của mình [52].
Chúng ta có thể kết luận rằng những đánh giá về kiến thức bản địa ngày càng
đúng đắn. Kiến thức bản địa đã được chấp nhận, được thích nghi và được ứng dụng
trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, sinh thái của địa phương tại nhiều quốc gia
trên thế giới.
Bất luận trong hoàn cảnh nào, kể cả khi hệ thống kiến thức này được công
nhận hay không, thì việc thử nghiệm và chứng minh trong điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội, sinh thái của địa phương vẫn nổi trội hơn so với các quan điểm bên ngoài.
Khẳng định sử dụng các kiến thức công nghệ bản địa bắt nguồn từ khái niệm của
Ogburn (1950) về ‘văn hoá chậm trễ’. Điều này khẳng định rõ rằng sự thay đổi văn
hoá phi vật thể (ý tưởng và tổ chức xã hội) luôn luôn chậm hơn so với văn hoá vật
chất (công nghệ và phát minh). Mặc dù có mức độ chấp nhận hiện đại nhất định,
người dân địa phương vẫn muốn duy trì kiến thức cụ thể của họ theo không gian và
thời gian, và những yếu tố phù hợp với các mục đích nhất định của họ. Đối với
những người sống trên cơ sở truyền thống và phong tục tập quán, thay đổi sẽ chứa
đựng rủi ro; họ tin tưởng những gì đã được thử nghiệm, kiểm tra với truyền thống
lâu đời (Landis 1940).
1.2. Một số khái niệm có liên quan

dụng rộng rãi hiện nay như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm rừng không phải
là gỗ Hầu hết mọi người đều có cùng quan điểm coi các khái niệm trên là đồng
nhất, để chỉ các sản phẩm của rừng không phải là gỗ như: động vật rừng, các cây
dược liệu, các sản phẩm từ cây rừng không phải là gỗ, các sản phẩm phụ từ khai
thác gỗ (cành, lá, gốc, rễ ).
Có nhiều tài liệu viết về lâm sản ngoài gỗ, nhưng chỉ ở những phạm vi hẹp
của một loài hoặc một nhóm loài nhất định. Nhưng chưa có một công trình nào đưa
ra được một khái niệm chính xác về lâm sản ngoài gỗ này.
+ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ được đề cập chính thức vào năm 1989 do
W.W.F. Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh
học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người. Bao
gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ
nhỏ và sợi”. (The Economic value of Non-timber Forest products in Southeast asia
- W.W.F - 1989).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11

Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông
dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Lương Nông Liên
Hiệp quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest
products- NTFP, hoặc Non wood forest products- NWFP) bao gồm những sản
phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây
gỗ ở ngoài rừng”.
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được
khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người.
Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu,
nhựa sáp, nhựa dính, nhựa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre
nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi
Phân loại lâm sản ngoài gỗ

dụng với mục tiêu kinh tế (Lê Trọng Cúc, 1989).
Hệ động vật cũng rất đa dạng, hiện nay đã phát hiện được 273 loài thú, 773
loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư và nhiều loài động vật không xương sống
khác (Võ Quý, 1992). Hầu như sự đa dạng sinh học này tập trung chủ yếu ở vùng đồi
núi. Trước đây, hầu như toàn bộ vùng đồi núi được che phủ bởi một thảm thực vật
nhiệt đới giàu có. năm 1943 có khoảng 50% diện tích rừng che phủ trong cả nước
(Maurand, 1993) hiện nay chỉ còn khoảng 24%.
Rừng bị tàn phá nhiều loại động vật mất nơi sinh sống và cư trú. Mấy năm
gần đây, cộng thêm sự buôn bán động vật phi pháp (qua biên giới) làm cho nhiều
loài trở nên rất hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt, cũng như nhiều loài gỗ quỹ, các loại
cây thuốc bị khai thác quá mức.
Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam rừng nhiệt đới ở địa hình
thấp không còn nguyên vẹn nữa vì phần lớn các khu rừng thấp này đã bị biến đổi do
các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và định cư, làm cho sự giàu có vốn có về
tài nguyên sinh học ở đây đã bị suy thoái nghiêm trọng. Cũng vì thế mà các khu
rừng nguyên vẹn phần lớn chỉ còn sót lại ở các vùng núi cao, những nơi hiểm trở.
Đó là những nơi cư trú cuối cùng của các loài đặc hữu và các loài có nguy cơ bị
tiêu diệt.
Nguyên nhân gây nên sự suy giảm tài nguyên rừng, nhất là lâm sản ngoài gỗ
ở Việt Nam cũng đúng như hầu hết các nước khác trên thế giới: đó là sự mâu thuẫn
giữa cung và cầu. Tài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu cầu của nhân dân thì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13

ngày càng tăng, một mặt là để đáp ứng cuộc sống cho số dân tăng thêm một cách
nhanh chóng, mặt khác là mức độ tiêu dùng của người dân cũng tăng thêm không
ngừng.
Việc nối lại thông thương qua biên giới với Trung Quốc đã gây những sức ép
mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên. Giá của nhiều thú hoang đã tăng lên 5 đến

trị phòng hộ của các khu rừng.
- Phát triển Lâm sản ngoài gỗ là một phương thức làm tăng giá trị kinh tế của
rừng góp phần khôi phục, nâng cao giá trị của các khu rừng nghèo, động viên người
dân địa phương tham gia tích cực hơn vào công cuộc bảo vệ rừng và đa dạng sinh
học, chống lại việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích sử dụng khác. Lâm
sản ngoài gỗ có vai trò quan trọng đối với các cộng đồng dân cư và các hộ dân (nhất
là dân tộc thiểu số) miền núi trong việc đảm bảo an toàn lương thực, chăm sóc sức
khoẻ, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống.
- Việc khai thác LSNG thường ít ảnh hưởng đến cấu trúc tầng cây gỗ và vai
trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng. Tuy nhiên, muốn có LSNG để
khai thác phải bảo vệ hệ sinh thái rừng, vì vậy, khai thác LSNG đúng kỹ thuật cũng
là một biện pháp tích cực bảo vệ rừng.
- Trong những năm gần đây, LSNG đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
người, do nhận thức rõ hơn về LSNG trong sự đóng góp vào kinh tế hộ và an toàn
lương thực, vào nền kinh tế quốc dân, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh
học.
- Các loài lâm sản ngoài gỗ còn có ý nghĩa trong các lĩnh vực đa dạng sinh
học, duy trì tính phong phú của hệ sinh thái rừng.
Lâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị đối với kinh tế, xã hội và môi trường của
đất nước ta:
- Giá trị về mặt kinh tế: Giá trị kinh tế của lâm sản ngoài gỗ được thể hiện
thông qua giá trị sử dụng của chúng. Lâm sản ngoài gỗ được khai thác sử dụng, chế
biến hoặc bán để phục vụ sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập cho người dân. Bao gồm
các lĩnh vực:
• Cung cấp nguyên liệu sản xuất hàng thủ công, mỹ nghệ
• Cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến
• Cung cấp dược liệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16

từ việc phân tích và tổng luận các quan điểm, quan niệm của hàng loạt tác giả trên
thế giới về LSNG, Đề tài hình thành nhận thức về LSNG như sau:
LSNG đã được người dân gây trồng, khai thác sử dụng cách đây hàng nghìn
năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, Nhật Bản,
Ấn Độ, Indonesia,… Theo Mendelsohn (1989) cho rằng hiện nay các nhà khoa học,
các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây
trồng và phát triển LSNG gắn với bảo tồn và phát triển rừng. Đây cũng là mốc đánh
dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó
được coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, vai trò của LSNG trong xã hội, nó được
coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh
lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa góp phần vào quá trình bảo
tồn và phát triển tài nguyên rừng.
Về sự cần thiết phát triển LSNG, các nghiên cứu chỉ ra rằng, hệ sinh thái rừng
ẩm nhiệt đới là một hệ hoàn hảo và đầy đủ với khu hệ động thực vật phong phú và đa
dạng vào bậc nhất trên hành tinh, làm cho nhiều nhà khoa học phải sững sờ và ngỡ
ngàng. Đúng như Van Steenis (1956) đã viết: “Dưới con mắt của những nhà thực vật
học ôn đới, những cây cỏ ở miền nhiệt đới được xem là những kỳ quan, những quái dị,
những sinh vật sai quy cách mà đáng lẽ ra phải xem chúng như là những sinh vật
bình thường, đại diện cho bộ phận to lớn của thế giới thực vật trên trái đất”. Vì vậy,
việc tận dụng triệt để mọi tiềm năng của rừng nhiệt đới ẩm để kinh doanh toàn diện,
lợi dụng tổng hợp, trong đó có kinh doanh và lợi dụng thực vật ngoài gỗ là hết sức
cần thiết.
Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình theo các vấn đề khác nhau.
* Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG
Khi nghiên cứu về “Các loại tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi
tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status