Nghiên cứu kiến thức bản địa trong gây trồng và phát triển nguồn lâm sản ngoài gỗ tại vùng đệm vườn quốc gia Hoàng Liên - Pdf 24



Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN MINH TUẤN NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC BẢN ĐỊA TRONG
GÂY TRỒNG VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
LÂM SẢN NGOÀI GỖ TẠI VÙNG ĐỆM
VƢỜN QUỐC GIA HOÀNG LIÊN Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
TS. ĐÀM VĂN VINH

Thái Nguyên, 2013
i

Pa, Ban quản lý vƣờn Quốc gia Hoàng Liên, Hạt Kiểm lâm Sa Pa, Ban quản lý
rừng phòng hộ và các hộ đã tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
dành nhiều tình cảm động viên, cổ vũ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn
iii

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết 1
2. Mục tiêu 2
2.1. Mục tiêu tổng quát 2

45
2.3.1. Phƣơng pháp tổng quát 45
2.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể 45
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 51
3.1. Kết quả khảo sát các nhóm LSNG chính và định hƣớng phát triển 51
3.1.1. Cây thuốc 51
3.1.2. Măng tre 55
3.1.3. Cây cảnh 57
3.1.4. Cây lấy gỗ đa mục đích và cây ăn quả 59
3.1.5. Các sản phẩm sợi 60
3.2. Đánh giá thực trạng gây trồng và phát triển các loài cây LSNG ở KVNC 62
3.2.1. Thực trạng gây trồng và phát triển một số loài cây LSNG chủ yếu của
KVNC 62
3.2.2. Xác định các loài cây LSNG có giá trị và tiềm năng phát triển tại KVNC 65
3.2.3. Tinh hình khai thác, sử dụng và thị trƣờng tiêu thụ LSNG trên ĐBNC 67
3.3. Đánh giá hiệu quả KT-XH của một số mô hình LSNG có giá trị cao ở ĐBNC 72
3.3.1. Hiệu quả kinh tế của một số mô hình 72
3.3.2. Hiệu quả xã hội của các mô hình gây trồng cây LSNG 77
3.4. Tống kết, đánh giá kỹ thuật bản địa trong gây trồng một số loài cây LSNG có
giá trị kinh tế 77
3.4.1. Cây Thảo quả (Amomum aromaticum Roxb) 77
3.4.2. Cây Hoàng liên ô rô (Mahonia nepalensis DC) 80
v

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
3.4.3. Cây Lan Trần mộng xuân (Cymbidium lowianum) 82
3.5. Nghiên cứu kiến thức bản địa liên quan tới khai thác, sử dụng và phát triển LSNG 87
3.5.1. Các quy ƣớc về khai thác, sử dụng và phát triến lâm sản ngoài gỗ 87
3.5.2. Kiến thức, kinh nghiệm trồng một số loài LSNG có giá trị cao 88
3.5.3. Kinh nghiệm khai thác, sử dụng một số loài LSNG 89

RTN : Rừng tự nhiên
TB-ĐN : Tây Bắc – Đông Nam
TV : Thực vật
VQG : Vƣờn Quốc gia vii

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Hiện trạng dân số và lao động 2 xã năm 2011: 29
Bảng 1.2. Tình hình thu nhập của 2 xã năm 2011: 31
Bảng 1.3. Số hộ nghèo và cận nghèo của 2 xã năm 2011: 32
Bảng 1.4. Một số chỉ tiêu cơ bản của 2 xã năm 2011: 32
Bảng 1.5. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại KVNC: 33
Bảng 1.6. Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp tại KVNC: 34
Bảng 1.7. Diện tích và sản lƣợng một số cây nông nghiệp chủ yếu: 36
Bảng 1.8. Thống kê đàn gia súc, gia cầm tại địa bàn nghiên cứu: 36
Bảng 3.1. Các loài cây LSNG có giá trị kinh tế đƣợc gây trồng ở KVNC: 61
Bảng 3.2. Các loài LSNG phân theo công dụng đƣợc gây trồng ở KVNC: 62

động của nƣớc mƣa xuống mặt đất, ngăn chặn dòng chảy mặt, chống xói mòn
cho đất rừng. Gây trồng LSNG trong rừng là tăng độ che phủ và nâng cao giá trị
phòng hộ của các khu rừng.
LSNG cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với các cộng đồng dân cƣ miền
núi (đặc biệt là ngƣời dân tộc thiểu số) trong việc đảm bảo an toàn lƣơng thực,
chăm sóc sức khỏe, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống.
Trong những năm gần đây, vai trò quan trọng của ngƣời dân cùng với kiến
thức bản địa của họ trong quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng
đƣợc thừa nhận nhiều hơn. Kiến thức bản địa đƣợc coi là hệ thống kiến thức của
một cộng đồng dân tộc tồn tại và phát triển trong từng hoàn cảnh cụ thể với sự
đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùng địa lý. Trên thế giới,
đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức bản địa trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã
hội. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về kiến thức bản địa cũng đã bắt đầu đƣợc quan
tâm, trong đó có một số liên quan đến lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng. Những
2

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
nghiên cứu này cho thấy kiến thức bản địa là nguồn lực quan trọng đối với bảo
tồn và phát triển.
Để ngƣời dân và cộng đồng địa phƣơng phát triển nguồn LSNG thay vì chỉ
thu hái từ tự nhiên, cần đẩy mạnh các hoạt động sƣu tầm, nghiên cứu các kiến
thức bản địa của ngƣời dân vùng đệm trong gây trồng, phát triển các loài LSNG
phục vụ cuộc sống và nâng cao thu nhập. LSNG đƣợc gây trồng tạo nên một
nguồn thu nhập và nguồn sản phẩm cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các
cộng đồng sinh sống trong và xung quanh rừng.
Hiện nay tại vùng đệm VQG Hoàng Liên, nhiều loài cây LSNG đã và đang
đƣợc ngƣời dân gây trồng. Một số trong những loài đó đã có những thông tin
khoa học về kỹ thuật gây trồng, một số khác đƣợc phát triển trên cơ sở các kiến
thức bản địa. Thực tế chƣa có một nghiên cứu đánh giá, lựa chọn và phố biến các
kiến thức bản địa có giá trị trong gây trồng một số loài LSNG tại đây. Xuất phát

tác ít, sản xuất chƣa phát triến, thiếu công ăn việc làm, trình độ dân trí thấp đã tạo
nên một sức ép rất lớn vào VQG Hoàng Liên. Trƣớc những khó khăn về đời
sống, nhiều ngƣời dân vùng đệm phải sống dựa vào việc khai thác trộm gỗ, củi,
măng, dƣợc liệu, săn bắt động vật hoang dã, lấn chiếm đất rừng làm nƣơng rẫy,
Thực trạng đó đặt ra vấn đề là phải tạo ra nguồn thu nhập dựa vào tiềm năng sẵn
có của khu vực và phù hợp với phong tục tập quán của ngƣời dân địa phƣơng
nhƣ phát triển nguồn LSNG.
Thực tế đã cho thấy rằng, tại các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng
nếu kết hợp hài hòa giữa kiến thức bản địa và kỹ thuật mới sẽ đƣa đến một sự
phát triển có hiệu quả và bền vững, đƣợc cộng đồng hƣởng ứng tích cực. Vì vậy,
việc tìm hiểu, lƣu giữ và phát triển kiến thức bản địa của ngƣời dân có tầm quan
trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế - xã hội - môi trƣờng vùng miền núi. Việc
hiểu biết kiến thức bản địa là nền tảng của các phƣơng pháp phát triển có sự tham
gia của ngƣời dân. Khi những ứng dụng tích cực của kiến thức bản địa trở thành
một phần của nỗ lực phát triển, lấy con ngƣời làm trung tâm, có sự tham gia của
ngƣời dân thì chúng ta mới có thể nhận thấy đƣợc tiềm năng của kiến thức bản
địa trong phát triển.

4

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan tài liệu
1.1.1. Khái quát về kiến thức bản địa và vai trò của kiến thức bản địa
1.1.1.1. Khái quát về kiến thức bản địa
Hiện nay, kiến thức bản địa (Indigenous Knowledge) ngày càng nhận đƣợc
sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức trong nƣớc và
quốc tế. Điều này xuất phát từ tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong đời

vực địa lý cụ thể. Nó đƣợc hình thành trong quá trình sống và lao động của cả
cộng đồng, từ đàn ông, đàn bà, ngƣời lớn tuổi đến trẻ em. Nó đƣợc lƣu giữ bằng
trí nhớ và lƣu truyền bằng miệng” (Trần Công Khánh 2002)[13].
Tóm lại, kiến thức bản địa là tri thức đƣợc hình thành trong quá trình lịch
sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con ngƣời với môi trƣờng và xã hội;
đƣợc lƣu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và
thực hành xã hội. Kiến thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc
sống xã hội nhƣ sản xuất lƣơng thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ và chế biến
thức ăn; thu hái, sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ kiến thức qua
các thế hệ trong giáo dục; bảo vệ, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn tài
nguyên thiên nhiên; tổ chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội, các luật lệ truyền
thống trong làng bản…
Theo Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc [22], trong cuộc sống và trong thực
tiễn sản xuất, chống đỡ và chinh phục tự nhiên, các cộng đồng đều có nhiều kinh
nghiệm và đƣợc thể hiện dƣới nhiều thể loại:
Ở dạng thông tin: Một vài ví dụ điển hình của dạng này là: Những cây nào,
thực vật nào có thể trồng cùng với nhau. Đó phải chăng là câv muồng trồng trong
nƣơng chè để che bóng; cây keo dậu trồng che bóng cho cây cà phê; cây đậu đỗ
trồng xen với nhiều loại cây trồng hoặc cây hành tỉa theo luống cải bắp, mùi của
cây hành có tác dụng hạn chế sâu hại cây bắp cải… Những loài cây nào là phù
họp nhất dùng cho phủ tủ mặt đất chống xói mòn, phải chăng đó là thân cây lạc,
cây đậu đỗ và cây cốt khí. Những thông tin này phần lớn mang tính gợi mở còn
việc cụ thể hóa lại phụ thuộc vào đặc điểm cây trồng và tập quán của từng vùng.
6

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Ở dạng kinh nghiệm thực tế và công nghệ: Những kinh nghiệm thực tế
mang tính bản địa cũng rất phong phú, đa dạng. Những kinh nghiệm này trải qua
nhiều năm bổ sung, cải tiến và hoàn thiện phản ánh đầy đủ nội dung của một
công nghệ, ở Tuyên Hóa, Quảng Bình, nông dân thƣờng dùng lá xoan khô đƣa

Về sinh học: Đó là nhũng kinh nghiệm trong chăn nuôi và chọn giống động
vật. Nếu chúng ta lên miền núi phía Bắc đến với ngƣời H‟mông sẽ thấy “lợn
Mèo” và “chó Mèo” đã trở thành đỉnh cao của công tác tuyển chọn. Ngoài ra
những kinh nghiệm về thuần hóa trâu, bò, ngựa dùng kéo cày, kéo xe cũng đã trở
thành hình tƣợng văn hóa độc đáo của đông đảo các cộng đồng dân tộc Việt
Nam. Đó là những kinh nghiệm trong chọn giống cây trồng mà điển hình là đồng
bào H‟Mông ở Hà Giang thâm canh ngô trên các hốc đá đã chọn đƣợc giống ngô
“chao đèn”, đến mùa ngô chín các bắp ngô gập xuống và các bẹ ngô xoè ra nhƣ
cái chao đèn che cho những hạt ngô không bị ƣớt và có thế đế rất lâu trên nƣơng
mà không sợ thối, mục.
Ở dạng vật liệu: Đó là những loại đá đƣợc tạo hình dùng xây tƣờng nhà và
rất nhiều vật liệu khác dùng để xây dựng nhà ở, kho tàng.
Những kiến thức bản địa là cơ sở để đƣa ra những quyết định về nhiều phƣơng
diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phƣơng nhƣ săn bắn, hái lƣợm, đánh
cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lƣơng thực, nƣớc, sức khoẻ và sự thích nghi với
những thay đổi của môi trƣờng và xã hội. Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống,
những kiến thức không chính thống đƣợc truyền miệng từ đời này sang đời khác và
rất hiếm khi đƣợc ghi chép lại.
Hệ thống kiến thức bản địa cần phải đƣợc duy trì, gìn giữ vì những tƣ tƣởng
phƣơng Tây đang có xu thế thống trị hầu hết những quan điểm về chính sách phát
triển. Tuy nhiên, trên thực tế những cố gắng nhằm giải quyết tình trạng đói,
nghèo cho thấy những dự án hỗ trợ phát triển thƣờng xuyên thất bại. Tồi tệ hơn là
đôi khi chúng gây ảnh hƣởng bất lợi đến sinh kế của ngƣời dân. Giải pháp theo
phƣơng pháp của phƣơng Tây đã đƣợc áp dụng ngay cả trong những trƣờng hợp
mà những kiến thức bản địa có thể giải quyết đƣợc tốt hơn, nhƣng lại không đƣợc
lựa chọn vì một lí do nào đó.
Mặc dù đã chứng tỏ đƣợc giá trị trong nhiều trƣờng hợp, song kiến thức bản
8

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/


Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
đƣợc những vấn đề về đa dạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên. Kiến thức bản
địa cũng đóng góp vào khoa học những hiếu biết sâu sắc về thuần hoá cây trồng,
gây giống, quản lý và giúp các nhà khoa học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc,
thói quen đốt nƣơng làm rẫy, nông nghiệp sinh thái, nông lâm kết hợp, luân canh
cây trồng, quản lý sâu hại, đất đai và nhiều kiến thức khác về khoa học nông
nghiệp. Thêm nữa, các nhà khoa học cũng thƣờng quen với kiến thức bản địa và
ứng dụng vào trong các dự án về hợp tác phát triển và trong nhiều bối cảnh hiện
tại khác.
Nông dân ở các nƣớc đang phát triển có nhiều kiến thức phức tạp về nông
nghiệp và tài nguyên thiên nhiên. Kiến thức đó dựa trên cơ sở hiểu biết sâu sắc
qua nhiều thế hệ bởi tƣơng tác gần gũi của họ với thiên nhiên và môi trƣờng tự
nhiên. Sự khác nhau về điều kiện môi trƣờng từ năm này qua năm khác đòi hỏi
hệ thống canh tác cũng phải linh động để bảo đảm tính bền vững. Hệ thống kiến
thức với các quyết định canh tác phải đảm bảo tính phản hồi và chủ động, trên cơ
sở thử nghiệm bản địa và đổi mới, cũng nhƣ các công nghệ có sẵn, để đƣơng đầu
và thích nghi với những thay đổi (Warren 1992)[28].
Sự quan tâm ngày càng lớn đến kiến thức bản địa đƣợc thể hiện rõ trong
những báo cáo của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ ở nhiều quốc gia. Các
tổ chức này cũng nhƣ các tổ chức quốc tế nhƣ Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức
Lao động Thế giới, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc
(UNESCO) và Tổ chức Nông lƣơng Thế giới (FAO) đều thừa nhận rõ ràng về
những đóng góp của kiến thức bản địa trong phát triển bền vững. Kết quả là một
số chính phủ của các quốc gia nhƣ Uganda, Nam Phi và Philippin cũng thể hiện
sự quan tâm ngày càng lớn đến kiến thức bản địa trong các chính sách và chƣơng
trình của mình.
Chúng ta có thể kết luận rằng những đánh giá về kiến thức bản địa ngày
càng đúng đắn. Kiến thức bản địa đã đƣợc chấp nhận, đƣợc thích nghi và đƣợc
ứng dụng trong điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, sinh thái của địa phƣơng tại

Phân loại lâm sản ngoài gỗ
Có rất nhiều loại lâm sản ngoài gỗ khác nhau đã đƣợc điều tra, phát hiện và
khai thác sử dụng, chính vì vậy việc phân loại chúng là rất cần thiết. Trên thế giới
11

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
tồn tại nhiều cách phân loại LSNG, song chƣa có hệ thống phân loại nào thực sự
hợp lý. Trong cuốn “ Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” của Dự án Hỗ trợ chuyên
ngành lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - Pha II đã phân loại LSNG theo 6 nhóm
tổng hợp dựa vào công dụng và nguồn gốc của các LSNG, tuy nhiên đây cũng chỉ
là cách phân loại mang tính chất tƣơng đối vì công dụng của lâm sản luôn có sự
thay đổi, một số sản phẩm có thể phân vào nhiều nhóm khác nhau tuỳ nơi, tuỳ
lúc, không cố định và biến đổi theo địa phƣơng. Cách phân loại này đƣợc giới
thiệu nhƣ sau:
(1) Sản phẩm cây có sợi: tre nứa, song mây, các loại cây thân lá có sợi
(2) Thực phẩm:
a) Những sản phấm có nguồn gốc thực vật nhƣ: thân, chồi non, rễ, lá, hoa,
quả, hạt, các loại gia vị, hạt có dầu, nấm,… có thể dùng làm thực phẩm.
b) Những sản phẩm có nguồn gốc động vật nhƣ: mật ong, thịt thú rừng, cá,
tổ yến, trứng chim, các loài côn trùng ăn đƣợc.
(3)Dƣợc liệu chất thơm và cây có chất độc.
(4)Những sản phẩm chiết suất nhƣ: các loại nhựa, tanin, chất màu và tinh dầu
(5) Động vật và những sản phẩm từ động vật không dùng làm thực phẩm nhƣ các
loại thú rừng, chim, côn trùng sống, da, sừng, ngà, xƣơng, cánh kiến đỏ
(6) Những sản phẩm khác nhƣ: cây cảnh, lá đế gói,v.v…
1.1.2.2. Khái niệm về tính bền vững
“Bền vững” là sự phát triển để thoả mãn những nhu cầu hiện tại nhƣng
không làm tổn hại tới những khả năng phát triển để thoả mãn những nhu cầu
trong tƣơng lai.
1.1.3. Thực trạng và vai trò LSNG Việt Nam

Việc nối lại thông thƣơng qua biên giới với Trung Quốc đã gây những sức
ép mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên. Giá của nhiều thú hoang đã tăng lên 5
đến 10 lần. Vì nhu cầu của Trung Quốc về các tài nguyên rừng, đặc biệt là thú
rừng và cây thuốc là rất lớn và hầu nhƣ không bao giờ đƣợc thoả mãn, nên các
loài đang bị khai thác một cách không bền vững và triến vọng bảo vệ tính đa
dạng sinh học về lâu dài là không thuận lợi. Về mặt tích cực, các cơ hội để xuất
khẩu hoa quả, sản phẩm gỗ và gia súc vùng cao sang Trung Quốc có thể rất lớn.
13

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
Nếu điều kiện chuyên trở đƣợc cải thiện và sự kiểm soát hành chính bị nơi lỏng,
việc buôn bán qua biên giới có thể trở thành nguồn ảnh hƣởng chính đến tài
nguyên trong vùng.
Trong những năm gần đây việc buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm sinh
vật, các động vật và thực vật, kể cả các loài đƣợc bảo vệ, phát triển rất nhanh
chóng. Vì thiếu kế hoạch hợp lý, hoặc thiếu sự kiểm tra chặt chẽ trong việc khai
thác các tài nguyên rừ ều vùng đã dẫn đến sự quy thoái của rừng nhiệt
đới và nhiều hoạt động thực vật rừng nhƣ: Tê giác, Voi, Khỉ, Vƣợn, Voọc, Pơmu,
Trầm hƣơng, Gõ đỏ ngày càng trở nên rất hiếm. Nhiều loại động vật thông
thƣờng nhƣ Tê tê, các loài Rùa, Rắn, Kỳ đà, Ếch, Ba ba đang đƣợc xuất khẩu một
cách nhộn nhịp sang Thái Lan, Hồng Kông và nhất là Trung Quốc trong thời gian
gần đây là mối đe dọa lớn đối với sự tốn thất về tài nguyên rừng. Giá trị xuất
khẩu các loài nói trên đã thúc đẩy ngƣời dân tìm đủ mọi cách săn bắt chúng ở
khắp mọi nơi.
1.1.3.2. Vai trò của lâm sản ngoài gỗ
- LSNG là một bộ phận quan trọng của rừng nhiệt đới, quan hệ tới sự duy
trì và phát triển hệ sinh thái rừng. Phần lớn cây LSNG nằm dƣới tán rừng, có tác
dụng giảm tác động của nƣớc mƣa xuống mặt đất, ngăn chặn dòng chảy mặt,
chống xói mòn cho đất rừng. Gây trồng LSNG trong rừng là tăng độ che phủ và
nâng cao giá trị phòng hộ của các khu rừng.

+ Cung cấp cây hoa, cây cảnh.
- Giá trị về mặt xã hội: Từ lâu đời việc gây trồng, khai thác, thu hái, chế
biên và tiêu thụ LSNG đã mang lại công ăn việc làm cho hàng chục triệu ngƣời
dân ở các cộng đồng dân cƣ sống trong và ngoài khu vực có rừng. Điều đó đã
góp phần giúp cho họ ổn định cuộc sống, xoá đói giảm nghèo, định canh, định
cƣ, tạo nên các kênh giao lƣu, tiêu thụ lành mạnh thúc đẩy sản xuất, một số
LSNG đƣợc sử dụng trong các lễ hội truyền thống tạo ra các sản phẩm có ý nghĩa
bảo tồn góp phần phát triển đời sống văn hoá, tinh thần, vật chất cho từng cộng
đồng. Theo Jenne de Beer ( IUCN - 2000) [3] ƣớc tính có ít nhất 30 triệu ngƣời ở
Đông Nam Á sống phụ thuộc vào rừng và sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu
về mặt sức khoẻ và dinh dƣỡng. Ngoài ra còn có những ngƣời nhờ vào các sản
15

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
phẩm này để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày hoặc tạo ra thu nhập nhƣ
những ngƣời thợ thủ công và nghệ nhân.
- Giá trị về mặt môi trƣờng, sinh thái: Các loài LSNG tham gia tạo nên cấu
trúc rừng cùng với các loài cây gỗ và thực vật, động vật. Hệ sinh thái ở đây đa
dạng, khép kín và bền vững. Duy trì, bảo vệ và khai thác họp lý (bên vững) tài
nguyên LSNG hoặc tổ chức gây trồng LSNG dƣới tán rừng góp phần bảo vệ tính
đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật, tăng khả năng giữ
nƣớc phòng hộ của rừng, bảo vệ đƣợc hệ sinh thái rừng nói chung. Tuy nhiên,
lâm sản ngoài gỗ cũng nhƣ lâm sản nói chung là đôi tƣợng của sản xuất, cần khai
thác sử dụng, nên việc bao tồn lâm sán ngoài gò không thể giống nhƣ bảo vệ da
dạng sinh học.
1.1.4. Các nghiên cứu có liên quan đến LSNG
1.1.4.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của LSNG, Hội nghị môi trƣờng và phát
triển của Liên hợp quốc (UNCED), họp tại Rio de Janero năm 1992, đã thông
qua Chƣơng trình nghị sự 21 và các nguyên tắc về rừng, đã xác định LSNG là

* Nghiên cứu về phân loại và bả
Công trình “Nghiên cứu về tre trúc” của Munro (1868) đƣợc coi là một
trong những nghiên cứu về tre trúc đầu tiên (dẫn theo Đỗ Văn Bản và cộng sự,
2005) [1],[2]. rong công tác này tác giả đã khái quát đƣợc một cách tổng quan về
họ phụ tre trúc trên thế giới.
Khi nghiên cứu về “Các loại tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tƣơng đôi chi
tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn theo
Đỗ Văn Bản, 2005) [1], [2] có ở các nƣớc Ắn Độ, Pakistan, Miên Điện, Malaysia và
Indonesia.
I.T. Haig, M.A Hubermen và U Aung Din de F.A.D (1963) [10] với công trình
“Rừng tre nứa” đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của tre trúc nứ ộ,
Pakistan liên quan đến thổ nhƣỡng, khí hậu và một số biện pháp xử lý lâm học, tái
sinh, khai thác.
S.Dransfielcl and E.A. Widjaja (1995) [25] đã tiến hành mô tả đặc điểm
hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng,
17

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
có giá trị ở vùng Đông Nam Á.
Nhìn chung, các nghiên cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu
vào các loài LSNG có diện tích phân bố với số lƣợng lớn là Tre trúc, các nghiên
cứu về Song mây và một số cây thuốc, cây lấy dầu nhựa, hầu nhƣ chƣa đƣợc đề
cập đến.
* Nghiên cứu về chọn giố
Zhou Fangchun (2000) [26] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre
trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc.
Vũ Văn Dũng, Lê Huy Cƣờng (1996) [8] cho biết Malaysia bƣớc đầu đã
nghiên cứu tạo giống mây bằng phƣơng pháp nuôi cây mô, đã tiến hành thí
nghiệ ới tán các loại rừng với các mật độ khác nhau.
Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng mây giống phục vụ cho gieo trồng trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status